Chuyện thầy Hà Nhật làm thơ

14:57 26/11/2012

NGÔ MINH

Tôi gọi là “thầy” vì thầy Lương Duy Cán (Hà Nhật) dạy văn tôi hồi nhỏ học cấp 3 ở trường huyện. Tôi viết Chuyện thầy Hà Nhật làm thơ vì thầy vừa ra mắt tập thơ đầu tay Đá sỏi trên đường(*) khi thầy đã U80.

Thầy Hà Nhật - Bùi Xuân Phái ký họa

Thầy là một thi sĩ từ trong máu thịt, thi sĩ từ lúc trẻ cho đến bây giờ, nhưng lại không có tên trong danh sách Hội Nhà văn. Đó là một điều lạ, trong lúc rất nhiều người thơ phú làng nhang, thậm chí vớ vẩn, vẫn chạy chọt để vào Hội. Hà Nhật là một nhà thơ có tiếng từ những năm 60 của thế kỷ XX, sao lại chỉ có 51 bài thơ trong Đá sỏi trên đường? Câu chuyện dài lắm, nó như là một phong cách thi sĩ.

 Tôi thấy thầy Hà Nhật suốt thời trai trẻ luôn lãng đãng thơ, lãng đãng em. Làm xong bài thơ, đọc bên chiếu rượu rồi tặng người đẹp là coi như mãn nguyện, không hề biết lưu giữ để in thành tập, để xin vào hội này hội khác... Nhưng nhắc đến thơ Hà Nhật, trăm nhà thơ có tên tuổi đều yêu mến, nể trọng. Bởi thơ Hà Nhật vừa đam mê nồng cháy, vừa trí tuệ. Quê cũ nghèo không lúa không khoai/ Chỉ có trời xanh và muối mặn (Muối). Gặp nhau bây giờ/ Táo trong vườn rụng hết/ Thôi đừng nhắc nữa/ Cho lòng đau/ Nghe em (Táo). Tình anh như muối kia/ Mặn mòi và lặng lẽ/ Muối trăm đời vẫn thế/ Tình anh không có màu (Tình muối). Năm 2007, viết ở đến thờ An Dương Vương ở Nghệ An trong chuyện ra thăm lại nơi mình từng dạy học xưa, Hà Nhật vẫn giữ được sự chất chứa ấy: Đền Cuông - cuông bay hết/ Về chi nữa em ơi/ Cha già còn ngoảnh mặt/ Mong gì đời sửa sai! (Đền Cuông)… Hay: Anh bơ vơ giữa cuộc đời phù du/ Chỉ có em thôi/ Chỉ có em là thật... (Bão số 2, 2007).

Thầy Hà Nhật được gia đình ở Bảo Ninh (Đồng Hới) gửi vào Huế học trường Khải Định (trường Quốc Học bây giờ) từ năm 1953. Hồi ấy mới mười bảy tuổi đã yêu, đã thơ “có nghề” lắm: Trên đồi sim/... Chiều tàn lịm/ Tàn cả trong tim/...Tiếc tình xưa tan vỡ/ Như những cánh sim bay (Trên đồi sim). Sau Hiệp định Genève, Hà Nhật phải rời trường Khải Định, ra Hà Nội học tiếp Đệ nhị và đỗ tú tài toán năm 1956. Học giỏi toán nhưng lại xin thi vào sư phạm văn. Hồi sinh viên học Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nhật thường chơi thân với các nhà thơ, nhà văn cùng trang lứa như Phùng Quán, Nguyễn Bùi Vợi, Vân Long, Băng Sơn, Thúc Hà… lại bù khú rượu thơ bên các người đẹp, ngất ngư năm tháng. Yêu rồi, tặng thơ cho “nàng: rồi thì thấy cái gì cũng đẹp, cũng gần gũi:

Sao lại yêu cả tên đường phố
Thấy cuộc đời ai ai cũng vui
Không biết vì sao vô cớ mỉm cười
Nói chuyện với cả cầu thang gác

                               (Khắp nơi)

Nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi vẫn thường nhắc đến anh bạn thơ Hà Nhật dân Quảng Bình gầy đen, nhưng thông minh, nhạy cảm và đa tình. Nguyễn Bùi Vợi kể: “Chúng tôi dại dột rủ nhau in chung một tập thơ tình ở một nhà xuất bản tư nhân có tên là “Tre Xanh” do ông Nguyễn Hoàng Quân chủ trương. Tập thơ mỏng dính, gần hai chục bài. Nâng niu tập thơ trên tay, tôi mừng khôn xiết nhưng sau đó cảm giác xấu hổ không xóa đi được vì thấy thơ bạn tài hoa, bay bướm hơn thơ mình, mình không đáng đứng cạnh”... Nguyễn Bùi Vợi là một nhà thơ có tiếng, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ đời tám hoánh, mà nói về người bạn thơ “tỉnh lẻ” của mình, chẳng hội viên hội viếc gì như thế là chân thật và đáng trân trọng.

Từ năm 1956, khi mới chưa đầy 20 tuổi, Hà Nhật đã có những bài thơ “Đợi đò”, “Mưa Huế” rất sắc sảo. Trong bài “Mưa Huế”, hình bóng những cô gái Huế rất đẹp: Dáng gầy như cỏ cây quê mẹ/ Giếng tình thăm thẳm mắt không vơi…”. Hà Nhật còn hăng hái làm thơ gửi đăng báo Đất Mới, một kiểu báo Nhân văn của sinh viên thời ấy. Rồi hay la cà gần gũi với lớp đàn anh như Nguyễn Bính, Trần Dần, Lê Đạt, Quang Dũng, Nguyễn Đình, Trinh Đường và cả Bùi Xuân Phái nữa… Nên khi vụ Nhân văn - Giai phẩm xảy ra, tuy không “dính”, nhưng sinh viên Lương Duy Cán cũng bị ghi vào sổ đen. Vì thế năm 1959, tốt nghiệp Khoa Văn Đại học Sư phạm vào loại giỏi thời đó là hiếm lắm, oách lắm, nhưng Hà Nhật không được dạy cấp 3, bị “phát vãng” về dạy cấp 2 ở Diễn Châu, Nghệ An ba năm liền.

Sinh thời, nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi có lần kể cho tôi, hai nhà thơ Vương Trọng và Hoàng Cát nghe một chuyện vui cười ra nước mắt. Thời dạy học ở Diễn Châu, có lần nhớ ngày mất của Nguyễn Du, Hà Nhật cùng với một thầy giáo dạy văn cao to cùng trường đêm hôm tổ chức “tưởng niệm Nguyễn Du” ngay trong phòng ở của mình. Hai người thắp hương, đốt nến khấn rồi thay nhau nói về tính nhân văn trong thơ Nguyễn Du. Hai thầy giáo say mê không biết ở ngoài cửa có người rình. Nghe xong anh chàng hốt hoảng đến ngay nhà ông lãnh đạo địa phương tố cáo là có hai người đêm hôm ca ngợi “nhân văn - giai phẩm”. Cái người gầy còm (tức Hà Nhật) nói tới 18 lần “nhân văn”, còn người cao lớn nói 11 lần. Hồi ấy, cụm từ “nhân văn - giai phẩm” đồng nghĩa với “phản động”. Mà dân quê thì không phân biệt được từ “nhân văn” sang trọng ấy với vụ “nhân văn - giai phẩm”! Từ đó Hà Nhật bị “ghi vào sổ đen”. Hà Nhật có yêu một cô giáo quê ở Nghĩa Đàn, miền Tây Nghệ An, cách Diễn Châu khoảng 80 cây số, nhưng khi gia đình nghe nói thầy giáo này có dính tới nhân văn - giai phẩm thì gia đình kiên quyết không gả. Chính người con gái ấy và mối tình bị từ chối đã “cho” Hà Nhật bài thơ tình nổi tiếng “Bài thơ tình của người thủy thủ”.

Thầy kể rằng, hồi năm 1962, vì buồn tình, nhân mấy ngày nghỉ, có mấy người ngư dân ở quê Bảo Ninh ra Nghệ An đi buôn bán bằng thuyền biển rủ thầy về quê bằng thuyền với họ. Từ Nghệ An vào Đồng Hới đi đường bộ thời đó cũng chỉ ngày rưỡi. Nhưng tính thầy thích ngao du, chuộng lạ. Thế là thầy liều lênh đênh trên biển với ngư dân ba ngày ba đêm ròng. Say sóng ngất ngưỡng, nôn ra mật xanh mật vàng. Nhưng đổi lại thầy làm được Hai bài thơ tình của người thủy thủ rất hay, rất “độc”:

Em hỏi tôi nước biển màu gì?
Tôi người thủy thủ từng lênh đênh năm tháng
Tôi sẽ nói cùng em
Nước biển dịu dàng, bí mật và cuồng nộ
Cũng như màu đôi mắt của em


Đoạn trích trên ở bài 1. Bài 2 của “Bài thơ tình của người thủy thủ” sâu hơn, hồi đó dân yêu thơ Quảng Bình ai cũng thuộc:

Nếu ở cuối trời có đảo chân trâu
Hay ở đảo xa có nụ hoa thần tìm ra hạnh phúc
Hay có người gái đẹp
Môi hồng như san hô
Cũng không thể khiến anh xa được em yêu

Nhưng hỡi em
Nếu có người trai chưa từng qua bão tố
Chưa từng qua thử thách gian lao
Lẽ nào có thể xứng với tình em?


Khi làm xong thơ, thầy sợ không ký tên Hà Nhật mà ký tên là Mai Liêm, gửi báo Hà Nội, lấy địa chỉ liên lạc của một người chị bà con bên mẹ là chị Chiến đang học ở trường cấp 3 Đồng Hới (sau này thành vợ nhà thơ Hải Bằng). Khi báo đăng bài thơ, nhạc sĩ Hoàng Vân đọc được, cảm và phổ nhạc, nhưng không đề “phổ thơ Mai Liêm”. Bài hát “Tình ca người thủy thủ” lập tức được công chúng thanh niên cả nước đón nhận nồng nhiệt. Đến hôm nay, trên radio, tivi, nhiều ca sĩ vẫn hát “Tình ca người thủy thủ”… Cái bút danh Mai Liêm ấy thầy còn ký ở rất nhiều bài thơ khác. Những năm 1960 ấy, hàng loạt các tác phẩm văn học đầy chất sống, cuốn hút người đọc đã bị các nhà phê bình văn học “đánh” kịch liệt và xếp vào tội “xét lại” như các tiểu thuyết Mùa hoa dẻ của Văn Linh, Nhãn đầu mùa của Xuân Tùng - Văn Thanh, Mở hầm của Nguyễn Dậu v.v. Bài thơ, bài hát “Tình ca người thủy thủ” cũng bị phê phán là “lãng mạn tiểu tư sản”, “xét lại”. Họ chất vấn “Đi tìm gì, tìm ai ngoài khơi xa kia?”. Những ngày tháng đó, Hà Nhật cảm thấy cô đơn da diết. Tôi có một câu thơ chết đuối dưới dòng sông/ Tôi lãng quên suốt một thời trai trẻ (Nói với dòng sông). Có lẽ vì thế là người ta không để thầy dạy học ở Đồng Hới mà bắt lên dạy ở Lệ Thủy.

*

Năm 1964, thầy Hà Nhật về dạy ở cấp 3 Lệ Thủy, cũng là năm chúng tôi là Lâm Thị Mỹ Dạ, Ngô Minh, Hải Kỳ, Đỗ Hoàng, Lê Đình Ty... vào học cấp 3. Thầy Hà Nhật và thầy giáo trẻ Phan Ngọc Thu đã truyền cho lớp chúng tôi một không khí yêu thơ, làm thơ rừng rực từ đấy. Những tiết học đầu tiên của năm lớp 8, học sơ tán dưới nhà hầm chiến tranh nửa chìm nửa nổi ở thôn Đông Liễu, xã Liên Thủy ấy, chúng tôi đã nghe thầy đọc những bài thơ tình nồng cháy của mình. Đứa nào cũng chép đầy sổ tay. Rồi thầy dạy cho chúng tôi bài hát Hoàng Vân phổ thơ thầy, dù lúc đó bài hát bị cấm phổ biến. Hồi đó cả lớp tôi làm thơ, có hẳn một tờ báo tường tên là Văn Nghệ của nhóm sáng tác, bên cạnh tờ báo tường của Chi đoàn lớp. Thầy Hà Nhật sáng nào đến lớp dạy cũng lật xem những sáng tác mới của học trò. Bây giờ thầy 77 tuổi, trò đứa nào cũng 64, 66 cả rồi, mà gặp nhau thầy trò cứ thơ phú suốt đêm.

Những năm 60 của thế kỷ trước, thơ không vần ở nước ta mới chỉ là những sáng tác thể nghiệm của một vài tác giả. Ngay ở Hà Nội, nhà thơ lớn Nguyễn Đình Thi làm thơ không vần cũng bị phản đối quyết liệt. Thậm chí, Hoàng Cầm trong hồi ức “Nguyễn Đình Thi trong tôi - Nguyễn Đình Thi ngoài tôi” đã viết: “Anh Thi đến nhà xuất bản Văn nghệ đưa cho tôi đọc tập thơ Người chiến sĩ..., và anh Thi yêu cầu tôi cho ấn hành ngay, càng sớm càng tốt. Tôi đọc xong, rất thú vị vì vẫn còn nguyên những bài thơ thể tự do. Bấy giờ (1956) mà in được những bài thơ cách tân ấy thì thật có lợi cho phong trào thơ...”. Nhưng sau đó do sức ép của “cấp trên”, nhà văn Nguyễn Đình Thi phải xin lại bản thảo, sửa chữa tập thơ Người chiến sĩ  thành những bài thơ theo vần truyền thống, thật tiếc!

Còn ở các tỉnh lẻ được xem là vương quốc của bảo thủ trong thơ. Những năm 1958 - 1975, nhà thơ Xuân Hoàng phụ trách Hội Văn nghệ Quảng Bình, ai muốn in thơ phải viết có vần mới được in tạp chí của Hội. Ấy thế mà những bài thơ không vần của Hà Nhật viết ở Đồng Hới, nơi “tỉnh lẻ của tỉnh lẻ” lại nhuần nhuyễn, lung linh như những viên ngọc, ai cũng thích. Mới hay, thơ phải từ trái tim đến với trái tim. Miền quê nghèo khó đầy gió cát Quảng Bình đã sinh ra những nhà thơ trứ danh Thơ Mới, cả hiện đại và siêu thực như Hàn Mạc Tử, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Xuân Sanh... từng một thời đi tiên phong trong làng thơ Việt Nam.

 Thầy Cán dạy văn giỏi (ở Đồng Hới thời đó có câu ngạn ngữ: Văn Cán - Toán Trình, tức tức muốn văn giỏi phải học với thấy Lương Duy Cán, muốn giỏi toán phải học với thấy Đoàn Trình) và làm thơ hay nên rất nhiều thế hệ học sinh thuộc thơ thầy. Thơ Hà Nhật khảm vào trí nhớ độc giả bao thế hệ. Có người thuộc mấy bài, một bài, có người chỉ thuộc một khổ thơ hay ý thơ. Họ ngồi với thầy bên chén rượu, đọc lên, rồi chắp nối lại từ trí nhớ, thành bài thơ hoàn chỉnh. Nhờ đó mà từ năm 2007 đến 2009 thầy đã ra Huế, Đồng Hới, Nghệ An “sưu tầm” lại được mấy chục bài thơ đã thất lạc để in tập thơ kỷ niệm cuộc thơ đời mình Đá sỏi trên đường. Hàng trăm bài thơ thầy không tìm lại được, vẫn ở trong trí nhớ của người đời. Có lẽ rất ít nhà thơ “có bảng hiệu” ở nước ta có được cái ân huệ “sưu tầm thơ mình trong công chúng” như Hà Nhật. Đó chính là sức sống lâu bền của thơ và nhà thơ trong trời đất!

Thơ Hà Nhật bị thất tán nhiều cũng do thi sĩ rất thích xê dịch, tính lãng tử. Ai rủ đi là đi ngay. Đi thâu đêm thâu ngày. Có chén rượu, có người đẹp thì đọc thơ suốt đêm. Năm 1972, một nửa Quảng Trị được giải phóng, Hà Nhật đạp xe ngay vào Đông Hà, rồi cùng ông bạn thơ đồng niên Hoàng Phủ Ngọc Tường ngao du mấy ngày đêm miên man trên đất Quảng Trị còn nóng bỏng lửa bom. Bởi thế, gặp lại Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hà Nhật đã có thơ tặng bạn rưng rưng: Hãy cạn ly đi Tường ơi/ Không uống được vào môi/ Thì nhấp bằng mắt vậy/ Để ta nhớ một thời sôi nổi/ Ngang dọc hai ta một dải đất gió Lào (Uống rượu với Tường).

Sau 30/4/1975, máu lãng du lại thôi thúc Hà Nhật tìm về phương Nam. Chuyến “Hành phương Nam” ấy thầy về dạy học ở Phan Rang, Phan Thiết một thời gian, gặp chị Thanh Phương mới neo đậu lòng mình, rồi vào Sài Gòn làm giảng viên Trường Cao đẳng Sư phạm. Dạy học, nhưng thầy luôn gắn với thơ. Thầy viết sách bình giảng thơ cho nhà xuất bản, bình thơ cho chương trình văn nghệ của Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh...

Chuyện Hà Nhật làm thơ thời đó đã lây nhiễm sang một thế hệ đàn em như Hoàng Vũ Thuật, Lâm Mỹ Dạ, Hải Kỳ, Mai Văn Hoan, Lê Đình Ty, Trần Nhật Thu,... Cách sinh hoạt thơ của các nhà thơ này cũng giống thầy Hà Nhật. Có người đẹp là rủ nhau mang rượu đến đọc thơ suốt đêm. Người đẹp là cái cớ để giải bày tâm trạng. Có người đẹp là thức suốt đêm làm thơ để tặng. Làm bài này đến bài khác, có khi cả năm ròng. Tặng xong thơ yêu là sung sướng, chẳng cần in ấn ở đâu cả. Nếp sinh hoạt đó luôn tạo ra một không khí thơ sôi nổi, dào dạt của cái tôi trữ tình chân chất.

N.M 
(SH285/11-12)


--------
(*) Đá sỏi trên đường, thơ Hà Nhật, Nxb Hội Nhà văn, 12/2011.









 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN THỊ ANH ĐÀO        (Đọc tập thơ ''Độc thoại trước mặt trời'' của Trần Lan Vinh- NXB Văn học Hà Nội- 2003)Trên thi đàn văn học Việt Nam hiện đại, sự thiếu vắng những cây bút nữ đã trở thành một vấn đề cần được chú trọng. Hầu như mỗi khi phụ nữ cầm bút, điều họ quan tâm nhất đó là sự giải bày tâm sự với ngàn ngàn nỗi niềm trắc ẩn. Nếu viết là một cách để sẻ chia tâm sự thì Trần Lan Vinh là một trường hợp như thế.

  • NGUYỄN THANH TÚMùa đông năm ngoái, anh Đoàn Tuấn từ Hà Nội vào Huế giảng dạy lớp đạo diễn điện ảnh. Dù công việc khá bận rộn nhưng anh vẫn dành cho tôi không ít thời gian tâm sự, bởi ngoài tình cảm thân thiết anh còn là cấp trên của tôi ở toà soạn tạp chí Thế Giới Điện Ảnh. Trong những lần trò chuyện ấy, tôi thật sự bất ngờ khi nghe anh kể chuyện về cuốn sách anh sắp in ở Nhà xuất bản Trẻ mà nội dung của nó là câu hỏi hơn 20 năm nay vẫn luôn canh cánh trong tôi. Vốn dĩ Đoàn Tuấn là nhà biên kịch điện ảnh tên tuổi, anh đã có nhiều kịch bản phim nổi tiếng như: Chiếc chìa khoá vàng (1998), Ngõ đàn bà (1992), Đường thư (2003)...

  • MAI VĂN HOANNguyễn Khoa Điềm đến với thơ hơi muộn nhưng đã sớm định hình một phong cách riêng. Qua các tập Đất ngoại ô (1972), Mặt đường khát vọng (trường ca, 1974), Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (1986), Thơ Nguyễn Khoa Điềm (1990), Cõi lặng (2007) ta bắt gặp những suy ngẫm của anh đối với nhân dân, đất nước; những chiêm nghiệm của anh về đời sống xã hội, nhân tình thế thái. Những chiêm nghiệm và suy ngẫm đó được thể hiện bằng một giọng thơ trầm tĩnh, bình dị, sâu lắng và khá hiện đại.

  • NGUYỄN QUANG HÀ       (Đọc Nỗi niềm để ngỏ của Lê Lâm Ứng - Nhà xuất bản Văn học 2002)Đọc thơ Lê Lâm Ứng để tìm những câu mượt mà thì hơi khó. Thảng hoặc lắm mới bắt gặp ở anh tâm trạng thư thái này:                Biết rằng trong cõi nhớ thương                Lạc nhau âu cũng lẽ thường vậy thôi

  • MAI VĂN HOANNguyễn Đắc Xuân không chỉ có chân trong Hội Nhà văn Việt Nam mà anh còn là hội viên Hội Lịch sử Việt Nam, hội viên Hội Nhà báo Việt Nam... Nhưng dù ở cương vị nào thì điều mà anh tâm huyết nhất vẫn là lịch sử và văn hóa Huế.

  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG   (Nhân đọc sách "Gió về Tùng Môn Trang" của Nguyễn Xuân Dũng)Tác giả cuốn sách này là một võ sư đệ bát đẳng huyền đai thuộc phái không thủ đạo, vừa là một nhà hoạt động thương trường nổi tiếng ở Mỹ. Nhưng cuốn sách này không hề bàn đến chuyện đấm đá hơn kém hoặc là chuyện mua bán lời lỗ mà bàn về cái TÂM. Tác giả tỏ ra hết sức chú trọng vũ đạo; nhất cử nhất động đều phải xuất phát từ cái TÂM, cái TÂM viết hoa.

  • TRẦN THUỲ MAI            (Đọc Uẩn khúc, tiểu thuyết của Hoàng Văn Bàng, NXB Thuận Hoá 2002)Câu chuyện xảy ra ở một vùng quê không xa lắm, với một tầm mức tai hại không lớn, gây một ảnh hưởng mới xem qua tưởng chừng không đáng kể. Một ông trưởng phòng ở huyện tham ô vài chục triệu thì đã thấm gì so với những câu chuyện động trời hàng ngày trên các báo, mà thủ phạm mang những chức tước lớn lao hơn, với những số tiền khổng lồ tới hàng nghìn tỉ!

  • MAI VĂN HOAN         (Giới thiệu các tác giả thuộc chi hội nhà văn Việt Nam tại Huế)Ngô Minh là một trong những nhà văn Việt Nam ở Huế được Đài truyền hình Cáp Việt Nam chọn giới thiệu tới 45 phút trong chương trình “Người của công chúng”. Tôi cũng được mời nói đôi lời về anh. Với tôi, Ngô Minh là người làm việc “tới số” và chơi cũng... “tới số”!

  • PHẠM XUÂN NGUYÊNCùng một kiếp bên trời lận đận                  (Bạch Cư Dị - Tỳ bà hành)Nhà văn Bùi Ngọc Tấn vừa cho ra mắt tác phẩm Rừng xưa xanh lá (Mười chân dung văn nghệ sĩ) tại Nhà xuất bản Hải Phòng (1/2003).

  • TÔ VĨNH HÀNhững trang viết sau cùng của một con người luôn luôn là điều thiêng liêng và không bao giờ hết bí ẩn. Vì sao lại dùng từ ấy chứ không phải là chữ kia; đề cập đến cái này chứ không phải là cái khác..? Rất nhiều câu hỏi sẽ đến với người đọc khi trước mắt ta là những ý tưởng hiện hữu sau cùng của một đời người - đặc biệt ở con người vĩ đại như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh là cái tên mà mỗi người Việt lúc đọc hay nói, không chỉ diễn đạt một quan niệm gần như vô hạn của nhận thức, mà hơn nhiều thế nữa - là âm sắc tuyệt vời của sự kết tụ những tinh hoa quý giá nhất của trái tim mình.

  • NGUYỄN TỐNGQuê hương đất nước và con người luôn có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau trong suốt chiều dày của lịch sử dựng nước và giữ nước. Nó tự nhiên chan hoà đến mức như cá bơi quẫy giữa đại dương, chim tung cánh vô tư giữa bầu trời bát ngát. Đến lúc nào đó, khi con người rơi vào cảnh cá chậu chim lồng, tình cảm, ý thức về đất nước thiêng liêng mới trở nên ám ảnh day dứt.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊ           (Đọc “Thân Trọng Một – con người huyền thoại” của Nguyễn Quang Hà)Đã từ lâu, tên tuổi anh hùng Thân Trọng Một trở nên thân quen với mọi người, nhất là với quân dân Thừa Thiên Huế; những “sự tích” về ông đã thành truyện “truyền kỳ” trong dân chúng và đã được giới thiệu trên nhiều sách báo. Tuy vậy, với “THÂN TRỌNG MỘT – CON NGƯỜI HUYỀN THOẠI”, lần đầu tiên, chân dung và những chiến công của ông đã được tái hiện một cách đầy đủ và sinh động nhất.

  • Nhà văn Nguyễn Quang Hà tâm sự với tôi rằng anh có hai món nợ rất lớn mà chắc đến khi nhắm mắt xuôi tay cũng không thể nào trả xong. Hai món nợ mà anh đang gánh trên đôi vai của mình là món nợ đối với nhân dân và món nợ đối với đồng đội. Gần bốn mươi năm cầm bút, anh đã viết 9 tập tiểu thuyết; 7 tập truyện ngắn, ký, truyện ký; 2 tập thơ cùng với hàng trăm bài báo cũng chỉ mong sao trả được hai món nợ ấy.

  • XUÂN CANGNhờ cuốn hồi ký nhỏ Ngày ấy Trường Sơn (Nxb Hội Nhà văn - Hà Nội - 2000) của Nguyễn Khoa Như Ý- tên khai sinh của Hà Khánh Linh, bạn đọc được biết đây là một nhà văn nữ có khí chất không bình thường. Một người con gái mảnh dẻ, nhưng có chí, mơ mộng, ham hành động, vì nghĩa lớn mà dấn thân vào nơi nguy hiểm.

  • Sau Vị giáo sư và ẩn sĩ đường, Ba lần đến nước Mỹ, trong năm 2002, GS. Hà Minh Đức tiếp tục ra mắt bạn đọc tác phẩm Tản mạn đầu ô. Vậy là trong khoảng 5 năm, bên cạnh một khối lượng lớn những tác phẩm nghiên cứu, lý luận, phê bình, ông đã sáng tác 3 tập thơ và 3 tập bút ký. Đó là những con số mang nhiều ý nghĩa thể hiện sự "đa năng" của một đời văn tưởng đã yên vị với nhiều danh hiệu cao quý và hơn 30 tập sách nghiên cứu, lý luận, phê bình. Tản mạn đầu ô ra đời được dư luận chú ý, quan tâm. Sau đây là cuộc trao đổi giữa PGS. TS Lý Hoài Thu với GS. Hà Minh Đức xung quanh tập sách này.

  • HUỲNH HẠ NGUYÊN         (Đọc tập thơ "Khúc đêm" của Châu Thu Hà - Nxb Thuận Hoá - 11/2002)...Thơ Châu Thu Hà mang đậm nữ tính. Khi trái tim biết cười, hay khi giàn giụa nước mắt, ta bỗng thấy quý sao những phút sống chân thành với cuộc đời, với mọi người. Châu Thu Hà không để trái tim mình tuột xuống phía bên kia triền dốc, chị cố bước tới và neo lại, để thấy mình được xẻ chia, được yêu chiều, xoa dịu...

  • LÊ MỸ Ý (L.M.Y):  Thưa nhà thơ, là một người có thể tạm gọi là thuộc thế hệ đi trước nhưng lại luôn "gây sốc" bằng những tác phẩm tìm tòi mới, chắc hẳn ông có quan tâm nhiều đến thế hệ thơ trẻ? Có thể có một nhận xét chung về thơ trẻ hiện nay chăng?NHÀ THƠ HOÀNG HƯNG (H.H): Tất nhiên là tôi rất quan tâm. Nhận xét chung của tôi về thơ trẻ bây giờ là đa số vẫn mang tính phong trào. Có thể nói là những người làm thơ trẻ vẫn đi theo một vết mòn của thế hệ trước, chưa thấy rõ những bứt phá, chỉ nổi lên một số tác giả theo cách lẻ tẻ.

  • Tại sao cô chỉ làm thơ tự do?- Trước hết, bởi tôi thích tự do. Tự do ở đây, được hiểu là: nói, làm, dám mơ ước và tham vọng tất cả những gì mình muốn, không bị tác động và chi phối bởi ai, bởi bất cứ điều gì.

  • NGUYỄN THỤY KHA Đã là lạ tên một tác phẩm khí nhạc mang tực đề "Eo lưng" của nữ nhạc sĩ Kim Ngọc. Lại thu thú khi đọc tập thơ "Nằm nghiêng" của nữ thi sĩ Phan Huyền Thư. Một thế kỷ giải phóng của Việt Nam thật đáng kính ngạc.Cái cách giải phóng mình, phái yếu trong đó có mình của Phan Huyền Thư là sự độ lượng với cũ kỹ, là mỉa mai sự nửa vời, là quyết liệt lặng lẽ vươn tới cách tân theo một thế của “Nằm nghiêng”.

  • NGUYỄN TRỌNG TẠOCòn nhớ mùa Huế mưa 1992, Nguyễn Khắc Thạch và Ngô Minh đến nhà tôi chơi, mang theo bản thảo đánh máy tập thơ đầu tay của một tác giả mới 20 tuổi có tên là Văn Cầm Hải. Một cái tên lạ mà tôi chưa nghe bao giờ. Những bài thơ của anh cũng chưa hề xuất hiện trên mặt báo. Nguyễn Khắc Thạch và Ngô Minh đều nói rằng; "Thơ tay này lạ lắm. Ông xem thử".