Chuyện thầy Hà Nhật làm thơ

14:57 26/11/2012

NGÔ MINH

Tôi gọi là “thầy” vì thầy Lương Duy Cán (Hà Nhật) dạy văn tôi hồi nhỏ học cấp 3 ở trường huyện. Tôi viết Chuyện thầy Hà Nhật làm thơ vì thầy vừa ra mắt tập thơ đầu tay Đá sỏi trên đường(*) khi thầy đã U80.

Thầy Hà Nhật - Bùi Xuân Phái ký họa

Thầy là một thi sĩ từ trong máu thịt, thi sĩ từ lúc trẻ cho đến bây giờ, nhưng lại không có tên trong danh sách Hội Nhà văn. Đó là một điều lạ, trong lúc rất nhiều người thơ phú làng nhang, thậm chí vớ vẩn, vẫn chạy chọt để vào Hội. Hà Nhật là một nhà thơ có tiếng từ những năm 60 của thế kỷ XX, sao lại chỉ có 51 bài thơ trong Đá sỏi trên đường? Câu chuyện dài lắm, nó như là một phong cách thi sĩ.

 Tôi thấy thầy Hà Nhật suốt thời trai trẻ luôn lãng đãng thơ, lãng đãng em. Làm xong bài thơ, đọc bên chiếu rượu rồi tặng người đẹp là coi như mãn nguyện, không hề biết lưu giữ để in thành tập, để xin vào hội này hội khác... Nhưng nhắc đến thơ Hà Nhật, trăm nhà thơ có tên tuổi đều yêu mến, nể trọng. Bởi thơ Hà Nhật vừa đam mê nồng cháy, vừa trí tuệ. Quê cũ nghèo không lúa không khoai/ Chỉ có trời xanh và muối mặn (Muối). Gặp nhau bây giờ/ Táo trong vườn rụng hết/ Thôi đừng nhắc nữa/ Cho lòng đau/ Nghe em (Táo). Tình anh như muối kia/ Mặn mòi và lặng lẽ/ Muối trăm đời vẫn thế/ Tình anh không có màu (Tình muối). Năm 2007, viết ở đến thờ An Dương Vương ở Nghệ An trong chuyện ra thăm lại nơi mình từng dạy học xưa, Hà Nhật vẫn giữ được sự chất chứa ấy: Đền Cuông - cuông bay hết/ Về chi nữa em ơi/ Cha già còn ngoảnh mặt/ Mong gì đời sửa sai! (Đền Cuông)… Hay: Anh bơ vơ giữa cuộc đời phù du/ Chỉ có em thôi/ Chỉ có em là thật... (Bão số 2, 2007).

Thầy Hà Nhật được gia đình ở Bảo Ninh (Đồng Hới) gửi vào Huế học trường Khải Định (trường Quốc Học bây giờ) từ năm 1953. Hồi ấy mới mười bảy tuổi đã yêu, đã thơ “có nghề” lắm: Trên đồi sim/... Chiều tàn lịm/ Tàn cả trong tim/...Tiếc tình xưa tan vỡ/ Như những cánh sim bay (Trên đồi sim). Sau Hiệp định Genève, Hà Nhật phải rời trường Khải Định, ra Hà Nội học tiếp Đệ nhị và đỗ tú tài toán năm 1956. Học giỏi toán nhưng lại xin thi vào sư phạm văn. Hồi sinh viên học Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nhật thường chơi thân với các nhà thơ, nhà văn cùng trang lứa như Phùng Quán, Nguyễn Bùi Vợi, Vân Long, Băng Sơn, Thúc Hà… lại bù khú rượu thơ bên các người đẹp, ngất ngư năm tháng. Yêu rồi, tặng thơ cho “nàng: rồi thì thấy cái gì cũng đẹp, cũng gần gũi:

Sao lại yêu cả tên đường phố
Thấy cuộc đời ai ai cũng vui
Không biết vì sao vô cớ mỉm cười
Nói chuyện với cả cầu thang gác

                               (Khắp nơi)

Nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi vẫn thường nhắc đến anh bạn thơ Hà Nhật dân Quảng Bình gầy đen, nhưng thông minh, nhạy cảm và đa tình. Nguyễn Bùi Vợi kể: “Chúng tôi dại dột rủ nhau in chung một tập thơ tình ở một nhà xuất bản tư nhân có tên là “Tre Xanh” do ông Nguyễn Hoàng Quân chủ trương. Tập thơ mỏng dính, gần hai chục bài. Nâng niu tập thơ trên tay, tôi mừng khôn xiết nhưng sau đó cảm giác xấu hổ không xóa đi được vì thấy thơ bạn tài hoa, bay bướm hơn thơ mình, mình không đáng đứng cạnh”... Nguyễn Bùi Vợi là một nhà thơ có tiếng, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ đời tám hoánh, mà nói về người bạn thơ “tỉnh lẻ” của mình, chẳng hội viên hội viếc gì như thế là chân thật và đáng trân trọng.

Từ năm 1956, khi mới chưa đầy 20 tuổi, Hà Nhật đã có những bài thơ “Đợi đò”, “Mưa Huế” rất sắc sảo. Trong bài “Mưa Huế”, hình bóng những cô gái Huế rất đẹp: Dáng gầy như cỏ cây quê mẹ/ Giếng tình thăm thẳm mắt không vơi…”. Hà Nhật còn hăng hái làm thơ gửi đăng báo Đất Mới, một kiểu báo Nhân văn của sinh viên thời ấy. Rồi hay la cà gần gũi với lớp đàn anh như Nguyễn Bính, Trần Dần, Lê Đạt, Quang Dũng, Nguyễn Đình, Trinh Đường và cả Bùi Xuân Phái nữa… Nên khi vụ Nhân văn - Giai phẩm xảy ra, tuy không “dính”, nhưng sinh viên Lương Duy Cán cũng bị ghi vào sổ đen. Vì thế năm 1959, tốt nghiệp Khoa Văn Đại học Sư phạm vào loại giỏi thời đó là hiếm lắm, oách lắm, nhưng Hà Nhật không được dạy cấp 3, bị “phát vãng” về dạy cấp 2 ở Diễn Châu, Nghệ An ba năm liền.

Sinh thời, nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi có lần kể cho tôi, hai nhà thơ Vương Trọng và Hoàng Cát nghe một chuyện vui cười ra nước mắt. Thời dạy học ở Diễn Châu, có lần nhớ ngày mất của Nguyễn Du, Hà Nhật cùng với một thầy giáo dạy văn cao to cùng trường đêm hôm tổ chức “tưởng niệm Nguyễn Du” ngay trong phòng ở của mình. Hai người thắp hương, đốt nến khấn rồi thay nhau nói về tính nhân văn trong thơ Nguyễn Du. Hai thầy giáo say mê không biết ở ngoài cửa có người rình. Nghe xong anh chàng hốt hoảng đến ngay nhà ông lãnh đạo địa phương tố cáo là có hai người đêm hôm ca ngợi “nhân văn - giai phẩm”. Cái người gầy còm (tức Hà Nhật) nói tới 18 lần “nhân văn”, còn người cao lớn nói 11 lần. Hồi ấy, cụm từ “nhân văn - giai phẩm” đồng nghĩa với “phản động”. Mà dân quê thì không phân biệt được từ “nhân văn” sang trọng ấy với vụ “nhân văn - giai phẩm”! Từ đó Hà Nhật bị “ghi vào sổ đen”. Hà Nhật có yêu một cô giáo quê ở Nghĩa Đàn, miền Tây Nghệ An, cách Diễn Châu khoảng 80 cây số, nhưng khi gia đình nghe nói thầy giáo này có dính tới nhân văn - giai phẩm thì gia đình kiên quyết không gả. Chính người con gái ấy và mối tình bị từ chối đã “cho” Hà Nhật bài thơ tình nổi tiếng “Bài thơ tình của người thủy thủ”.

Thầy kể rằng, hồi năm 1962, vì buồn tình, nhân mấy ngày nghỉ, có mấy người ngư dân ở quê Bảo Ninh ra Nghệ An đi buôn bán bằng thuyền biển rủ thầy về quê bằng thuyền với họ. Từ Nghệ An vào Đồng Hới đi đường bộ thời đó cũng chỉ ngày rưỡi. Nhưng tính thầy thích ngao du, chuộng lạ. Thế là thầy liều lênh đênh trên biển với ngư dân ba ngày ba đêm ròng. Say sóng ngất ngưỡng, nôn ra mật xanh mật vàng. Nhưng đổi lại thầy làm được Hai bài thơ tình của người thủy thủ rất hay, rất “độc”:

Em hỏi tôi nước biển màu gì?
Tôi người thủy thủ từng lênh đênh năm tháng
Tôi sẽ nói cùng em
Nước biển dịu dàng, bí mật và cuồng nộ
Cũng như màu đôi mắt của em


Đoạn trích trên ở bài 1. Bài 2 của “Bài thơ tình của người thủy thủ” sâu hơn, hồi đó dân yêu thơ Quảng Bình ai cũng thuộc:

Nếu ở cuối trời có đảo chân trâu
Hay ở đảo xa có nụ hoa thần tìm ra hạnh phúc
Hay có người gái đẹp
Môi hồng như san hô
Cũng không thể khiến anh xa được em yêu

Nhưng hỡi em
Nếu có người trai chưa từng qua bão tố
Chưa từng qua thử thách gian lao
Lẽ nào có thể xứng với tình em?


Khi làm xong thơ, thầy sợ không ký tên Hà Nhật mà ký tên là Mai Liêm, gửi báo Hà Nội, lấy địa chỉ liên lạc của một người chị bà con bên mẹ là chị Chiến đang học ở trường cấp 3 Đồng Hới (sau này thành vợ nhà thơ Hải Bằng). Khi báo đăng bài thơ, nhạc sĩ Hoàng Vân đọc được, cảm và phổ nhạc, nhưng không đề “phổ thơ Mai Liêm”. Bài hát “Tình ca người thủy thủ” lập tức được công chúng thanh niên cả nước đón nhận nồng nhiệt. Đến hôm nay, trên radio, tivi, nhiều ca sĩ vẫn hát “Tình ca người thủy thủ”… Cái bút danh Mai Liêm ấy thầy còn ký ở rất nhiều bài thơ khác. Những năm 1960 ấy, hàng loạt các tác phẩm văn học đầy chất sống, cuốn hút người đọc đã bị các nhà phê bình văn học “đánh” kịch liệt và xếp vào tội “xét lại” như các tiểu thuyết Mùa hoa dẻ của Văn Linh, Nhãn đầu mùa của Xuân Tùng - Văn Thanh, Mở hầm của Nguyễn Dậu v.v. Bài thơ, bài hát “Tình ca người thủy thủ” cũng bị phê phán là “lãng mạn tiểu tư sản”, “xét lại”. Họ chất vấn “Đi tìm gì, tìm ai ngoài khơi xa kia?”. Những ngày tháng đó, Hà Nhật cảm thấy cô đơn da diết. Tôi có một câu thơ chết đuối dưới dòng sông/ Tôi lãng quên suốt một thời trai trẻ (Nói với dòng sông). Có lẽ vì thế là người ta không để thầy dạy học ở Đồng Hới mà bắt lên dạy ở Lệ Thủy.

*

Năm 1964, thầy Hà Nhật về dạy ở cấp 3 Lệ Thủy, cũng là năm chúng tôi là Lâm Thị Mỹ Dạ, Ngô Minh, Hải Kỳ, Đỗ Hoàng, Lê Đình Ty... vào học cấp 3. Thầy Hà Nhật và thầy giáo trẻ Phan Ngọc Thu đã truyền cho lớp chúng tôi một không khí yêu thơ, làm thơ rừng rực từ đấy. Những tiết học đầu tiên của năm lớp 8, học sơ tán dưới nhà hầm chiến tranh nửa chìm nửa nổi ở thôn Đông Liễu, xã Liên Thủy ấy, chúng tôi đã nghe thầy đọc những bài thơ tình nồng cháy của mình. Đứa nào cũng chép đầy sổ tay. Rồi thầy dạy cho chúng tôi bài hát Hoàng Vân phổ thơ thầy, dù lúc đó bài hát bị cấm phổ biến. Hồi đó cả lớp tôi làm thơ, có hẳn một tờ báo tường tên là Văn Nghệ của nhóm sáng tác, bên cạnh tờ báo tường của Chi đoàn lớp. Thầy Hà Nhật sáng nào đến lớp dạy cũng lật xem những sáng tác mới của học trò. Bây giờ thầy 77 tuổi, trò đứa nào cũng 64, 66 cả rồi, mà gặp nhau thầy trò cứ thơ phú suốt đêm.

Những năm 60 của thế kỷ trước, thơ không vần ở nước ta mới chỉ là những sáng tác thể nghiệm của một vài tác giả. Ngay ở Hà Nội, nhà thơ lớn Nguyễn Đình Thi làm thơ không vần cũng bị phản đối quyết liệt. Thậm chí, Hoàng Cầm trong hồi ức “Nguyễn Đình Thi trong tôi - Nguyễn Đình Thi ngoài tôi” đã viết: “Anh Thi đến nhà xuất bản Văn nghệ đưa cho tôi đọc tập thơ Người chiến sĩ..., và anh Thi yêu cầu tôi cho ấn hành ngay, càng sớm càng tốt. Tôi đọc xong, rất thú vị vì vẫn còn nguyên những bài thơ thể tự do. Bấy giờ (1956) mà in được những bài thơ cách tân ấy thì thật có lợi cho phong trào thơ...”. Nhưng sau đó do sức ép của “cấp trên”, nhà văn Nguyễn Đình Thi phải xin lại bản thảo, sửa chữa tập thơ Người chiến sĩ  thành những bài thơ theo vần truyền thống, thật tiếc!

Còn ở các tỉnh lẻ được xem là vương quốc của bảo thủ trong thơ. Những năm 1958 - 1975, nhà thơ Xuân Hoàng phụ trách Hội Văn nghệ Quảng Bình, ai muốn in thơ phải viết có vần mới được in tạp chí của Hội. Ấy thế mà những bài thơ không vần của Hà Nhật viết ở Đồng Hới, nơi “tỉnh lẻ của tỉnh lẻ” lại nhuần nhuyễn, lung linh như những viên ngọc, ai cũng thích. Mới hay, thơ phải từ trái tim đến với trái tim. Miền quê nghèo khó đầy gió cát Quảng Bình đã sinh ra những nhà thơ trứ danh Thơ Mới, cả hiện đại và siêu thực như Hàn Mạc Tử, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Xuân Sanh... từng một thời đi tiên phong trong làng thơ Việt Nam.

 Thầy Cán dạy văn giỏi (ở Đồng Hới thời đó có câu ngạn ngữ: Văn Cán - Toán Trình, tức tức muốn văn giỏi phải học với thấy Lương Duy Cán, muốn giỏi toán phải học với thấy Đoàn Trình) và làm thơ hay nên rất nhiều thế hệ học sinh thuộc thơ thầy. Thơ Hà Nhật khảm vào trí nhớ độc giả bao thế hệ. Có người thuộc mấy bài, một bài, có người chỉ thuộc một khổ thơ hay ý thơ. Họ ngồi với thầy bên chén rượu, đọc lên, rồi chắp nối lại từ trí nhớ, thành bài thơ hoàn chỉnh. Nhờ đó mà từ năm 2007 đến 2009 thầy đã ra Huế, Đồng Hới, Nghệ An “sưu tầm” lại được mấy chục bài thơ đã thất lạc để in tập thơ kỷ niệm cuộc thơ đời mình Đá sỏi trên đường. Hàng trăm bài thơ thầy không tìm lại được, vẫn ở trong trí nhớ của người đời. Có lẽ rất ít nhà thơ “có bảng hiệu” ở nước ta có được cái ân huệ “sưu tầm thơ mình trong công chúng” như Hà Nhật. Đó chính là sức sống lâu bền của thơ và nhà thơ trong trời đất!

Thơ Hà Nhật bị thất tán nhiều cũng do thi sĩ rất thích xê dịch, tính lãng tử. Ai rủ đi là đi ngay. Đi thâu đêm thâu ngày. Có chén rượu, có người đẹp thì đọc thơ suốt đêm. Năm 1972, một nửa Quảng Trị được giải phóng, Hà Nhật đạp xe ngay vào Đông Hà, rồi cùng ông bạn thơ đồng niên Hoàng Phủ Ngọc Tường ngao du mấy ngày đêm miên man trên đất Quảng Trị còn nóng bỏng lửa bom. Bởi thế, gặp lại Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hà Nhật đã có thơ tặng bạn rưng rưng: Hãy cạn ly đi Tường ơi/ Không uống được vào môi/ Thì nhấp bằng mắt vậy/ Để ta nhớ một thời sôi nổi/ Ngang dọc hai ta một dải đất gió Lào (Uống rượu với Tường).

Sau 30/4/1975, máu lãng du lại thôi thúc Hà Nhật tìm về phương Nam. Chuyến “Hành phương Nam” ấy thầy về dạy học ở Phan Rang, Phan Thiết một thời gian, gặp chị Thanh Phương mới neo đậu lòng mình, rồi vào Sài Gòn làm giảng viên Trường Cao đẳng Sư phạm. Dạy học, nhưng thầy luôn gắn với thơ. Thầy viết sách bình giảng thơ cho nhà xuất bản, bình thơ cho chương trình văn nghệ của Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh...

Chuyện Hà Nhật làm thơ thời đó đã lây nhiễm sang một thế hệ đàn em như Hoàng Vũ Thuật, Lâm Mỹ Dạ, Hải Kỳ, Mai Văn Hoan, Lê Đình Ty, Trần Nhật Thu,... Cách sinh hoạt thơ của các nhà thơ này cũng giống thầy Hà Nhật. Có người đẹp là rủ nhau mang rượu đến đọc thơ suốt đêm. Người đẹp là cái cớ để giải bày tâm trạng. Có người đẹp là thức suốt đêm làm thơ để tặng. Làm bài này đến bài khác, có khi cả năm ròng. Tặng xong thơ yêu là sung sướng, chẳng cần in ấn ở đâu cả. Nếp sinh hoạt đó luôn tạo ra một không khí thơ sôi nổi, dào dạt của cái tôi trữ tình chân chất.

N.M 
(SH285/11-12)


--------
(*) Đá sỏi trên đường, thơ Hà Nhật, Nxb Hội Nhà văn, 12/2011.









 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • VÕ QUANG YẾN Tôi yêu tiếng nước tôi                Từ khi mới ra đời làm người                                                Phạm Duy

  • PHẠM NGUYÊN TƯỜNGKhao khát, đinh ninh một vẻ đẹp trường tồn giữa "cuộc sống có nhiều hư ảo", Vú Đá, phải chăng đó chính là điều mà kẻ lãng du trắng tóc Nhất Lâm muốn gửi gắm qua tập thơ mới nhất của mình? Bài thơ nhỏ, nằm nép ở bìa sau, tưởng chỉ đùa chơi nhưng thực sự mang một thông điệp sâu xa: bất kỳ một khoảnh khắc tuyệt cảm nào của đời sống cũng có thể tan biến nếu mỗi người trong chúng ta không kịp nắm bắt và gìn giữ, để rồi "mai sau mang tiếng dại khờ", không biết sống. Cũng chính từ nhận thức đó, Nhất Lâm luôn là một người đi nhiều, viết nhiều và cảm nghiệm liên tục qua từng vùng đất, từng trang viết. Câu chữ của ông, vì thế, bao giờ cũng là những chuyển động nhiệt thành nhất của đời sống và của chính bản thân ông.

  • MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNHTôi nghe rằng,Rạch ròi, đa biện, phân minh, khúc chiết... là ngôn ngữ khôn ngoan của lý trí nhị nguyên.Chan hoà, đa tình, niềm nỗi... là ngôn ngữ ướt át của trái tim mẫn cảm.Cô liêu, thuỷ mặc, bàng bạc mù sương, lấp ló trăng sao... là ngôn ngữ của non xanh tiểu ẩn.Quán trọ, chân cầu, khách trạm, phong trần lịch trải... là ngôn ngữ của lãng tử giang hồ.Điềm đạm, nhân văn, trung chính... là ngôn ngữ của đạo gia, hiền sĩ.

  • MAI VĂN HOANTập I hồi ký “Âm vang thời chưa xa” của nhà thơ Xuân Hoàng ra mắt bạn đọc vào năm 1995. Đã bao năm trôi qua “Âm vang thời chưa xa” vẫn còn âm vang trong tâm hồn tôi. Với tôi, anh Xuân Hoàng là người bạn vong niên. Tôi là một trong những người được anh trao đổi, trò chuyện, đọc cho nghe những chương anh tâm đắc khi anh đang viết tập hồi ký để đời này.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊ giới thiệuNhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà phê bình Hoài Thanh (1909-2009)Chúng ta từng biết cố đô “Huế Đẹp và Thơ” một thời là nơi hội tụ các văn nhân, trong đó có những tên tuổi kiệt xuất của làng “Thơ Mới” Việt Nam như Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên…; nhưng nhà phê bình Hoài Thanh lại đến với Huế trong một hoàn cảnh đặc biệt và có thể nói là rất tình cờ.

  • LÊ TRỌNG SÂM giới thiệuBà sinh ra và lớn lên ở Painpol và Saint-Malo, một đô thị cổ vùng Bretagne, miền đông bắc nước Pháp. Học trung cấp và tốt nghiệp cử nhân văn chương ở thành phố Nice, vùng xanh da trời miền nam nước Pháp. Là hội viên Hội nhà văn Pháp từ năm 1982, nay bà đã trở thành một trong số ít nhà văn Châu Âu đã tiếp thu và thâm nhập sâu sắc vào rất nhiều khía cạnh của văn hoá Việt Nam.

  • MAI VĂN HOAN giới thiệu Vĩnh Nguyên tên thật là Nguyễn Quang Vinh. Anh sinh năm 1942 (tuổi Nhâm Ngọ) ở Vĩnh Tuy, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Bố anh từng tu nghiệp ở Huế, ông vừa làm thầy trụ trì ở chùa vừa bốc thuốc chữa bệnh cho người nghèo. Thuở thiếu thời anh đã ảnh hưởng cái tính ngay thẳng và trung thực của ông cụ. Anh lại cầm tinh con ngựa nên suốt đời rong ruổi và “thẳng như ruột ngựa”.

  • LGT: Vài năm lại đây, sau độ lùi thời gian hơn 30 năm, giới nghiên cứu văn học cả nước đang xem xét, nhận thức, và đánh giá lại nền “Văn học miền Nam” (1954 - 1975) dưới chế độ cũ, như một bộ phận khăng khít của văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XX với các mặt hạn chế và thành tựu của nó về nghệ thuật và tính nhân bản. Văn học của một giai đoạn, một thời kỳ nếu có giá trị thẩm mỹ nhân văn nhất định sẽ tồn tại lâu hơn bối cảnh xã hội và thời đại mà nó phản ánh, gắn bó, sản sinh. Trên tinh thần đó, chúng tôi trân trọng giới thiệu bài viết vừa có tính chất hồi ức, vừa có tính chất nghiên cứu, một dạng của thể loại bút ký, hoặc tản văn về văn học của tác giả Nguyễn Đức Tùng, được gửi về từ Canada. Bài viết  dưới đây đậm chất chủ quan trong cảm nghiệm văn chương; nó phô bày cảm nghĩ, trải nghiệm, hồi ức của người viết, nhưng chính những điều đó làm nên sự thu hút của các trang viết và cả một quá khứ văn học như sống động dưới sự thể hiện của chính người trong cuộc. Những nhận định, liên hệ, so sánh, đánh giá trong bài viết này phản ánh lăng kính rất riêng của tác giả, dưới một góc nhìn tinh tế, cởi mở, mang tính đối thoại của anh. Đăng tải bài viết này chúng tôi mong muốn góp phần đa dạng hóa, đa chiều hóa các cách tiếp cận về văn học miền Nam. Rất mong nhận được các ý kiến phản hồi của bạn đọc. TCSH

  • MAI VĂN HOAN giới thiệuNăm 55 tuổi, Hồng Nhu từng nhiều đêm trăn trở, băn khoăn lựa chọn việc trở về quê hay ở lại thành phố Vinh - nơi anh gắn bó trọn hai mươi lăm năm với bao kỷ niệm vui buồn. Và cuối cùng anh đã quyết tâm trở về dù đã lường hết mọi khó khăn đang chờ phía trước. Nếu không có cái quyết định táo bạo đó, anh vẫn là nhà văn của những thiên truyện ngắn Thuyền đi trong mưa ngâu, Gió thổi chéo mặt hồ... từng được nhiều người mến mộ nhưng có lẽ sẽ không có một nhà văn đầm phá, một nhà thơ “ngẫu hứng” như bây giờ.

  • LÊ HỒNG SÂMTìm trong nỗi nhớ là câu chuyện của một thiếu phụ ba mươi tám tuổi, nhìn lại hai mươi năm đời mình, bắt đầu từ một ngày hè những năm tám mươi thế kỷ trước, rời sân bay Nội Bài để sang Matxcơva du học, cho đến một chiều đông đầu thế kỷ này, cũng tại sân bay ấy, sau mấy tuần về thăm quê hương, cô cùng các con trở lại Pháp, nơi gia đình nhỏ của mình định cư.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊ     (Đọc “Cạn chén tình” - Tuyển tập truyện ngắn Mường Mán, NXB Trẻ, 2003)Với gần 40 năm cầm bút, với hơn hai chục tác phẩm văn xuôi, thơ và kịch bản phim, nhà văn Mường Mán là một tên tuổi đã quen thuộc với bạn đọc, nhất là bạn đọc trẻ. Có lẽ vì ấn tượng của một loạt truyện dài mà ngay từ tên sách (Lá tương tư, Một chút mưa thơm, Bâng khuâng như bướm, Tuần trăng mê hoặc, Khóc nữa đi sớm mai v...v...) khiến nhiều người gọi ông là nhà văn của tuổi học trò, trên trang sách của ông chỉ là những “Mùa thu tóc rối, Chiều vàng hoa cúc...”.

  • NGUYỄN VĂN HOATranh luận Văn Nghệ thế kỷ 20, do Nhà xuất bản lao động ấn hành. Nó có 2 tập: tập 1 có 1045 trang và tập 2 có 1195 trang, tổng cộng 2 tập có 2240 trang khổ 14,4 x 20,5cm. bìa cứng, bìa trang trí bằng tên các tờ báo, tạp chí có tư liệu tuyển trong bộ sách này.

  • VĨNH CAO - PHAN THANH HẢIVườn Thiệu Phương là một trong những Ngự uyển tiêu biểu của thời Nguyễn, từng được vua Thiệu Trị xếp là thắng cảnh thứ 2 trong 20 cảnh của đất Thần Kinh. Nhưng do những nguyên nhân lịch sử, khu vườn này đã bị triệt giải từ đầu thời vua Ðồng Khánh (1886-1889) và để trong tình trạng hoang phế mãi đến ngày nay. Trong những nỗ lực nhằm khắc phục các "không gian trắng" tại Tử Cấm Thành và phục hồi các khu vườn ngự của thời Nguyễn, từ giữa năm 2002, Trung tâm BTDTCÐ Huế đã phối hợp với Hội Nghệ thuật mới (Pháp) tổ chức một Hội thảo khoa học để bàn luận và tìm ra phương hướng cho việc xây dựng dự án phục hồi khu vườn này.

  • HỒNG DIỆUNhà thơ Cao Bá Quát (1809-1854) được người đời hơn một thế kỷ nay nể trọng, với cả hai tư cách: con người và văn chương. "Thần Siêu, thánh Quát", khó có lời khen tặng nào cao hơn dành cho ông và bạn thân của ông: Nguyễn Văn Siêu (1799-1872).

  • HÀ VĂN THỊNHI. Có lẽ trong nhiều chục năm gần đây của lịch sử thế giới, chưa có một nhà sử học nào cũng như chưa có một cuốn sách lịch sử nào lại phản ánh những gì vừa xẩy ra một cách mới mẻ và đầy ấn tượng như Bob Woodward (BW). Hơn nữa đó lại là lịch sử của cơ quan quyền lực cao nhất ở một cường quốc lớn nhất mọi thời đại; phản ánh về những sự kiện chấn động nhất, nghiêm trọng nhất đã diễn ra trong ba năm đầu tiên của thiên niên kỷ mới: sự kiện ngày 11/9, cuộc chiến tranh Afganistan và một phần của cuộc chiến tranh Iraq.

  • ĐẶNG TIẾN     (Đọc Hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp)Một tờ báo ở ngoài nước đã giới thiệu bốn cuốn hồi ức của Đại tướng Võ Nguyễn Giáp mới xuất bản. Dĩ nhiên là một bài báo không thể tóm lược được khoảng 1700 trang hồi ký viết cô đúc, nhưng cũng lảy ra được những đặc điểm, ý chính và trích dẫn dồi dào, giúp người đọc không có sách cũng gặt hái được vài khái niệm về tác phẩm.

  • NGUYỄN THỊ ANH ĐÀO       (Đọc tập truyện ngắn “Trà thiếu phụ” của nhà văn Hồng Nhu – NXB Hội Nhà văn 2003)Tôi đã được đọc không ít truyện ngắn của nhà văn Hồng Nhu và hầu như mỗi tập truyện đều để lại trong tôi không ít ấn tượng. Trải dài theo những dòng văn mượt mà, viết theo lối tự sự của nhà văn Hồng Nhu là cuộc sống muôn màu với những tình cảm thân thương, nhiều khi là một nhận định đơn thuần trong cách sống. Nhà văn Hồng Nhu đi từ những sự việc, những đổi thay tinh tế quanh mình để tìm ra một lối viết, một phong cách thể hiện riêng biệt.

  • ĐỖ QUYÊN…Đọc thơ Bùi Giáng là thuốc thử về quan niệm thơ, về mỹ học thi ca. Đã và sẽ không ai sai nhiều lắm, cũng không ai đúng là bao, khi bình bàn về thơ họ Bùi. Nhắc về cái tuyệt đỉnh trong thơ Bùi Giáng, độ cao sâu tư tưởng ở trước tác Bùi Giáng nhiều bao nhiêu cũng thấy thiếu; mà chỉ ra những câu thơ dở, những bài thơ tệ, những đoạn văn chán trong chữ nghĩa Bùi Giáng bao nhiêu cũng bằng thừa…

  • LÊ THỊ HƯỜNGTrong căn phòng nhỏ đêm khuya, giai điệu bản sonat của Beethoven làm ta lặng người; một chiều mưa, lời nhạc Trịnh khiến lòng bâng khuâng; trong một quán nhỏ bên đường tình cờ những khúc nhạc một thời của Văn Cao vọng lại làm ta bất ngờ. Và cũng có thể giữa sóng sánh trăng nước Hương Giang, dìu dặt, ngọt ngào một làn điệu ca Huế khiến lòng xao xuyến.

  • NGÔ MINHĐến tập thơ chọn Giếng Tiên (*), nhà thơ - thầy giáo Mai Văn Hoan đã gửi đến bạn yêu thơ 5 tập thơ trữ tình, trong đó có hai tập thơ được tái bản. Đó là tập đầu tay Ảo ảnh, in năm 1988, tái bản 1995 và tập Hồi âm, in năm 1991, tái bản năm 2000. 15 năm xuất bản 7 đầu sách (2 tập tiểu luận) và đang có trong ngăn kéo vài tập bản thảo tiểu luận nữa, chứng tỏ sức sáng tạo sung mãn đáng nể trọng của một thầy giáo vừa dạy học vừa sáng tác văn chương.