PHẠM XUÂN HÙNG
Tôi nghĩ chắc hiếm có nhà văn, nhà thơ nào thành danh mà trong sự nghiệp sáng tác lại vắng bóng cây cỏ. Sở dĩ loài thực vật thấp bé như cỏ lại trở thành đối tượng mỹ học là nhờ vào những yếu tính trái ngược, thậm chí phi lý nhưng vẫn tồn tại.
Ảnh của Phạm Bá Thịnh
Nhỏ nhoi, yếu ớt nhưng sức sống thì mãnh liệt (Hoa thường hay héo cỏ thường tươi - Nguyễn Trãi). Gần như vô danh nhưng lại có mặt khắp nơi, chiếm lĩnh không gian mặt đất và cả thời gian (Thời gian như cỏ vượt lên/ Lối mòn như sợi chỉ bền kéo qua - Thanh Thảo, “Chính là cỏ, cỏ mọc khắp nơi, ở nơi nào có đất và nước” - Walt Whitman). Hay như con người, sinh ra ở đâu thì rồi cuối cùng thân xác cũng trở thành cát bụi nằm chơi dưới cỏ (Thưa rằng người đã quên tôi/ Tôi về chơi với ngọn đồi cỏ may - Hoàng Phủ Ngọc Tường)…
Tôi có một tuổi thơ ướp đẫm màu xanh cây cỏ. Làng nghèo thời hậu chiến không có những món đồ chơi như bây giờ. Thành ra cả đám lóc nhóc mũi dãi chỉ biết lấy cây cỏ làm trò vui. Nói thế cũng là nói theo “trường phái lãng mạn” bởi ngoài sự gắn bó bầu bạn với cỏ lại là câu chuyện phải lật đất xới cỏ quanh năm để trồng hái. Cũng bởi đất đai thời hậu chiến là đất hoang hóa, lại chưa có máy móc thay sức người và thuốc diệt cỏ chưa từng xuất hiện.
Cỏ tranh là thứ đằm sâu nhất trong ký ức tuổi thơ tôi. Kỳ thực, đây cũng là loài cỏ sống dai dẳng nhất. Năm đó, sau lưng nhà tôi có đôộng Vang là một quả đồi dày đặc cỏ tranh. Những chỗ đất tốt cỏ tranh xanh mướt cao quá đầu người, những chỗ đất xấu cỏ tranh cằn hơn và ngả sang màu vàng. Nơi đó cũng là vương quốc của gà rừng, chim cút, dế, cào cào, châu chấu… Những buổi trưa hè, chiều hôm rảnh rỗi hay những đêm trăng bầy con nít chúng tôi chọn nơi này đánh trận giả, chơi tích tè nép bắn hoặc nhiều trò ngỗ nghịch khác. Mảnh vườn nhà tôi cỏ tranh cũng mọc nhiều xen lẫn với cỏ ống là hai loài cỏ bất trị nhất. Tôi nhớ lúc còn học cấp I, II, mạ thường dẫn mấy anh em tôi ra làm vườn. Trước hết phải dùng rựa phát sạch phần thân trên của cỏ tranh, sau đó dùng cuốc chỉa lật đất nhặt bằng hết gốc. Rồi tiếp tới phải moi sâu xuống đất, có khi đến nửa mét, nhặt từng mẫu rễ còn sót lại. Tất cả dồn thành đống trên mặt đất, phơi khô. Đợi ngày nắng to thì dùng lửa đốt. Cỏ tranh cũng như cỏ ống, chỉ cần sót lại phần rễ nhõn bằng đốt ngón tay thôi thì mùa sau chỉ cần trộ mưa giông là chúng lại bứt chồi lên. Và nếu để quên chúng vài tháng trời thì từ mẩu rễ nhỏ bằng đầu tăm cũng sẽ biến thành một thảm cỏ xanh ngút ngàn. Cỏ thì bất trị nhưng người thì không thể cho đất ngủ yên. Sau này lớn lên tôi hay hình dung cái đói, cái nghèo của người dân quê tôi như bộ rễ của loài cỏ này, nhặt mấy cũng không hết, chúng tồn tại dai dẳng.
Tiếp theo cỏ tranh là cỏ hổ ngươi, tên gọi khác thì nhiều, như cỏ xấu hổ, cây giả đò, hoa hòe chút là cây mắc cỡ và mỹ miều hơn là cây trinh nữ. Loài cỏ này mọc từng đám, những nơi nào đất tốt chúng mọc lên hoang rậm, thân thảo hóa mộc thành rừng. Loài cỏ này cũng tốn công sức để làm sạch đất, phải chặt phá rồi phơi thật khô trước khi đốt, bởi chỉ cần một bông hoa nhỏ của chúng phát tán thì mùa sau chúng lại sinh sôi theo cấp số nhân. Mỗi lần phá đám giặc cỏ này thì trời ơi, tay chân tướm máu, dọc ngang những vết gai cào xước.
Dù để kiếm miếng ăn, gia đình tôi cũng như làng xóm phải đánh vật, đổ mồ hôi với cỏ nhưng đó chỉ là câu chuyện trên mảnh đất trồng hái của vườn nhà. Ký ức tuổi thơ không chỉ có vậy mà còn nhiều lắm những vân vi với cỏ, vui có buồn có. Chúng tôi thường tụ họp lang thang từ góc vườn nhà này đến góc vườn nhà khác và thế giới cây cỏ chúng tôi lạc vào đó trở thành vương quốc riêng, mỗi loài cỏ như một linh hồn sống sẻ chia. Cỏ chỉ (sách vở gọi cỏ mần trầu) dùng ngoắc vào nhau chơi trò kéo co, cỏ gà bóc tận ruột để nhìn thấy loài sâu nhỏ nhỉnh hơn sợi tóc, cỏ cú mùi thơm hăng hắc dùng chơi trò mua bán thuốc, cỏ muộng chuộng ngắt ra từng đốt bóc vỏ nhai để tận hưởng vị chua thanh.
Có nhiều loại rau nói cho cùng thì cũng là cỏ, chỉ không phải là cỏ dại mà là cỏ con người ăn được, chẳng thế mà người ta hay nói rau cỏ. Tôi nhớ ngày ấy dọc ven những bờ tre, bụi chuối, lỗ chỗ dưới bóng cây lưu niên vườn nhà là các loài rau cỏ tự mọc. Rau dền trắng, dền đỏ non tơ, rau sam mọng nước tím hồng, rau má loằng ngoằng xanh mát mắt, me đất chua dịu dàng năm cánh điểm li ti hoa vàng, rồi nữa những mã đề, ngót, mồng tơi, rau thơm bạc hà, rau quế, ngó lào (nơi khác gọi ngò tây)… Lũ trẻ chúng tôi ngày ấy đứa nào cũng bụng ỏng đít teo vì thiếu ăn nên “vựa rau thiên nhiên” này thực sự là nguồn dinh dưỡng. Chẳng quý giá chi, mỗi đứa lấy ở nhà mình một ít gia vị như muối, vị tin (mỳ chính) sang hơn là góc chén mỡ nước kèm chiếc nồi đồng nhỏ nữa là có nồi canh bốc khói góc vườn, cả bọn vừa ăn vừa hỉ hả. Nói đến rau cỏ tôi nhớ nhất thứ rau mà giờ các bạn trẻ chắc ít người biết: rau tàu bay. Loài thực vật họ Cúc này mọc nhiều ở vùng ruộng rẫy miền trung du, luộc lên thoảng nhẹ vị hăng nhưng cây non luộc lên rồi chấm mắm hoặc thấu (trộn cùng muối ớt giã mịn) lại trở thành món ăn khoái khẩu. Hồi đó, sau mỗi mùa gặt rẫy (lúa tỉa theo phương thức phát đốt chọc tỉa) loài rau tàu bay mọc lên từng cụm non mềm, nhiều vô kể. Nhà nào nhà nấy, trẻ em cũng như người lớn đi làm về đều có đùm rau tàu bay treo trên đầu rựa, đầu cuốc. Ăn nhiều nên ngán, đến mức cảm giác như trong người bọn trẻ chúng tôi thoang thoảng mùi hăng mà người lớn hay đùa mùi xăng tàu bay. Viết đến đây chợt nhớ thi sĩ thần đồng Trần Đăng Khoa, không biết thời áo lính ông ăn rau tàu bay nhiều ít mà viết câu thơ: Anh đã sống những tháng năm hào hứng/ Ăn rau tàu bay, hát vỗ nhịp vào báng súng…
Bây giờ tuổi trung niên ngồi nhớ lại chuyện cỏ thì đúng là nhiều như… cỏ. Riêng góc vườn quê thôi thời ấu thơ như đã hóa thân vào cỏ. Cỏ cứt lợn màu hoa tím nhạt long lanh sau những cơn mưa, cỏ gà (cỏ chỉ) níu thân vào đất mùa gió lào khắc nghiệt, cỏ lồng đèn (nơi khác gọi tầm bóp) với những chiến lồng tí hon chứa sắc lửa xanh, cây nút áo có hạt chín tím đen như trái mùng tơi ngọt the đầu lưỡi, cỏ may dính đầy quần không gỡ nổi phải lấy lược chải.
Tôi nhớ đọc đâu đó có những điểm du lịch nổi tiếng thế giới nhờ cỏ. Như loài cỏ bạc người Nhật gọi là susuki (cỏ lau bông bạc) đặc trưng mùa thu xứ này. Nghe nói ở Kansai vùng cao nguyên Tonomine có đồng cỏ bạc rộng cả trăm héc ta từng được dùng làm bối cảnh cho phim điện ảnh nổi tiếng Rừng Na Uy. Nơi này, mỗi năm có hàng vạn người đến vui chơi, ngắm cỏ. Cỏ quê tôi và trong ký ức tôi không được vinh diễm đó, chúng chỉ là người bạn tuổi thơ, êm đềm và nhọc nhằn, vui tươi lẫn đắng đót.
Đôi lần về quê ngồi với cỏ chợt như Trang Tử không biết mình là cỏ hay cỏ là mình. Lại chợt nhớ năm nao, Trung niên thi sĩ Bùi Giáng viết về ngôi làng quê Quảng Nam từng có cảm giác: “Làng tôi xưa có nhiều cỏ mọc. Cỏ mọc trong làng ra ngoài ruộng, tới những cồn gò, đồi núi thật xanh. Tôi lớn lên giữa linh hồn cỏ mọc…”.
Linh hồn của cỏ?
Trịnh Công Sơn có ca khúc “Cỏ xót xa đưa”, hát lên nghe như hoài niệm về đời sống đã qua, với con người và hoa cỏ, thấm đẫm buồn vui. Buồn xót xa đã đành, vui cũng xót xa vì không dễ gì tìm lại được. Tất cả rồi cũng trôi đi, đời người ngắn ngủi lắm. Riêng cỏ vĩnh hằng trên mặt đất. Mà thân xác đây cũng chỉ tạm bợ trên cõi trần gian. Nên có mơ thì mơ linh hồn hóa thân vào cỏ, để trong khuất lấp dằng dặc thời gian sẽ có một ngọn linh thảo thao thức chờ đợi tái sinh. Như Chế Lan Viên - một người đồng hương ở miền cỏ thơ ấu của tôi đã viết: Những bạn bè yêu anh sẽ gặp anh trong cỏ/ Trong hạt sương, trong đá… Trong những gì không phải anh/ Anh tồn tại mãi/ Không bằng tuổi tên mà như tro bụi/ Như ngọn cỏ tàn đến tiết lại trồi lên (Từ thế chi ca).
P.X.H
(SHSDB40/03-2021)
Tải mã QRCode
ĐOÀN MINH TUẤN Tùy bútĐã từ lâu lắm, nhiều mùa xuân đã qua, nhà văn Đoàn Giỏi có cho tôi mượn cuốn sách rất hay viết về "chó và mèo trên thế giới" của hai tác giả người Pháp Marlyse et Frange.
NGUYỄN QUANG HÀHầu như mỗi chúng ta chỉ biết Mai Xuân Hòa là nhạc sĩ. Anh đã ra mắt hai tập nhạc viết cho người lớn: "Nỗi đợi chờ", "Khát vọng",và hai tập cho thiếu nhi: " Những điều em thích", " Những ngôi sao đẹp".
PHAN THỊ THU QUỲ(Hưởng ứng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”)
LÊ KHAI Bút kýAnh đưa tôi một tờ giấy cuộn tròn và nói: Tuần qua tôi đi tìm mộ liệt sĩ ở Truồi (huyện Phú Lộc). Tìm một mộ mà phát hiện ra tám mộ. Buồn! Tôi làm bài thơ. Anh xem và chữa giúp. Cả đời tôi chưa quen làm thơ. Anh chào tôi rồi vội vã về vì đang có việc cần.
HÀ KHÁNH LINH Trích Hồi ký… Mùa xuân 1967, địch tăng cường đánh phá suốt ngày đêm, ngày một ác liệt hơn. Các trạm khách dọc tuyến đường 559 không ngày nào không bị đánh trúng hoặc B52 hoặc bom tọa độ, hoặc pháo tầm xa. Ngày nào cũng có thương vong. Có những đơn vị trên đường hành quân vào Nam chưa đến địa điểm tập kết đã bị đánh tơi tả, chỉ còn sót lại vài người. Các cơ quan đơn vị đóng chung quanh khu vực phần nhiều đã bị đánh trúng.
TUỆ GIẢI NGUYỄN MẠNH QUÝ Tạp bútNhư nhân duyên, như định mệnh, cuộc đời tôi như thu hết vào trong một chung trà. Tuổi thơ đã qua, bây giờ và sẽ mãi mãi, cuộc đời tôi luôn vương vấn một hương trà. Tôi thường hay nói đùa cùng bằng hữu rằng sinh ra và lớn lên được ướp trong hương trà, tôi cũng chỉ mơ một ngày về thiên cổ được vẫy tiễn linh hồn bằng một chén trà ngon, được chôn theo cùng là một bộ ấm trà quý nhất và được vẫn cùng người “hồng nhan tri kỷ” đồng ẩm tương phùng ở thế giới bên kia!!!
TRẦN KIM HỒĐảo Cồn Cỏ là vọng gác tiền tiêu, là con mắt của Vĩnh Linh - khu Vĩnh Linh là tiền đồn của miền Bắc XHCN, là hậu phương trực tiếp của tiền tuyến lớn miền Nam; do đó đảo Cồn Cỏ có vị trí vô cùng quan trọng, mặc dù diện tích chỉ có 4km2. Mât Cồn Cỏ, miền Bắc XHCN trực tiếp bị uy hiếp, nhất là vào lúc nguỵ quyền Ngô Đình Diệm không ngớt hô hào lấp sông Bến Hải, Bắc tiến; đế quốc Mỹ từng trắng trợn tuyên bố biên giới Hoa kỳ kéo dài đến vĩ tuyến 17.
PHẠM NGUYÊN TƯỜNGHai cái máy lạnh hai cục trong căn phòng 40m2 của nhà hàng Hoa Chuối cộng với cả trận mưa chiều đột ngột tầm tã không làm dịu được sức nóng từ tấm thịnh tình của gần 50 cộng tác viên thân thuộc của tạp chí Sông Hương tại thủ đô Hà Nội.
TÔ VĨNH HÀTrong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, 60 năm qua là một chặng đường đặc biệt. Chưa bao giờ dân tộc ta phải đương đầu với nhiều thử thách đến như thế, phải chiến đấu và chiến thắng nhiều kẻ thù đến như thế. Pháp rồi Nhật, Tưởng và Anh; hết Mỹ đến Khơmer “đỏ”... Kẻ thù và đau khổ nhiều đến mức tưởng chừng như đất nước Việt Nam được tạo hoá sinh ra là để cho các loại kẻ thù nhòm ngó, tìm mọi cách thôn tính.
NGÔ MINHTừ tháng 7-1954, Hiệp định Giơnevơ ký kết cho đến cuối năm 1964 đôi bờ giới tuyến Hiền Lương lặng im tiếng súng, nhưng đây là 11 năm diễn ra cuộc đối đầu văn hóa nóng bỏng, quyết liệt nhất giữa ta và địch.
PHAN THỊ THU QUỲ Trên bờ Hương Giang êm đềm, có ngôi nhà nhỏ tôi được sinh ra ở đó. Hằng ngày tung tăng cắp sách đến trường Đồng Khánh, tôi cũng nhảy nhót trên bờ Hương Giang. Lớn lên tôi hoạt động nội thành thường đến hò hẹn bên cây phượng vỹ trước cửa Thượng Tứ, nơi đó là địa điểm giao nhận những “gói nhỏ”, để nhận công việc và để nhớ mật hiệu. Cho nên trên bờ Hương Giang tôi đã ngắm dòng sông thơ mộng với tôi gắn bó biết bao từ tuổi ấu thơ cho đến bước vào đời.
NGUYỄN VĂN VINH Bút ký Thôn Hiền An, xã Vinh Hiền là một thẻo đất cát bạch sa cuối phá Tam Giang phía Bắc vào. Như một ốc đảo ba bề, bốn bên là nước, nếu không có đường 49B chạy dọc phá đến cùng đường, tận biển. Và mỗi ngày, hai chuyến xe đò chở khách cùng mấy chục chuyến đò ngang phá qua lại Lộc Bình đem chút xôn xao thị tứ, phố chợ về với thôn, xã thì Hiền An càng xa xôi heo hút.
TRẦN HOÀI Ghi chépThung lũng A Lưới chạy dài theo hướng Bắc Nam đến vài chục km. Đó là một thung lũng đẹp, là một vị trí quân sự chiến lược, là nơi giao tranh ác liệt giữa ta và địch trong cuộc kháng chiến vừa qua...
LÊ BÁ ĐẢNGBạn của tôi rất nhiều. Năm ba bạn mà tôi nhắc nhở ra đây phần nhiều là bác sĩ, kỹ sư, giáo sư còn nghệ sĩ thì chất cả đống.
NGUYỄN THẾ QUANGMùa hạ, trời Bát Tam Boong trong xanh. Những hàng cây thốt nốt lặng lẽ kiêu hãnh xòa những tán lá xanh che mát cả khu đồi. Trong căn nhà của sở chỉ huy Sư 179 quân đội Cămpuchia, trung tá Nguyễn Văn Du chuyên gia của bộ đội Việt Nam cởi thắt lưng ra treo khẩu K54 lên vách. Anh vui mừng trước khả năng chiến đấu ngày càng tốt của quân đội bạn. Trận đánh trả lực lượng quân đội Thái Lan bảo vệ sáu nghìn dân tị nạn ở chòm Rumthumây diễn ra nhanh chóng.
TỐ HỮU Trích chương V, hồi ký Nhớ lại một thời
VÕ MẠNH LẬP Ghi chépTrong những ngày tháng ba, hai lẻ sáu trời Hà Nội đẹp và dễ chịu. Cái nắng vàng phủ tràn thành phố, tôn màu của cây thêm xanh biếc, ngói trên các mái nhà như thắm thêm lên, đường phố đi lại thanh thoát và đặc biệt có chút se lạnh vào sáng sớm như sợi tơ vương của hơi thở cuối mùa đông còn lưu sót lại.
NGUYỄN QUANG HÀ Bút kýMã Yên là tên trên bản đồ của một ngọn núi, còn dân địa phương thì gọi đó là núi Yên Ngựa. Núi Yên Ngựa là một trong những ngọn núi ngoài cùng về phía Đông của dãy Trường Sơn.
NGUYỄN QUANG HÀ Bút kýNắng chiều vàng trải dài trên những hàng bia trắng như mơ, như kỳ ảo. Đi trong nghĩa trang tôi có cảm giác mình như đang ngỡ ngàng, có cái gì đó nghèn nghẹn nơi cổ khi hàng hàng những bia trắng dài kia không có một nét mực ghi tên. Đó là những tấm bia vô danh.
NGUYỄN TRI TÂMNgười kể chuyện phải lục tìm những tấm ảnh lưu niệm để nhớ chính xác hơn. Sau tấm ảnh đen trắng cỡ 18x24, tướng Hoàng Văn Thái kí tên và ghi rõ “Thân tặng đồng chí trung tá Lương Văn Chính, người chiến sĩ Điện Biên năm xưa, huyện đội trưởng huyện đội Điện Biên. Kỉ niệm ngày lên thăm Điện Biên 3-4-1984”.