Chùm thơ Nguyễn Sĩ Đại

16:34 29/06/2009
Quê Hà Tĩnh.Từng tham gia quân đội trong chiến tranh chống Mỹ, cứu nước.Tốt nghiệp ĐHTH văn Hà Nội, Tiến sĩ văn học, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam Có thơ đăng báo từ 1975. Ngoài làm thơ còn viết phê bình và nghiên cứu văn học.

Nhà thơ Nguyễn Sĩ Đại

 







NGUYỄN SĨ ĐẠI


Thì em, Xuân nhỏ

Đã muộn chưa em, xế bóng giời
Tóc dày hai mái rẽ khơi vơi
Nửa tan quá khứ thành hư ảnh
Nửa vẫn tơ xanh ngút đợi người

Ai thả thuyền tình lên cõi thế
Neo trời chỉ mãi bóng trăng chênh
Ta như cát nhỏ, đời căng gió
Đâu kiếp luân hồi để tái sinh?

Gặp nhau dù khó, thương nhau khó
Vô tình lá rụng, nhạn đường mây
Ta như cát nhỏ, đời căng gió
Thu cả muôn năm lại một ngày.


Thơ lập đông

Anh không thể nào còn tốt được như xưa
Anh biết thế và đau lòng bởi thế
Hết dịu ngọt thôi thì em cứ rẽ
Hoa tình yêu không thể nở đất cằn.

Không thể nào biện hộ được cho anh
Anh biết thế và đau lòng bởi thế
Cánh mơ mộng bay ngàn trùng sóng bể
Đời lăn tăn cũng đủ để đôi đường!

Anh như mọi đàn ông, rốt cuộc tầm thường
Anh biết thế và đau lòng bởi thế
Giá em sớm nhận ra điều đó
Để anh đừng mắc nợ với tình em!

Em đã qua bao dung. Em đã quá muộn phiền
Anh biết thế và đau lòng bởi thế
Có thể bao dung làm dịu lòng tất cả
Không bao giờ là thứ để nài xin

Mỗi số phận trên đời là một nỗi cô đơn
Một thiếu hụt của bàn tay tạo hoá
Là thánh thiện, là tầm thường - có thể
Là nụ cười, nước mắt cũng đành cam...



Ngày rỗi, đánh cờ với anh

Hoàng Cát, nhân viết


Vui bạn thì chơi một cuộc cờ
Vài ly rượu nhạt, sáng liền trưa
Chữ ngờ vốn biết còn kinh sợ
Sự đời tốt thắng, mã xe thua!

Đánh hết ván này, bày ván khác
Hát cười như trẻ tóm quân nhau
Chợt thương người chẳng như cờ ấy
Tóc trắng khôn bày được ván sau

(179-180/01&02-04)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Tôn Phong - Nguyễn Thất Hanh - Bùi Tấn Xương - Trần Thị Ngọc Mai - Nguyễn Tuất

  • Trần Xuân An - Lý Hoài Xuân - Mai Nguyên - Trần Thị Huyền Trang - Trần Bá Đại Dương - Nguyễn Loan - Trần Thị Hiền - Đỗ Văn Khoái - Phùng Tấn Đông - Hồ Huệ - Tôn Lệ Thu Châu - Nguyễn Hữu Quý - Nguyễn Phi Trinh - Việt Trác

  • Tế Hanh - Hoàng Vũ Thuật - Nguyễn Khắc Mai - Tuyết Nga - Thái Ngọc San - Đặng Thị Kim Liên - Trần Vạn Giả - Huỳnh Duy

  • Lê Văn Ngăn - Nguyễn Xuân Thâm - Phan Lệ Dung - Bành Thanh Bần - Đào Duy Anh

  • HỒNG NHUChiếc tàu cau                        (Trích)

  • Minh Huệ - Xuân Quỳnh - Phương Thúy - Trần Thị Hiền - Trần Hải Sâm - Trần Khắc Tám - Hà Linh Chi - Mai Văn Hoan - Văn Tăng - Thiệp Đáng - Nguyễn Thành Phong - Hà Nhật

  • LTS: “Đi về sao chửa về đi” có lẽ là câu nhắn nhủ nhiều ý nghĩa nhất của Đào Tiềm vào cuối cuộc nhân sinh. Mười năm trước, ở tuổi bảy mươi, sau hơn 50 năm gắn bó với thơ ca, nhà thơ Tường Linh đã viết bài “Khúc ca quy ẩn” như lời từ giã đời thơ.

  • LTS: Đỗ Hoàng, sinh ngày 11-10-1949 tại Lệ Ninh, Quảng Bình, có thơ in từ năm 1970 ở các sách báo Trung ương và địa phương. Các tập thơ đã được xuất bản: Mùa lên xanh (in chung) - NXB Tác phẩm Mới 1978; Những miền đất nhớ (in chung) - NXB Lao động năm 1983; Những cánh rừng (in chung) - NXB Thanh niên năm 1984…

  • Đông Hà - Từ Nguyễn - Đông Triều - Quách Thành - Nguyễn Nhã Tiên - Nguyễn Trọng Văn - Quang Huy - Lê Văn Doãn - Trần Nhuận Minh.

  • L.T.S: Lý Hoài Xuân: Tên thật là Nguyễn Quốc Duẩn, sinh ngày 26-12-1954 tại Lệ Ninh, Quảng Bình. Tốt nghiệp đại học Luật. In thơ từ năm 1973. Là một chiến sĩ quân đội có mặt trong chiến trường Trị Thiên trong những năm ác liệt nhất. Có nhiều bài thơ và truyện ngắn in trên các báo, tạp chí Văn nghệ, Văn nghệ quân đội , Quân đội nhân dân, Đại đoàn kết, Độc lập, Đất Quảng… và sách của NXB Thuận Hóa , Công an nhân dân.

  • Thêm một biệt thơ hòa vào xu trào cách tân của Thơ Việt; Phan Quỳnh Dao với bút năng khỏe, cách lập ngôn ngoài khuôn cũ, thơ dòng nào cũng đầy ắp nỗi niềm trong tầng tầng suy tư... Chị vừa xuất bản tập thơ “Khuyết” cuối năm 2010 vừa rồi. Xin trân trọng giới thiệu.Đàn An Nguyên (gt)

  • Nguyễn Văn Dinh sinh ngày 5-3-1932 tại Quảng Trạch, Bình Trị Thiên. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Có thơ in từ năm 1952. Các tập thơ đã xuất bản: “Hát về ngọn lửa” (in chung), “Cánh buồn quê hương” (in chung), “Hoa trăm miền” (in chung). Giải thưởng về đề tài chống Pháp 1953 của Bộ tư lệnh quân khu 4. Giải thưởng cuộc thi về đề tài lâm nghiệp của Bộ Lâm nghiệp 1969-1971. Giải thưởng văn học Bình Trị Thiên 7 năm 1976-1982.

  • ĐINH CƯỜNGMười năm rồi Sơn ơi

  • Xuân Hoàng - Nguyễn Xuân Thâm - Phạm Ngọc Cảnh - Mai Nguyên - Thế Dũng - Hải Vân - Hà Đức Hạnh

  • PHAN DUY NHÂNThơ xuân đọc với nam hà