TÔN NỮ NGỌC HOA
"Đường vào Cung Diên Thọ" - Ảnh: Nguyễn Hữu Đính
Vô lý
Em không thấy thế ư
Biết bao điều vô lý
Không riêng gì con chữ G của tôi
Trời vô lý dường kia
Khi nắng xót người giữa mùa đông Huế
Sông vô lý dường kia
Khi chẳng cồn cào như mùa này lụt lũ
Chùm quả xanh vô lý dường kia
Tôi vô lý khi trống không giữa chồng chất bủa vây
Khi mỏi mong điều không bao giờ có
Cả em nữa cũng quá chừng vô lý
Khi ruồng rẫy tình yêu hằng khao khát giữa thanh xuân
Cuộc đua chen vô lý đến hãi hùng
Người ta chạy như rồi chân sẽ không có nữa
Họ chạy như điên dù biết rằng đích tới
Sẽ là sự ngừng vĩnh viễn - không hơn
Còn một điều vô lý không ngờ
Là mọi điều vô lý trở nên có lý
Với thêm thắt đằng sau, đặt bày ở giữa
Như con chữ G trong dòng chữ của tôi.
11-87
Sợ
Tôi không sợ bóng đêm
nơi xui ý nghĩ vẽ nên bao ảnh hình huyễn hoặc
tôi không sợ ánh sáng
nơi dễ dàng bóc trần mọi khuyết tật
không sợ tiếng thét gào mưa gió bão bùng
sấm sét cơn giông tích điện
trước thiên nhiên con người thường bé nhỏ
càng bé nhỏ hơn khi khổ đau
tôi sợ vẻ vô hồn của sự lặng im
với nó không ai rõ người ta yêu thương hay căm ghét
sợ lời khen dối lòng
sợ mình khô nước mắt
và tôi sợ đến chừng ám ảnh
khoảnh khắc trống rỗng khác thường
cứ bất chợt đôi khi ập đến
dìm tôi vào cùng cực cô đơn...
1988
Viết trong đêm khó ngủ
Đêm nghe mưa giọt mái tranh
lá rơi tiếp lá run cành vườn sau
tiếng chim thảng thốt ngọn cau
e chừng gió lạnh luồn vào cánh non
vẩn vơ nghĩ dại nghĩ khôn
nhớ xa xôi chợt ngùi thương kề gần
nhớ ngày qua thuở vừa xuân
thương bây giờ buổi quẩn quanh tơ vò
vẩn vơ nghĩ vẩn vơ lo
ráo hoanh hai mắt ngẩn ngơ như là...
nhủ thầm thôi nhé hỡi ta
ngủ đi thôi - bỗng tiếng gà đổ nhanh
giật mình lại nhận ra mình
với đêm giấc vẫn chưa thành vẫn chưa
ngoài hiên giọt nhặt giọt thưa
giọt rơi chìm tiếng chuông chùa nhẹ buông
trong tôi mưa cũng thầm tuôn
giọt thương giọt nhớ giọt buồn hòa âm
chao ôi còn nữa bao đêm
giấc không thành giấc mơ quên không về.
1990
(TCSH48/03&4-1992)
Tải mã QRCode
NGUYỄN VĂN DINH
NGỌC TUYẾT
Trần Xuân An - Lý Hoài Xuân - Mai Nguyên - Trần Thị Huyền Trang - Trần Bá Đại Dương - Nguyễn Loan - Trần Thị Hiền - Đỗ Văn Khoái - Phùng Tấn Đông - Hồ Huệ - Tôn Lệ Thu Châu - Nguyễn Hữu Quý - Nguyễn Phi Trinh - Việt Trác
Tế Hanh - Hoàng Vũ Thuật - Nguyễn Khắc Mai - Tuyết Nga - Thái Ngọc San - Đặng Thị Kim Liên - Trần Vạn Giả - Huỳnh Duy
HẢI KỲ
Lê Văn Ngăn - Nguyễn Xuân Thâm - Phan Lệ Dung - Bành Thanh Bần - Đào Duy Anh
LÂM THỊ MỸ DẠ
HỒNG NHUChiếc tàu cau (Trích)
Minh Huệ - Xuân Quỳnh - Phương Thúy - Trần Thị Hiền - Trần Hải Sâm - Trần Khắc Tám - Hà Linh Chi - Mai Văn Hoan - Văn Tăng - Thiệp Đáng - Nguyễn Thành Phong - Hà Nhật
LTS: “Đi về sao chửa về đi” có lẽ là câu nhắn nhủ nhiều ý nghĩa nhất của Đào Tiềm vào cuối cuộc nhân sinh. Mười năm trước, ở tuổi bảy mươi, sau hơn 50 năm gắn bó với thơ ca, nhà thơ Tường Linh đã viết bài “Khúc ca quy ẩn” như lời từ giã đời thơ.
LTS: Đỗ Hoàng, sinh ngày 11-10-1949 tại Lệ Ninh, Quảng Bình, có thơ in từ năm 1970 ở các sách báo Trung ương và địa phương. Các tập thơ đã được xuất bản: Mùa lên xanh (in chung) - NXB Tác phẩm Mới 1978; Những miền đất nhớ (in chung) - NXB Lao động năm 1983; Những cánh rừng (in chung) - NXB Thanh niên năm 1984…
Đông Hà - Từ Nguyễn - Đông Triều - Quách Thành - Nguyễn Nhã Tiên - Nguyễn Trọng Văn - Quang Huy - Lê Văn Doãn - Trần Nhuận Minh.
L.T.S: Lý Hoài Xuân: Tên thật là Nguyễn Quốc Duẩn, sinh ngày 26-12-1954 tại Lệ Ninh, Quảng Bình. Tốt nghiệp đại học Luật. In thơ từ năm 1973. Là một chiến sĩ quân đội có mặt trong chiến trường Trị Thiên trong những năm ác liệt nhất. Có nhiều bài thơ và truyện ngắn in trên các báo, tạp chí Văn nghệ, Văn nghệ quân đội , Quân đội nhân dân, Đại đoàn kết, Độc lập, Đất Quảng… và sách của NXB Thuận Hóa , Công an nhân dân.
Thêm một biệt thơ hòa vào xu trào cách tân của Thơ Việt; Phan Quỳnh Dao với bút năng khỏe, cách lập ngôn ngoài khuôn cũ, thơ dòng nào cũng đầy ắp nỗi niềm trong tầng tầng suy tư... Chị vừa xuất bản tập thơ “Khuyết” cuối năm 2010 vừa rồi. Xin trân trọng giới thiệu.Đàn An Nguyên (gt)
Nguyễn Văn Dinh sinh ngày 5-3-1932 tại Quảng Trạch, Bình Trị Thiên. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Có thơ in từ năm 1952. Các tập thơ đã xuất bản: “Hát về ngọn lửa” (in chung), “Cánh buồn quê hương” (in chung), “Hoa trăm miền” (in chung). Giải thưởng về đề tài chống Pháp 1953 của Bộ tư lệnh quân khu 4. Giải thưởng cuộc thi về đề tài lâm nghiệp của Bộ Lâm nghiệp 1969-1971. Giải thưởng văn học Bình Trị Thiên 7 năm 1976-1982.
ĐINH CƯỜNGMười năm rồi Sơn ơi
NGUYỄN PHAN QUẾ MAI
Xuân Hoàng - Nguyễn Xuân Thâm - Phạm Ngọc Cảnh - Mai Nguyên - Thế Dũng - Hải Vân - Hà Đức Hạnh
PHAN DUY NHÂNThơ xuân đọc với nam hà
Lê Huỳnh Lâm - Triệu Nguyên Phong - Nguyễn Hữu Hồng Minh - Trần Ninh Hồ - Phùng Tấn Đông - Trần Hữu Lục - Phạm Trường Thi - Nguyễn Man Kim - Tôn Nữ Thu Thủy - Trương Đăng Dung - Lê Huy Quang - Đoàn Mạnh Phương - Châu Thu Hà - Lê Ngã Lễ - Lâm Anh - Đỗ Văn Khoái - Nguyễn Khắc Thạch - Lê Tấn Quỳnh