HUỲNH LÊ NHẬT TẤN
Tôi là bóng đèn tròn
Nằm ngủ tôi cởi ra mọi thứ
Trên dưới thân hình nở ra hai quả trứng pha lê
Nó như hai viên đá âm dương chói lòa da thịt
hiện nguyên tế bào li ti chúng hỏi nhau về một dấu chấm...
Ủ mình bằng chất men ở màn đêm đen
Tôi biến thành sợi tơ sáng rực hong nóng
trong căn phòng thủy tinh tròn căng
nhả ra miền không khí ngạt thở
nước năng lượng chảy đầu ngón chân tay
chúng bị cong xuống tụ luồng khí âm vang
nơi các nghệ sĩ Opera vô hình đang cất tiếng hát
hình khí vo nhau với bụi vi khuẩn
lượt lờ giao cấu bằng va chạm
tôi hít chúng vào lá phổi
tôi nhai tất cả thứ bé nhỏ so với cái miệng
tôi nuốt nước bọt hát bài đồng dao bé dại
Mùa hè nóng oi bức
giọt sương ươm lên đồng lúa vàng
tỏa hương mùi thơm trinh nữ thoát y
Nàng đây rồi. Với hàng triệu con đom đóm dán lên cơ thể
hóa thành pho tượng vàng rực
Loài ấu trùng và cả tôi đều ngủ đông
Trăng lưỡi liềm đong đưa
sợi tơ đỏ trong lò luyện thép
râu tóc lông lá mọc rực phát sáng bốc mùi khoái cảm
Bóng đèn bật sáng. Tôi sẽ mọc cánh dạo quanh
trò chuyện với nhiều cô gái nõn nà
ánh đèn tắt đi bóng tan
Chớp hiện ra cuộn dây đan rối. Bóng tình vụt với loài khỉ già
trong rừng sâu đu bay.
Tự sự tháng chín
Một vòng cung đời bước lặng đi
ta đếm bằng hơi thở buồn
tâm khởi bằng thứ tự ánh sáng nguồn
long lanh suốt chuyện ngàn đêm
Mặt trời trong mắt em đó.
Tiếng còi tàu xe vụt đi qua rất nhanh
trong trí nhớ đường thẳng tím bầm
vết nhơ lửa cháy đọng lại
Màu xám tro tàn
vùng trinh ảo ảnh khoáy ra
Trời nắng chang chang
hành giả chạm đôi chân đất
giọt mô hôi đổ tượng hình cánh đồng muối tan
lòng trắng tinh đánh quên tội ác
người đó đã nghe tiếng gió vù bên tai
sương rơi trên xác lá
điệu nhảy thương yêu gọi về
Trăm quả bóng muôn màu khắc ghi
chúng căng bay tung lên
thông điệp hỏi ông trời
mặt đất sao cứ đọa đày
Những cánh cửa màu vàng
sợi dây nước xanh sóng trói nhau
bốn hướng quay vòng
lòng người ta thác chảy
Con thuyền trên dòng sông khô cạn
Tôi bước đi...
qua nỗi buồn mưa chiều dông
(SH311/01-15)
Tải mã QRCode
NGUYỄN VĂN DINH
NGỌC TUYẾT
Trần Xuân An - Lý Hoài Xuân - Mai Nguyên - Trần Thị Huyền Trang - Trần Bá Đại Dương - Nguyễn Loan - Trần Thị Hiền - Đỗ Văn Khoái - Phùng Tấn Đông - Hồ Huệ - Tôn Lệ Thu Châu - Nguyễn Hữu Quý - Nguyễn Phi Trinh - Việt Trác
Tế Hanh - Hoàng Vũ Thuật - Nguyễn Khắc Mai - Tuyết Nga - Thái Ngọc San - Đặng Thị Kim Liên - Trần Vạn Giả - Huỳnh Duy
HẢI KỲ
Lê Văn Ngăn - Nguyễn Xuân Thâm - Phan Lệ Dung - Bành Thanh Bần - Đào Duy Anh
LÂM THỊ MỸ DẠ
HỒNG NHUChiếc tàu cau (Trích)
Minh Huệ - Xuân Quỳnh - Phương Thúy - Trần Thị Hiền - Trần Hải Sâm - Trần Khắc Tám - Hà Linh Chi - Mai Văn Hoan - Văn Tăng - Thiệp Đáng - Nguyễn Thành Phong - Hà Nhật
LTS: “Đi về sao chửa về đi” có lẽ là câu nhắn nhủ nhiều ý nghĩa nhất của Đào Tiềm vào cuối cuộc nhân sinh. Mười năm trước, ở tuổi bảy mươi, sau hơn 50 năm gắn bó với thơ ca, nhà thơ Tường Linh đã viết bài “Khúc ca quy ẩn” như lời từ giã đời thơ.
LTS: Đỗ Hoàng, sinh ngày 11-10-1949 tại Lệ Ninh, Quảng Bình, có thơ in từ năm 1970 ở các sách báo Trung ương và địa phương. Các tập thơ đã được xuất bản: Mùa lên xanh (in chung) - NXB Tác phẩm Mới 1978; Những miền đất nhớ (in chung) - NXB Lao động năm 1983; Những cánh rừng (in chung) - NXB Thanh niên năm 1984…
Đông Hà - Từ Nguyễn - Đông Triều - Quách Thành - Nguyễn Nhã Tiên - Nguyễn Trọng Văn - Quang Huy - Lê Văn Doãn - Trần Nhuận Minh.
L.T.S: Lý Hoài Xuân: Tên thật là Nguyễn Quốc Duẩn, sinh ngày 26-12-1954 tại Lệ Ninh, Quảng Bình. Tốt nghiệp đại học Luật. In thơ từ năm 1973. Là một chiến sĩ quân đội có mặt trong chiến trường Trị Thiên trong những năm ác liệt nhất. Có nhiều bài thơ và truyện ngắn in trên các báo, tạp chí Văn nghệ, Văn nghệ quân đội , Quân đội nhân dân, Đại đoàn kết, Độc lập, Đất Quảng… và sách của NXB Thuận Hóa , Công an nhân dân.
Thêm một biệt thơ hòa vào xu trào cách tân của Thơ Việt; Phan Quỳnh Dao với bút năng khỏe, cách lập ngôn ngoài khuôn cũ, thơ dòng nào cũng đầy ắp nỗi niềm trong tầng tầng suy tư... Chị vừa xuất bản tập thơ “Khuyết” cuối năm 2010 vừa rồi. Xin trân trọng giới thiệu.Đàn An Nguyên (gt)
Nguyễn Văn Dinh sinh ngày 5-3-1932 tại Quảng Trạch, Bình Trị Thiên. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Có thơ in từ năm 1952. Các tập thơ đã xuất bản: “Hát về ngọn lửa” (in chung), “Cánh buồn quê hương” (in chung), “Hoa trăm miền” (in chung). Giải thưởng về đề tài chống Pháp 1953 của Bộ tư lệnh quân khu 4. Giải thưởng cuộc thi về đề tài lâm nghiệp của Bộ Lâm nghiệp 1969-1971. Giải thưởng văn học Bình Trị Thiên 7 năm 1976-1982.
ĐINH CƯỜNGMười năm rồi Sơn ơi
NGUYỄN PHAN QUẾ MAI
Xuân Hoàng - Nguyễn Xuân Thâm - Phạm Ngọc Cảnh - Mai Nguyên - Thế Dũng - Hải Vân - Hà Đức Hạnh
PHAN DUY NHÂNThơ xuân đọc với nam hà
Lê Huỳnh Lâm - Triệu Nguyên Phong - Nguyễn Hữu Hồng Minh - Trần Ninh Hồ - Phùng Tấn Đông - Trần Hữu Lục - Phạm Trường Thi - Nguyễn Man Kim - Tôn Nữ Thu Thủy - Trương Đăng Dung - Lê Huy Quang - Đoàn Mạnh Phương - Châu Thu Hà - Lê Ngã Lễ - Lâm Anh - Đỗ Văn Khoái - Nguyễn Khắc Thạch - Lê Tấn Quỳnh