Hành trang người lính
(Viết cho mình và đồng đội tôi cùng những người lính đang cầm súng bảo vệ Tổ quốc)
Tuổi đôi mươi với khẩu súng trên vai
cùng chiếc ba lô
chúng tôi mang hành trang quê hương đi đánh giặc
là dáng mẹ liêu xiêu trên cánh đồng gió bấc
là hình bóng cánh tay cha sần sùi dầm mưa, dãi nắng
kéo lưới trên sông
là giọng em thơ bập bẹ gọi ông bà, cha mẹ
là nước mắt chị suốt ba mươi năm ngóng chồng đằng
đẵng chờ tin
là bóng lũy tre làng xanh rợp tiếng chim
xanh vào những lời ru, câu hát
là cây đa sân đình đêm trăng sáng ai hẹn hò ai
là cánh cò dập dìu trên cánh đồng lúa chín tháng năm,
tháng mười
là hố bom thù khoét sâu vào lòng đất đai chảy máu
là di chỉ của làng
là hương ước của cha ông...
tất cả thành lời thề cứu nước
Thế hệ chúng tôi
em sau, anh trước
cùng tiếp bước nhau
“xẻ dọc Trường Sơn...”
dưới làn bom B52 và pháo bầy pháo chụm
kết thúc Chiến dịch Hồ Chí Minh và dẹp xong giặc phương Bắc xâm lấn
lại tiến tới đảo xa theo tiếng gọi Trường Sa
chiếc ba lô vẫn xếp đầy hành trang yêu dấu quê nhà
chúng tôi lại lấy làm lá chắn chở che thân hình Tổ quốc
hành trang nhắc nhở chúng tôi: “Không được bao giờ
buông súng... nguôi quên...”.
Ban mai
Ban mai - tấm gương trời trong veo rộng lớn
soi chiếu mọi ngõ ngách phố xá, làng mạc, sông, núi, ruộng, vườn...
ta thấy rõ khuôn mặt của gió sáng trưng dịu dàng
cây cối gật gù đắc chí được tiếp nhận ánh phản quang
của tấm gương trời ban mai rực rỡ
trong sân nhà những đóa hồng cũng đã thức dậy kịp nở nụ cười thân thiện sẻ chia...
dòng sông thấy mình trẻ lại tuổi đôi mươi - mở hết lòng
đón đưa những chuyến đò chở đầy câu hò qua bến đợi
núi mơ màng vươn vai đứng dậy soi mình như một gã si tình già nua vừa được hồi xuân
Ta chạy bộ ra phố như cánh chim mới ra ràng hớn hở vừa rời vòng tay mẹ
ban mai tinh khiết vô ngần
ta nhẹ nhàng hít thở như con tằm bấy lâu tự giam mình
trong tổ kén cô đơn lần đầu tiên được tiếp xúc với khí trời
ban mai vừa là gương soi - vừa mỏng mềm tơ lụa có thể
chạm vào là ngân rung như những nốt đàn trầm
một Ngày Mới khởi nguyên từ ban mai tinh khiết
(TCSH439/09-2025)
Tải mã QRCode
NGUYỄN NGỌC HẠNH
ĐINH THỊ NHƯ THÚY
HUỲNH LÊ NHẬT TẤN
PHÙNG CUNG
VŨ THANH HOA
Ngô Liêm Khoan - Nguyên Hạnh - Trần Hương Giang - Hoàng Ngọc Giang - Dương Anh Đằng - Trịnh Minh Hiếu
Lê Tấn Quỳnh - Nguyễn Đông Nhật - Trần Thị Tường Vui - Đỗ Thượng Thế - Kiều Trung Phương - Nguyễn Thanh Văn - Từ Nguyễn - Huỳnh Ngọc Phước
NGUYỄN HƯNG HẢI
NGUYỄN THIỆN ĐỨC
PHẠM ÁNH
LTS: Hoàng Cầm tên thật là Bùi Tăng Việt. Sinh ngày 20 tháng 2 năm 1922 tại làng Phúc Tằng, huyện Việt Yên (do đó mới có tên là Tăng Việt), Hà Bắc. Con một nhà nho không thành đạt, sống bằng nghề thầy thuốc. Hoàng Cầm (tên một vị thuốc rất đắng) là bút danh dùng từ năm 1939.
(Trích trong tập thơ sắp in: “Những vẻ đẹp khác”)
LTS: Nhà thơ Hữu Loan, tác giả bài thơ nổi tiếng "Màu tím hoa sim", tham gia cách mạng từ năm 1936 trong phong trào học sinh ở Thanh Hóa.
LTS: Trong 5 năm qua, trên những trang thơ, cùng với việc giới thiệu các tác giả có nhiều tìm tòi, có bút pháp riêng như Văn Cao, Thanh Thảo, Trần Vàng Sao, Phạm Tấn Hầu... Sông Hương đã chú ý đến những cây bút ở cơ sở - mà anh em trong tòa soạn gọi vui là "tác giả chân đất, như Phương Xích Lô, Nguyễn Thị Thái...
Nguyễn Ngọc Phú - Nguyễn Văn Thanh - Đỗ Hàn - Phan Văn Chương - Tháng Năm - Nguyễn Ngọc Hưng - Phạm Xuân Phụng - Nguyễn Ngọc Hạnh - Nguyễn Loan - Triệu Nguyên Phong
Tên thật: Trương Nhật Tín, sinh năm 1991, quê quán thôn An Ngãi Tây, xã Hòa Sơn, Đà Nẵng. Hiện sống với gia đình tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Daklak; - bị khiếm thính nhẹ từ nhỏ. Từng có thời gian ở Hà Nội và sống nhiều lần ở Sài Gòn. Bắt đầu làm thơ, viết truyện, Văn Phẩm Ý (dạng tùy bút phác họa vô thực)… từ khoảng năm 2005, 2008.
ANH THƠ
PHAN HOÀNG
Nguyễn Hồng Hạnh - Phan Lệ Dung - Hoàng Long - Hoàng Vân Khánh - Nguyên Quân - Bùi Mỹ Hồng - Đỗ Tấn Đạt - Nguyễn Nghĩa - Từ Sâm
ĐÔNG TRIỀU