Trên mặt đất, trong bầu trời - Trái tim xôn xao
Minh họa: Nhím
NHÃ THUYÊN
Trên mặt đất, trong bầu trời
Những cụm mây tụ lại bồng bềnh trên bầu không và bay ngang ô cửa, cố nán lại đôi chút như thể biết rằng có tôi ngồi nhìn ngắm chúng từ lâu, tôi nghe có những tiếng nói mềm mại thì thầm, tôi nghe tiếng róc rách của dòng suối tuôn tự xa thẳm, một dòng suối bắt đầu từ không nơi nào cả, tôi thấy màu trắng mềm mượt buông lỏng trước mặt tôi như thân hình một nàng con gái trong trắng, tôi thấy những cánh đồng mây ai đó đã cày vỡ và đợi tôi đến gieo hạt, tôi thấy chiếc lều đã dựng lên vừa vững chãi vừa ấm cúng vừa bồng bềnh và phổng phao, tôi thấy những hàng cây đứng bạt gió, xiêu vẹo biến thái rồi lại trở lại hình dạng ban đầu, những đầu ngọn cây vàng ruộm nắng, tôi thấy những hồ nước sáng long lanh và tôi nghe tiếng vỡ ra như kính vỡ trên mặt hồ. Tôi giơ hai tay lên đầy cảm kích ân sủng bất ngờ của Tạo Hóa, tôi vươn tới, tôi rạo rực, tôi xôn xao, tôi trong veo và thuần túy, tôi khao khát trọn vẹn và sôi nổi, tôi có trái tim, có khối óc, và có cả thân thể, tôi có một vũ trụ sinh thái trong người, này những núi đồi, những thung lũng, những thảm thực vật mênh mông thăm thẳm, này những cổ thụ tỏa bóng, này những rừng nguyên sinh, này tiếng suối bí mật reo nhạc không ngừng dù không hề hiện diện. Tôi siêu vượt chính mình, quên lãng và tan lẫn vào hư không, rơi tự do trên những đám mây bồng bềnh, tôi đang sống trên bầu trời và chẳng có lý do gì để phải trở về mặt đất. Tất nhiên, tôi biết Lưu Nguyễn cũng đã trở về, thiên đường không có giới tính, và cánh đồng ai cày vỡ cho tôi phút chốc biến thái thành muôn hộc đá, vách cheo leo dựng đứng. Cũng chẳng sao, bây giờ, tôi lại ôm lấy cái hư không, ngã xuống mặt đất, và tôi cứ thử nằm im ở mặt đất thêm chút nữa sau khi ngã, để nghe chói chang những tiếng cười nhạo báng, và tiếng mẹ tôi, một người đàn bà suốt đời lo lắng sự mơ mộng sẽ giết chết con gái bà, rít lên đau khổ “hãy giết chết những cơn mộng của mày đi”, trong khi tôi nhất quyết vẫn nằm yên, áp tai xuống đất, má thấm đầy nước mắt và giấc mơ, nhưng tôi nghe thật rõ ràng, thật chính xác những âm thanh từ đất mà những kẻ rủa nguyền các giấc mơ không nghe được.
Trái tim xôn xao
cùng Kieuberry & những thi sĩ đã được vô danh
Khi tôi lật mở một trang sách của một nhà thơ vô danh trong thư viện vắng lặng, một dòng âm liên tục rót vào tai tôi, nóng rẫy và lạnh buốt và dịu êm bất ngờ. Cây bút trong tay tôi di chuyển, những ngón tay tôi nháo nhào rượt theo ma lực vô hình của giọng nói vừa tha thiết vừa thanh lặng, một cái túi đổ tung ra những tên tuổi, mà dưới đây chỉ là phần nhỏ xíu tôi đã nghe danh đâu đó nên chép lại được làm ví dụ, thứ tự lộn xộn và hầu hết tôi chưa từng đọc.
“Homere? Shakespeare? Nguyễn Du? Tagore? Goethe? Walt Whitman? Charles Baudelaire? Arthur Rimbaud? Pushkin? Eliot? Ezra Pound? Trần Dần? Pablo Neruda? Allen Ginsberg? Bùi Giáng? Jack Kerouac? Apollin- are? Paul Celan? John Cage? Yoko Ono? Basho? Lý Bạch? Lý Hạ? Paul Klee? Marcel Duchamp? Borges? Tomas Transtromer? Octavio Paz?... Rồi ngươi, kẻ vẫn còn đang ấp ủ khao khát bước đi mê muội lần tìm và nối tiếp dấu vết thơ ca từ thuở hồng hoang sẽ nhận ra điều ấy thật vô vị. Cái còn lại với thời gian, không phải là những tên tuổi, mà là sự vô danh. Bởi nó chẳng bị những gì như là những thói hiềm khích ti tiện của loài người phủ lên và thời gian cuốn trôi đi; bởi dù có bị phủ lên, nó vẫn nằm đó nhẫn nại và không tranh đấu đòi quyền sống; bởi dù có bị cuốn trôi đi, sự vô danh vẫn còn lại đó, mãi mãi; và bởi nó thậm chí chưa từng bận tâm tới “thời gian”, nó đã trở thành vĩnh cửu. Hạnh phúc thay sự vô danh, người sống chẳng ai nhớ tới ta, vì họ chưa từng biết tên ta, nhưng ta đời đời len chảy nơi mỗi phần tử khí của vũ trụ, một vũ trụ, ngươi biết không, tạo thành từ những cái tên ta đang tuôn chảy vào tai ngươi, ngươi tưởng ta đang gọi tên và vinh danh họ, kẻ chết người sống, nhưng ta chỉ đang gọi tên sự vô danh, gọi tên những điều đang trên đường trở thành vô danh, và sự vô danh đó sẽ làm trái tim ngươi xôn xao mãi mãi.”
Tôi cùng người thủ thư hôm đó kinh hãi chứng kiến cuộc tự tử tập thể của sách trong thư viện. Cả một dãy giá sách dài, lần lượt từng cuốn nhảy ra ngoài và tan biến vào hư không cho đến khi giá sách trống trơn như thể những bàn tay vô hình nào đã móc sạch ruột gan. Tôi nghe nói những kẻ chứng kiến đã tự tử sau đó vì lo sợ trừng phạt, còn trái tim tôi, tôi biết, từ đó cứ nằm yên, xôn xao mãi mãi trên trang giấy đã ố màu còn lại trên bàn đọc, trang giấy cứ mỗi lần có ai chạm phải lại mở rộng ra thêm, vô tận, trên đó những con chữ, bất chấp thời gian, vẫn chạy xuôi ngược nháo nhào, vừa chạy vừa phập phồng thở, vài con chữ tôi viết cũng lổn nhổn đứng ngồi cạnh những con chữ đã chạy ra từ những cuốn sách đã nhảy khỏi giá và tan biến. Trong từ điển, câu chuyện về nó rút lại trong định nghĩa từ “vũ trụ” và sự vô danh hẳn nhiên không thể định nghĩa.
N.T
(SH296/10-13)
Tải mã QRCode
NGUYỄN HỮU THÔNGChao ơi? Xin chào Thầy, lâu ngày ghê.Tôi lúng túng một hồi mới nhận ra cô Sen. Trước mắt tôi bây giờ là một thiếu phụ với nụ cười tươi, rạng rỡ, nhưng vẫn không làm phai đi trên khuôn mặt gầy những vết hằn khốn khó.
ĐOÀN LÊ Tặng anh tôi Anh làm khoa học, tôi là diễn viên nhà hát. Riêng điều đó đã không hợp nhau. Nhưng tuổi trẻ không chịu nghĩ chín chắn, chúng tôi cứ yêu nhau bất chấp mọi giông bão ở cả hai phía gia đình.
NGUYỄN NGỌC LỢITối đó bản Phiệt có buổi liên hoan văn nghệ. Cơm chiều xong Tản đưa tôi vào đó chơi. Chúng tôi đang chuẩn bị đi thì một cô đang dẹp đám cuốc xẻng trong góc lán nói vọng ra. Anh Tản mà đưa anh ấy đi thì có mà... Anh ấy đẹp trai, gái bản theo hết, mất phần đấy... Tản cười, cho theo bớt chứ một mình tôi... mệt lắm.
LÊ NGUYÊN NGỮTrong bối cảnh rạt rào gió bấc và nắng trải vàng như mật bên ngoài báo hiệu Tết sắp vê, con ngựa cũng đứng dạng bốn chân như lắng nghe câu chuyện đầy hoài niệm mà Tư Gồng bắt đầu kể tôi nghe. Giản dị vì đây là câu chuyện về chính nó, Tư Gồng trước kia đã lần khân hẹn khất với tôi chờ đến Tết Con Ngựa. Mà lúc này thì đã là cuối tháng chạp rồi.
NGUYỄN QUANG LẬPChiều ba mươi tết, Quỳ đạp xích lô ra ga, tính đón khách chuyến tàu vét rồi gửi xích lô, bắt xe đò về quê. Vừa vào sân ga, tàu chưa về đã có khách gọi, may thế. Khách là một trung niên mặt rỗ, quần bò áo thun, kính đen gọng vàng.
ĐỖ KIM CUÔNG1... Cho đến lúc sực tỉnh, tôi mới nhận ra con đường ra cánh đồng tôm và những vườn dừa dưới chân núi Đồng Bò.
HỒNG NHU Xóm phố nằm trên một khu đất trước đây là một dẫy đồi nghe nói vốn là nơi mồ mả dày đặc, phần lớn là mồ vô chủ không biết từ bao đời nay; và cũng chẳng biết nơi nào có nơi nào không, bởi vì gần như tất cả mồ mả ở đó đều đã bị thời gian mưa gió bào mòn, chẳng còn nấm ngôi gì cả.
TRẦN HẠ THÁP1*Gã nằm xuống thoải mái. Cảm giác mát lạnh của ghế đá còn rịn hơi sương buổi sớm thu giúp gã chợp mắt ngay. Công viên thành phố không chỉ là bạn đời của những ai không nhà, các tên chích choác, kẻ sống ngoài vòng luật pháp... Đây cũng là nơi khá thân quen đối với người như gã. Ít ra đã hơn bốn tháng qua, từ khi gã rời một khách sạn năm sao trong thành phố.
THÁI KIM LAN"Làm sao biết từng nỗi đời riêngĐể yêu thương yêu cho nồng nàn” Trịnh Công Sơn
THÁI KIM LAN(tiếp theo)
NGUYỄN ĐẶNG MỪNGLGT: Cuộc sống cứ lao về phía trước, song những tâm hồn đa cảm thì lại hay ngoảnh nhìn về phía sau. Nước nhảy lên bờ là ánh nhìn về những ngày đã qua giữa một vùng quê bình yên của “đêm trước đổi mới”. Một bức tranh quê sống động, dung dị song ngổn ngang những cảnh đời, những cảnh tình mà chúng ta không được phép quên, bởi tư duy đổi mới của đất nước hãy còn tiếp diễn...
VĨNH NGUYÊNNgô - bạn tôi rủ tôi về làng Chẻ.Đến thành phố H.H., tôi mượn chiếc xe máy của một người quen. Tôi chở Ngô về làng An Hải Trung.
I. Nàng là nhân vật chính của vở kịch. Vở kịch đang diễn ra. Những chủ đề về tình yêu và hôn nhân, về ước mơ và sự thật, về hoài vọng và định mệnh, về sinh ly và tử biệt, v.v và v.v... đan chéo và quyện chặt vào nhau, tạo nên một trường nghĩa lơ mơ lan man đầy ảo dị mà qua đó, những nhân vật còn lại cứ tông tốc xoay xỏa quanh một nhân vật trung tâm đang chơi trò mê hoặc: nhân vật chính.
Đó là lần thứ mười Malio quay về góc phố ấy. Phố hẹp, những căn nhà mặt tiền nhấp nhô, khách sạn lấp lánh đèn chen cửa hàng tơ lụa, phòng tranh sơn mài phương Đông sát với những quán cà phê nho nhỏ bài trí kiểu Tây phương...
Năm 1966 thầy Phan Linh dạy Toán lớp 7A tại trường cấp II xã Phúc Giang. Đó là năm chiến tranh phá hoại rất ác liệt. Máy bay Mỹ cứ nhằm những tụ điểm đông người thả bom. Học sinh đến trường phải đội mũ rơm. Để tránh bom đạn trường Phúc Giang phải sơ tán về các làng, các xóm học tạm. Lớp 7A của Phan Linh sơ tán về làng Mai.
Gió từ đại dương lồng lộng thổi qua cửa sông, qua bãi cát trắng xoá rồi vỗ đập vào những tàu lá dài ngoằng của loài dừa nước, oà vỡ những thanh âm xạc xào.
Đúng sáu năm tôi không trở lại thành phố ấy dẫu rằng trong lòng tôi luôn luôn có một nỗi ham muốn trở lại, dù trong sáu năm tôi giấu kín trong lòng mình điều đó, chôn thật sâu trong suy nghĩ của mình, chẳng hề nói ra.
Chúng tôi tìm được địa điểm chốt quân khá lý tưởng. Đấy là chiếc hang đá ở lưng triền núi; hang cao rộng vừa lõm sâu vào vách núi. Cửa hang được chắn bởi tảng đá khổng lồ, rất kiên cố; dù máy bay Mỹ có phát hiện thấy cửa hang mà phóng rốc két, đánh bom tấn thì người ở trong hang vẫn chẳng hề gì! B52 có rải thảm bom thì lại càng không ăn thua.
Sau khi dọn bàn ghế xong, bà Lan chọn chiếc bàn kê sát ngoài cửa ngồi trang điểm. Từ ngày mở quán, bà đâm ra có thói quen ngồi trang điểm như thế, vừa tiện việc mời chào khách, vừa có đủ ánh sáng đầu ngày.
Chiếc váy của Tuyl Cleng va quệt không ngớt vào mấy vạt cỏ hai bên vệ đường. Những chỉ hoa văn ở riềm váy trông như hai cánh tay chạy như bay xuống đồi. Cuốn vở học trên tay cô nhịp nhàng lên xuống như chiếc quạt diễn viên múa. Mùa xuân sắp đến, trời đất như rộng rinh thêm. Những con chim trao trảo, chèo bẻo, ta li eo... cũng hót vang bên rặng rừng, vui lây theo nỗi vui của Tuyl Cleng.