Nhan đi dọc bờ suối ngắt những đọt rau dớn. Hái được một bó vừa nắm tay, cô bứt dây leo cột chặt thả vào cái gùi mây sau lưng. Mớ rau này đem về cho bà nấu cơm trưa, còn một ít sẽ mang xuống huyện bán cùng rau cải trong vườn. Hơn mười ngày chưa xuống chợ, Nhan thèm cái náo nhiệt của chốn đông người, thèm bát bún bò thơm mùi húng lủi. Cô nhớ nụ cười của anh bán nông cụ, ghé mua lưỡi cuốc, thể nào anh cũng trêu cô mấy câu. Bà vẫn hay dặn Nhan: “Con trai nó trêu cứ ngậm miệng cười chứ đừng nói gì cả. Nói ra nó lòi hết cái vô duyên của mày.” Nghe lời bà, người ta nói gì cô cũng bẽn lẽn lặng thinh, dù lời nói có nhạt như nước ốc.
Nhan vẫn tiếp tục nghĩ về anh bán nông cụ. Chà, cái anh chàng đáng yêu tệ. Giọng anh nói mới hay làm sao, trên má có cái nốt ruồi nhỏ nâu nâu không lẫn với ai được. Gặp nhau rồi, về nhà Nhan nghĩ mãi đến anh. Bao nhiêu lần, trong nỗi mơ mộng thầm kín, cô thấy anh dẫn bố mẹ họ hàng leo lên những dốc núi hiểm trở, lội qua mấy con suối lớn đến căn nhà của bà cháu Nhan hỏi cô làm vợ. Trước lời cầu hôn của anh, dù hạnh phúc trong lòng cô vẫn ra điều kiện, rằng nếu anh lấy cô thì phải để cô dẫn bà về ở cùng. Cô không muốn làm đứa cháu hư, cưới chồng rồi thì bỏ bà thui thủi một mình.
Nhan vừa đi vừa nghĩ, cái gùi sau lưng nặng dần, mớ rau tràn ra miệng gùi, rung rinh những đọt non mềm cong vòng cuộn tròn như xoắn ốc. Mặt trời lên cao bung tỏa ánh nắng giữa ngàn mây rực rỡ. Khói trắng bay là là từ các hốc đá không tan quấn chặt bước chân Nhan. Cô vốc một bụm khói vỗ lên mặt, hít hà mấy tiếng thật to. Những cánh bướm nháo nhác đập cánh phần phật như trời nổi gió. Nhan băng qua đám cây bụi rẽ xuống con đường mòn. Bông cúc tần vướng lên mái tóc loăn xoăn của cô những sợi màu ánh tím.
Nắng xuân rạng rỡ lênh láng chảy khắp rừng, mắt còn hấp háy vì lóa nắng, Nhan thấy trước mặt mình, từ bao giờ đã sừng sững một con gấu trắng. Con gấu đứng trên hai chân sau, vóc dáng to lớn, nhìn Nhan bằng đôi mắt âu sầu. Tiếng thở của nó thật ầm ĩ, nghe giống động cơ một chiếc máy cày, cái mũi ươn ướt phập phồng như mũi con trâu mộng. Nhan không thấy sợ hãi, cũng không thấy bất ngờ, chỉ nghe nhột nhạt dưới chân. Co chân lên, nhổ nước bọt vào kẽ, cô bứt ra con vắt đang oằn oại. Chỗ bị đốt chảy máu không ngừng, nếu là ở nhà cô sẽ đập một cục than hồng lấy bột rắc vào vết đốt để cầm máu, nhưng giữa rừng già, cô bình tĩnh chịu đựng cơn ngứa ngáy, búng con vắt đi thật xa.
Con gấu vẫn nhìn Nhan, buồn bã và nhiều hàm ý. Cô thở dài, cúi xuống hai bàn chân lấm lem, khí núi từ đâu ùa đến khiến mũi cô tê cứng. Nhan cởi cái gùi mây nặng trĩu thả xuống đất, một bó rau lăn ra nằm giữa đám cỏ. Công sức của cô suốt buổi sáng nay để đây đến chiều thế nào cũng có người thấy. Họ sẽ mang về cho bà cô hoặc mang về nhà mình. Đằng nào cũng như nhau cả, Nhan chỉ mong người ta biết cái gùi này là của cô.
Con gấu quay lưng đi về phía núi, Nhan lặng lẽ theo sau. Có nó mở đường, Nhan chẳng sợ gai đâm, cũng chẳng sợ rắn rết. Được mấy giờ mỏi chân không đi nổi nữa, Nhan tìm đến mô đá bằng phẳng ngồi nghỉ mệt. Con gấu nằm yên bên cạnh cô, dãi ứa ra từ hàm răng nhọn. Nhan quay đầu sang nơi khác, nhắm mắt lại nghe hơi ẩm từ phiến đá thấm dần vào người. Đã qua giờ cơm trưa, chắc bà đã dùng bữa rồi, như mọi khi bà để phần cô một bát to. Chảo thịt rắn mối xào sả ớt lúc tối vẫn còn, bà ăn nhín, chừa cho Nhan những miếng ngon nhất.
Con gấu bước đến dụi mõm vào cánh tay Nhan, cô vuốt ve bộ lông dày của nó, dịu dàng như nựng một con vật cưng. Rất tự nhiên, Nhan trèo lên lưng gấu, để nó cõng qua những tầng rừng dày, chỗ ấy ẩm ướt và buốt lạnh, hầu như chưa bao giờ được mặt trời chiếu đến. Nhan nghe tiếng bò trườn ầm ĩ của các loài rắn độc, những con rết to bằng cổ tay nấp trong hốc đá khua chân lạo xạo. Có những loài chim sải cánh thật dài, lông vũ lông mao óng ánh như rắc kim tuyến, chúng đậu trên cành cao, giương đôi mắt trong như hạt ngọc nhìn Nhan.
Nhan mân mê hai cái tai mềm của con gấu trắng, cô lại nghĩ đến bà. Những năm còn thơ bé, Nhan ngủ cùng bà trên cái chõng tre kê góc nhà, bà hay vuốt tóc cô, kể về những tháng ngày xa xưa, hồi ấy bà và bố mẹ Nhan còn ở dưới lòng hồ. Chỗ ấy đẹp lắm, có sông có đồng, có những ngôi nhà nằm thiêm thiếp sau lũy tre xanh. Thế rồi một ngày người ta xây đập, cả làng phải di cư lên vùng núi cao, nước dâng từ từ, ngập đến đâu thì gồng gánh rời đi đến đấy. Nhà cửa làng mạc chìm sâu trong lòng nước, cái đồi cao thật cao giờ thành cái cồn nổi giữa hồ, cây mọc ngút ngàn, chim bay mỏi cánh thì sà xuống đậu.
Những đêm mưa rừng não nề, người lớn tuổi ngồi bên bếp lửa đỏ nghe tiếng giọt nước chảy trên mái gianh, vẫn hay cười bảo cầu trời cho mưa thật lớn, vỡ đập rồi là sẽ được về lại quê hương. Hồi ấy Nhan còn nhỏ, nghe chẳng hiểu gì. Sau này biết hơn tí chút thì chỉ thấy thương cho niềm mong ước ấy. Về lại chỉ còn sình lầy, mấy cô bác nhớ quê mà nói nhảm. Bà Nhan cũng nhớ quê mà chẳng bao giờ thở than. Bà chịu đựng suốt một đời, buồn đau nuốt vào lòng biến thành cái lõi cứng. Lúc bố mẹ Nhan bị cây đè chết, Nhan khóc ngất, thế mà mắt bà vẫn ráo hoảnh.
Kể từ ngày ấy nhà chỉ còn lại hai bà cháu. Nhan lớn lên trong vòng tay bà, dù bà hay mắng Nhan, lấy roi mây đánh Nhan, cô vẫn tự nhủ mai này sẽ chăm sóc bà, lấy chồng cũng dẫn bà theo ở cùng. Thế mà bây giờ chuyện đã khác rồi, Nhan không về với bà được nữa. Bà đứng trước hiên đợi Nhan, bà ra ngoài ngõ trông về phía núi, tóc trên đầu bạc thêm, những nếp nhăn hằn sâu hơn, đôi mắt mờ đục đi, thế mà vẫn không thấy Nhan đâu. Nghĩ đến đấy, Nhan bật khóc. Bất hạnh chờ chực xung quanh, đâu ai ngờ được chuyện gì sẽ đến.
Mấy năm trước chị Han gần nhà Nhan lên rừng đốn củi, tối mịt rồi chẳng thấy chị về, người ta định đốt đuốc đi tìm thì thấy bóng chị lừ lừ đầu ngõ. Thời gian sau bụng chị to dần, đủ ngày đủ tháng thì sinh được thằng bé kháu lắm. Con hơn ba tuổi chị để cho bố mẹ nuôi, một mình xuống xuôi tìm việc, từ bấy đến nay chẳng thấy chị về thăm nhà. Năm ngoái chị Miên cãi nhau với chồng, giận quá chị bỏ vào núi, hôm sau người ta thấy chị chết dưới gốc cây gạo, hoa gạo rơi đỏ người chị, đẹp như nàng tiên đang ngủ.
Nhan khóc thương các chị ấy, bây giờ đến lượt cô xót xa cho mình. Đeo gùi lên rẫy, Nhan hay nhìn theo dòng suối chảy, hình dung đến những vùng đất chưa bao giờ đặt chân đến. Ở đó có tiếng nói tiếng cười, có giống cây giống vật xa lạ và đẹp đẽ. Những nhát cuốc Nhan bổ xuống lớp đất cứng cứ nảy tưng lên. Đất đỏ như máu, mấy con giun bị lưỡi cuốc phạt đứt. Bà cô kể có nhà sư nọ đào đất trồng cây, xắn phải con giun, thấy nó ngoe nguẩy, ông kinh hãi vứt cuốc tụng kinh sám hối, tụng bao nhiêu vẫn không hết ám ảnh, ông vun lá khô ngập mình châm lửa tự thiêu.
Nhan mong câu chuyện bà kể không phải chuyện thật. Loài giun có khả năng tái sinh, khi bị đứt đôi, chúng không chết mà trở thành hai con chỉ sau một thời gian ngắn. Nhan biết thế nên chẳng xót xa, cứ miệt mài bổ cuốc, tra hạt, lấp đất như cái máy. Đất xấu, bọn giun kiếm ăn vất vả, con nào con nấy bé tẹo. Đất xấu, người làm lụng cũng vất vả, trời nắng hay mưa, lên nương là mồ hôi chảy ra như tắm. Nhan đã bổ bao nhiêu nhát cuốc xuống đất này, chẳng ai rỗi hơi mà tính. Chỉ biết lưỡi cuốc nhanh cùn mẻ, cô hay ghé hàng nông cụ cũng vì thế.
Nhan gục mặt xuống lưng gấu, cô kể với nó về tuổi ấu thơ, về thời niên thiếu, về bố mẹ mình, về người bà tóc bạc lưng còng đang chờ ở nhà. Nhan không nhớ anh bán nông cụ nữa. Người ta chỉ nghĩ đến tình yêu khi vui vẻ trong lòng, còn lúc cận kề sinh tử tình cảm ấy không hề thích hợp. Mặc Nhan rên rỉ, con gấu vẫn lặng thinh, nó thung dung đi giữa rừng già như chúa tể. Nó không đáp lời Nhan, nỗi bất hạnh và cái chết không có tiếng nói, niềm vui và sự sống cũng không có tiếng nói. Tiếng nói là của con người trong những hoàn cảnh ấy cất lên, thống thiết hoặc thống khoái.
Nhan khóc mãi đã thấy mệt. Cô quệt nước mắt, hốc mũi tê tái. Năm ngoái bà cụ dưới dốc nhà Nhan hấp hối, người ta để cái gương trước mũi cụ, không thấy hơi nước đọng thì biết cụ tắt thở. Nhan sợ mình tắt thở, cô căng lồng ngực hít một hơi dài. Nhớ lần Nhan đi mò ốc bị trúng nước nằm liệt giường, mũi nghẹt cứng chỉ thở được bằng miệng. Bà đi bộ xuống bệnh xá xin thuốc cho Nhan, những viên thuốc tròn dẹt đủ màu đắng nghét. Yếu mệt không nuốt nổi bát cơm khô, Nhan nằm mê man, đắp mấy cái chăn một lúc vẫn nghe gió lùa qua khe ván ngọt cắt thịt.
Nhan co chân lên, vết vắt đốt trong khe ngón đã ngừng chảy máu. Chỗ ấy ngứa ran, dính những vệt máu đông lợn cợn thoảng mùi gỉ sắt. Nhan vén tóc nhìn xuống cổ áo, hai bầu ngực cô căng tròn, những mạch máu xanh lặn dưới làn da trắng ửng như cánh hoa bướm bạc. Những lúc tắm ở suối, Nhan hay tìm chỗ nước chảy đầm mình thật sâu, nghe dòng nước mơn trớn làn da, vỗ về những chỗ sâu kín nhất. Có gã trai nấp sau bụi rậm nhìn Nhan. Cô không xấu hổ, cũng không khinh ghét, chỉ khỏa nước lên thân thể, chăm chút như tẩy trần một ngôi đền và nghĩ đến anh bán nông cụ, ước cái gã trên kia là anh.
Con gấu vẫn chậm rãi bước đi. Qua tầng rừng dày đến tầng rừng thưa, nắng rơi qua khe lá những mảng sáng vàng sậm, trời đã chiều rồi, tiếng chim buổi chiều khác tiếng chim buổi sớm. Đây là buổi chiều cuối cùng trong cuộc đời mình, Nhan lan man nghĩ. Bây giờ thì cô không còn tiếc xót nữa, nỗi đau và niềm thương nhớ cô đã bỏ lại sau đuôi con gấu rồi. Nhan nghe đám bạn kể về con đường xuống hoàng tuyền, chúng kháo nhau dọc đường nở đầy hoa bỉ ngạn. Bây giờ Nhan có thể đường hoàng cười vào mũi lũ ngu ngốc ấy. Chẳng có hoa lá gì đâu chúng mày ạ, chỉ có nỗi cô đơn thôi. Cô đơn như lúc chui ra từ bụng mẹ bị bà đỡ cầm lưỡi hái cắt dây rốn và tét vào mông ấy.
Cầu trời cho đám ngốc được sống yên ổn. Nhan thành tâm nghĩ trong khi con gấu leo lên một vách đá dựng đứng. Ở vị trí này, Nhan nhìn rõ thung lũng mình sinh sống, trông nó thật thảm hại giữa thiên nhiên hùng vĩ, y hệt cái sẹo xấu xí trên gương mặt cô gái đẹp. Mây giăng qua mắt Nhan, vướng trên rèm mi cô những sợi mỏng như tơ nhện. Mặt trời giờ đây gần Nhan hơn lúc ở dưới nhà, những tia nắng bén nhọn như kim khâu đâm vào da thịt cô, nóng rẫy và tê buốt.
Gấu trắng ơi, gấu trắng à, mày đi mãi như thế không mỏi chân hay sao. Mày ngoái đầu lại nhìn xuống thung lũng dưới kia đi, cái vệt trắng ngoằn ngoèo lóa nắng là dòng nước uốn lượn giữa ghềnh đá, dãy gò đồi cây mọc ngay hàng thẳng lối là rẫy keo lá tràm. Gấu trắng biết cây keo để làm gì không? Để làm giấy đấy, sách vở học trò từ gỗ keo mà ra. Cái khối trăng trắng kia là trường học, trông gần vậy thôi nhưng đi nửa ngày mới tới. Mùa đông lạnh lẽo, tao cầm bọc cơm nắm bà cho, vừa ăn vừa leo dốc đến trường, sương mù đậm đặc, phải vén sương như vén rèm mà đi.
Ôi, cái vách đá mày leo sao mà dựng đứng, gió thổi ù ù như có con vắt trong tai. Ngày còn bé, tao nhìn lên đỉnh núi cao nhất mà hỏi đằng sau nó có gì. Bà bảo chỉ có núi thôi, hết núi này tới núi nọ, trùng điệp không dứt như năm tháng đời người. Tao chán nghe bà nói quá, toàn mấy lời bi quan. Trên vách ván gỗ nhà tao treo tờ lịch chụp cảnh biển, lịch cũ rồi, từ năm nảo năm nào. Tao đoán sau ngọn núi này là biển. Tao chưa thấy biển bao giờ. Mày cõng tao đến biển được không?
Nhan lầm rầm như độc thoại. Cô không còn sức nữa, giọng nhỏ dần như tiếng gió vi vu. Con gấu chẳng cõng Nhan đến biển, nó cõng cô lên đỉnh trời, đấy là thánh đường của nó nhưng là tử địa của cô. Lưng gấu êm như tấm đệm nhung, Nhan chưa từng nằm đệm nhung, chỉ nằm đất hoặc nằm trên cái vạt giường cũ mục, cựa mình một cái nó kêu như sắp gãy. Trời tối rồi, trăng đã mọc, vầng trăng lưỡi liềm mảnh mai thật đẹp, giá mà lấy nó làm cái gối ngả đầu thì chắc sẽ ngủ ngon lắm. Nhan bật cười với ý nghĩ của mình, vẫn đăm đắm nhìn trăng.
Như thực hiện một nghi thức hiến tế, con gấu đứng thẳng trên hai chân sau, trang trọng bế Nhan bằng hai chân trước. Bóng nó lồng trong mảnh trăng non gác trên đỉnh núi, nhìn xa giống hệt chiếc thuyền trôi giữa khói sương. Nhan vươn tay chạm vào vầng trăng bạc, nghe buốt lạnh cả người. Con gấu ngửa cổ gầm lên một tiếng thật vang, tiếng gầm thổi bay những sợi mây bạc và lay chuyển những ngọn du sam cao nhất. Đêm vừa bắt đầu, một đêm mùa xuân ẩm ướt buốt lạnh. Phía dưới thung lũng, những ngôi nhà lúp xúp kề chân núi thắp lên ánh điện, bao ngọn lửa đỏ bập bùng trong gian bếp ấm, Nhan chẳng còn xuống dưới ấy được nữa, cô ở mãi lại đây, với con gấu trắng, với mảnh trăng này...
L.N
(TCSH436/06-2025)
Tải mã QRCode
ANH DƯƠNGCòn sống đến nay, ông tôi phải hơn trăm tuổi. Trước ngày chết, ông kể cho tôi câu chuyện thương tâm này.
NGUYỄN XUÂN HOÀNG1. Từ Huệ nằm thiêm thiếp bên cạnh án thư. Tóc râu chàng bạc trắng. Đêm qua, ngoài trời mưa gió to quá. Chàng không làm sao ngủ được. Từ Huệ sợ mưa, sợ phải nghe thấy những âm thanh cuồng nộ của trời đất. Điệu luân vũ ấy là nỗi ám ảnh khi chàng còn là một anh khóa vô danh.
PHAN TUẤN ANHLớp Lý trong một chiều nhốn nháo. Vài đứa con gái ngồi sụt sùi cho nhân vật nữ trong phim trên ti vi chết sớm và nguyền rủa đạo diễn như một tay giết người. Những đứa con trai thì tiếc rẻ cho một vài pha bóng hụt tối qua, để lại hậu quả là mất hẳn một "tháng lương" mà nhẽ ra đã có thể lĩnh sáng nay tại... chủ quán.
NGUYỄN VIỆT HOÀLGT: Khi ánh sáng phản chiếu từ mặt trái đồng tiền ùa vào cánh cửa làng mở rộng, “sức nóng” của nó gần như thiêu rụi mọi nền tảng đạo đức một bộ phận không nhỏ đám thượng lưu gồm cả quan viên hương lý. Căn bệnh mà tác giả Nguyễn Việt Hoà mổ xẻ trong truyện ngắn dưới đây, dẫu chưa cao tay để diệt bằng hết những vi-rút-làng, song việc ngăn chặn một đại dịch bắt đầu là có thể...S.H
TRẦN HẠ THÁP1/ Người đàn ông đang huơ rìu. Liên tục những bi củi tươi bị xé phanh, toang toác. Gió lạnh một buổi tàn đông, sắp Tết nhưng trên khuôn ngực mồ hôi loang lổ như mưa. Xóm lò heo. Buổi sáng chưa mở mắt đã hỗn độn, mù trời hơi nước. Cái thế giới được khoanh vùng bằng tiếng kêu bi thiết các con vật thảm tử. Mùi phân chuồng phát tán, nghẹt thở. Tiếng người lê la trả giá, mặc cả. Tiếng cười rộ lên đắc ý trộn lẫn tiếng chửi thề tục tằn đe doạ. Đâu đó, mơ hồ giọng trẻ con khóc và tiếng ru hò ngái ngủ xa xôi…
NGUYỄN NGỌC LỢITôi diện bộ "téc gan" quân nhu, dắt súng vào người, dặn dò cậu lái xe rồi hoà vào dòng người đi ra sân bay. Được giao nhiệm vụ về nước sắm hàng, gặp một sự kiện quan trọng, tôi không muốn bỏ lỡ dịp được chứng kiến. Thị xã Lộc Ninh năm 1973 đã trở thành thủ đô của chính phủ cách mạng.
THÁI BÁ TÂN…Con chim hung dữ màu đen là trọng tâm của bức tranh, được ông giành hết tâm sức miêu tả rất sống động. Trong tranh, nó đang bám chân vào ngực Prômêtê, xoè hai cánh giữ thăng bằng, chiếc mỏ khoặm ngậm một miếng tim vừa moi từ lồng ngực khổng lồ của chàng…
NGUYỄN ĐỨC SĨ TIẾNMọi người đến Huế với những lí do khác nhau. Riêng các văn nghệ sĩ thì thường đến để tìm cảm hứng sáng tác. Tuy nhiên ý tưởng của mỗi người thì mỗi khác, chẳng ai giống ai. Họa sĩ Vĩnh Trung và nghệ sĩ Hải Lý là một trong những trường hợp như vậy.
XUÂN ĐÀIChuyện thằng Thanh con cô Ngoan ở làng Đông cuối tháng này tổ chức đám cưới với con Thuý con cô Lâm ở làng Nổi, dân xã Vĩnh Sơn ai cũng tỏ tường. Cái đận cô Lâm có chửa, điều tiếng khắp làng, người ta đoán già đoán non về cha của đứa bé. Đoán vụng đoán trộm, thì thầm nhỏ to sau lưng, chứ thấy bóng cô đi ngang qua là họ im bặt. Nó mà nghe được nó tế cho! Nó vén mồm, vén váy, réo tên cúng cơm ba đời nhà mình ra mà chửi.
PHẠM THỊ XUÂNChị Xoan trở mình nhè nhẹ, sợ làm đứa cháu giật mình thức giấc. Chị quay mặt vào tường như cố tránh cái ánh sáng xanh dịu phát ra từ ngọn đèn ngủ. Chị nhắm kín mắt nhưng vẫn không sao ngủ được. Đầu óc chị rối bời bao ý nghĩ. Có một cái gì day dứt, một cái gì tiếc nuối, một cái gì hẫng hụt vừa đi vào cuộc đời chị. Chị bỗng thấy lòng mình trống trải đến vô vị...
PHẠM THỊ XUÂNLGT: Ấn tượng của một nữ tác giả mới lần đầu tiên gửi tác phẩm đến cho TCSH thật khá đậm đà. Ấy là Phạm Thị Xuân, một phụ nữ ở độ tuổi đã qua thời thanh xuân, đang công tác tại một đơn vị y tế huyện Quảng Điền.
QUÝ THỂCó ai đến nhà chơi, bà cụ Tuần chỉ mép tấm phản gỗ mời ngồi, bà nói:- Giang sơn của "bầy choa" (chúng tôi) chỉ có chừng ni. Không ghế bàn, xa lông, sập gụ tủ chè chi cả, chịu khó ngồi đỡ, ông bà mô áo quần trắng trẻo sạch sẽ sợ dơ, thì ngồi lên đây. Bà cụ xoè cái quạt giấy cũ đã rách, lộ ra mấy cái nan tre lót cho khách ngồi. Nhưng không ai nỡ ngồi lên cái quạt giấy của cụ.
NGUYỄN THỊ ANH ĐÀO...Sáng hôm ấy bà con xóm đạo đi lễ rất đông. Người ta nhìn thấy một vệt sao băng vào lúc trời tảng sáng. Họ cho rằng Chúa thấu hiểu được nỗi đau đang dày xéo trên thân thể Xoan. Nhưng cũng chính vì thế mà bố cô lại quay về làm chính con người liêm khiết hồi xưa. Thiên đường cũng có những con đường riêng để người ta sám hối.
XUÂN ĐÀI 1. Mỗi lần từ quê trở về Sài Gòn, sống bên chồng và hai đứa con, tôi không nguôi nhớ đến chị. Năm nay chị đã ngoài bốn mươi, không chồng, không con, lủi thủi ra vào trong ngôi nhà một gian hai chái. Ngôi nhà vừa được xây dựng cách đây gần ba năm bằng số tiền chị tằn tiện, chắt bóp mười mấy năm và tiền vợ chồng tôi phụ giúp chút đỉnh. Vài ba năm, vợ chồng con cái chúng tôi mới về thăm chị một lần. Chị mừng, chị vui, trò chuyện với các cháu suốt ngày. Chị quấn quýt lũ trẻ, lũ trẻ cũng quấn quýt chị.
TRẦN THỊ TRƯỜNGNgày trăng tròn lẻ. Tháng Trung Thu năm Đại Bảo thứ 3.Người hai lưỡi bảo là ngày Sao Thổ phạm vào Thái Âm.Người ngắn lưỡi nói Sao Chổi mọc ở phương Tây.Người dài lưỡi bảo có tinh vượn đen ăn mặt trời, ngày Nhật thực, nếu không yểm kỹ sông Nhị đang nảy vàng ròng sẽ ngừng.Động đất.
VIỆT HÙNGTrước đây, anh là người lừng danh, một tay "cua - rơ khét tiếng" trên xa lộ. Đã một thời anh chỉ biết chiến thắng. Người ta từng mệnh danh, anh là người sinh ra để đua xe đạp, anh không hề có đối thủ. Anh xem thường sự chiến thắng của mình, cho nó là điều hiển nhiên. Anh coi ánh hào quang của vòng nguyệt quế chỉ có tác dụng tô điểm thêm cho vẻ đẹp của mình mà thôi. Bởi, không có nó, anh vẫn là một thần tượng chẳng gì "khuất phục nổi".
NGUYỄN THÁNH NGÃĐêm nay trăng nhão, không biết là đêm trăng gì. Ở xa nhìn về đồi Kà Mạ vẫn một khối đen sì. Nếu có ai nhướn mắt nhìn thật kỹ sẽ thấy cái khối đen sì ấy nhô lên như một cái đầu người đôi mắt lấp láy đom đóm. Thỉnh thoảng gió hất cái đầu tóc rối bù xù bay về phía ruộng. Tiếng chim cú kêu mỗi lúc một thê lương, ớn lạnh từng đốt xương sống...
THÁI BÁ TÂNTháng trước, ở phường B. thị trấn Đức Giang, huyện Gia Lâm, nơi tôi về nghỉ hưu mấy năm nay, đã xẩy ra một vụ trọng án có nhiều tình tiết rất kỳ lạ, có thể nói bí ẩn không sao giải thích nổi, đến mức cuối cùng người ta quay sang cho rằng nhất định phải có yếu tố thần linh ma quỷ trong vụ này.
PHẠM THỊ ANH NGA Truyện ngắn...trái tim có những lý lẽ mà lý trí không thể nào biết được...
PHAN VĂN LỢIBuổi giao lưu và trao giải thưởng cho các tác giả đoạt giải trong cuộc thi viết truyện ngắn do Hội Nhà văn tổ chức đã tiến hành được gần nửa giờ. Gã nhấp nhỏm trên chiếc ghế kê phía sau cánh gà sân khấu, bồn chồn không yên. Chừng thông cảm với tâm trạng của gã, cô gái phục vụ mặc áo dài đỏ bưng tới cho gã ly nước, nhẹ nhàng nói: "Chú cứ yên tâm ngồi nghỉ cho khoẻ. Giải A bao giờ cũng trao cuối cùng, chú ạ!"