Nhan đi dọc bờ suối ngắt những đọt rau dớn. Hái được một bó vừa nắm tay, cô bứt dây leo cột chặt thả vào cái gùi mây sau lưng. Mớ rau này đem về cho bà nấu cơm trưa, còn một ít sẽ mang xuống huyện bán cùng rau cải trong vườn. Hơn mười ngày chưa xuống chợ, Nhan thèm cái náo nhiệt của chốn đông người, thèm bát bún bò thơm mùi húng lủi. Cô nhớ nụ cười của anh bán nông cụ, ghé mua lưỡi cuốc, thể nào anh cũng trêu cô mấy câu. Bà vẫn hay dặn Nhan: “Con trai nó trêu cứ ngậm miệng cười chứ đừng nói gì cả. Nói ra nó lòi hết cái vô duyên của mày.” Nghe lời bà, người ta nói gì cô cũng bẽn lẽn lặng thinh, dù lời nói có nhạt như nước ốc.
Nhan vẫn tiếp tục nghĩ về anh bán nông cụ. Chà, cái anh chàng đáng yêu tệ. Giọng anh nói mới hay làm sao, trên má có cái nốt ruồi nhỏ nâu nâu không lẫn với ai được. Gặp nhau rồi, về nhà Nhan nghĩ mãi đến anh. Bao nhiêu lần, trong nỗi mơ mộng thầm kín, cô thấy anh dẫn bố mẹ họ hàng leo lên những dốc núi hiểm trở, lội qua mấy con suối lớn đến căn nhà của bà cháu Nhan hỏi cô làm vợ. Trước lời cầu hôn của anh, dù hạnh phúc trong lòng cô vẫn ra điều kiện, rằng nếu anh lấy cô thì phải để cô dẫn bà về ở cùng. Cô không muốn làm đứa cháu hư, cưới chồng rồi thì bỏ bà thui thủi một mình.
Nhan vừa đi vừa nghĩ, cái gùi sau lưng nặng dần, mớ rau tràn ra miệng gùi, rung rinh những đọt non mềm cong vòng cuộn tròn như xoắn ốc. Mặt trời lên cao bung tỏa ánh nắng giữa ngàn mây rực rỡ. Khói trắng bay là là từ các hốc đá không tan quấn chặt bước chân Nhan. Cô vốc một bụm khói vỗ lên mặt, hít hà mấy tiếng thật to. Những cánh bướm nháo nhác đập cánh phần phật như trời nổi gió. Nhan băng qua đám cây bụi rẽ xuống con đường mòn. Bông cúc tần vướng lên mái tóc loăn xoăn của cô những sợi màu ánh tím.
Nắng xuân rạng rỡ lênh láng chảy khắp rừng, mắt còn hấp háy vì lóa nắng, Nhan thấy trước mặt mình, từ bao giờ đã sừng sững một con gấu trắng. Con gấu đứng trên hai chân sau, vóc dáng to lớn, nhìn Nhan bằng đôi mắt âu sầu. Tiếng thở của nó thật ầm ĩ, nghe giống động cơ một chiếc máy cày, cái mũi ươn ướt phập phồng như mũi con trâu mộng. Nhan không thấy sợ hãi, cũng không thấy bất ngờ, chỉ nghe nhột nhạt dưới chân. Co chân lên, nhổ nước bọt vào kẽ, cô bứt ra con vắt đang oằn oại. Chỗ bị đốt chảy máu không ngừng, nếu là ở nhà cô sẽ đập một cục than hồng lấy bột rắc vào vết đốt để cầm máu, nhưng giữa rừng già, cô bình tĩnh chịu đựng cơn ngứa ngáy, búng con vắt đi thật xa.
Con gấu vẫn nhìn Nhan, buồn bã và nhiều hàm ý. Cô thở dài, cúi xuống hai bàn chân lấm lem, khí núi từ đâu ùa đến khiến mũi cô tê cứng. Nhan cởi cái gùi mây nặng trĩu thả xuống đất, một bó rau lăn ra nằm giữa đám cỏ. Công sức của cô suốt buổi sáng nay để đây đến chiều thế nào cũng có người thấy. Họ sẽ mang về cho bà cô hoặc mang về nhà mình. Đằng nào cũng như nhau cả, Nhan chỉ mong người ta biết cái gùi này là của cô.
Con gấu quay lưng đi về phía núi, Nhan lặng lẽ theo sau. Có nó mở đường, Nhan chẳng sợ gai đâm, cũng chẳng sợ rắn rết. Được mấy giờ mỏi chân không đi nổi nữa, Nhan tìm đến mô đá bằng phẳng ngồi nghỉ mệt. Con gấu nằm yên bên cạnh cô, dãi ứa ra từ hàm răng nhọn. Nhan quay đầu sang nơi khác, nhắm mắt lại nghe hơi ẩm từ phiến đá thấm dần vào người. Đã qua giờ cơm trưa, chắc bà đã dùng bữa rồi, như mọi khi bà để phần cô một bát to. Chảo thịt rắn mối xào sả ớt lúc tối vẫn còn, bà ăn nhín, chừa cho Nhan những miếng ngon nhất.
Con gấu bước đến dụi mõm vào cánh tay Nhan, cô vuốt ve bộ lông dày của nó, dịu dàng như nựng một con vật cưng. Rất tự nhiên, Nhan trèo lên lưng gấu, để nó cõng qua những tầng rừng dày, chỗ ấy ẩm ướt và buốt lạnh, hầu như chưa bao giờ được mặt trời chiếu đến. Nhan nghe tiếng bò trườn ầm ĩ của các loài rắn độc, những con rết to bằng cổ tay nấp trong hốc đá khua chân lạo xạo. Có những loài chim sải cánh thật dài, lông vũ lông mao óng ánh như rắc kim tuyến, chúng đậu trên cành cao, giương đôi mắt trong như hạt ngọc nhìn Nhan.
Nhan mân mê hai cái tai mềm của con gấu trắng, cô lại nghĩ đến bà. Những năm còn thơ bé, Nhan ngủ cùng bà trên cái chõng tre kê góc nhà, bà hay vuốt tóc cô, kể về những tháng ngày xa xưa, hồi ấy bà và bố mẹ Nhan còn ở dưới lòng hồ. Chỗ ấy đẹp lắm, có sông có đồng, có những ngôi nhà nằm thiêm thiếp sau lũy tre xanh. Thế rồi một ngày người ta xây đập, cả làng phải di cư lên vùng núi cao, nước dâng từ từ, ngập đến đâu thì gồng gánh rời đi đến đấy. Nhà cửa làng mạc chìm sâu trong lòng nước, cái đồi cao thật cao giờ thành cái cồn nổi giữa hồ, cây mọc ngút ngàn, chim bay mỏi cánh thì sà xuống đậu.
Những đêm mưa rừng não nề, người lớn tuổi ngồi bên bếp lửa đỏ nghe tiếng giọt nước chảy trên mái gianh, vẫn hay cười bảo cầu trời cho mưa thật lớn, vỡ đập rồi là sẽ được về lại quê hương. Hồi ấy Nhan còn nhỏ, nghe chẳng hiểu gì. Sau này biết hơn tí chút thì chỉ thấy thương cho niềm mong ước ấy. Về lại chỉ còn sình lầy, mấy cô bác nhớ quê mà nói nhảm. Bà Nhan cũng nhớ quê mà chẳng bao giờ thở than. Bà chịu đựng suốt một đời, buồn đau nuốt vào lòng biến thành cái lõi cứng. Lúc bố mẹ Nhan bị cây đè chết, Nhan khóc ngất, thế mà mắt bà vẫn ráo hoảnh.
Kể từ ngày ấy nhà chỉ còn lại hai bà cháu. Nhan lớn lên trong vòng tay bà, dù bà hay mắng Nhan, lấy roi mây đánh Nhan, cô vẫn tự nhủ mai này sẽ chăm sóc bà, lấy chồng cũng dẫn bà theo ở cùng. Thế mà bây giờ chuyện đã khác rồi, Nhan không về với bà được nữa. Bà đứng trước hiên đợi Nhan, bà ra ngoài ngõ trông về phía núi, tóc trên đầu bạc thêm, những nếp nhăn hằn sâu hơn, đôi mắt mờ đục đi, thế mà vẫn không thấy Nhan đâu. Nghĩ đến đấy, Nhan bật khóc. Bất hạnh chờ chực xung quanh, đâu ai ngờ được chuyện gì sẽ đến.
Mấy năm trước chị Han gần nhà Nhan lên rừng đốn củi, tối mịt rồi chẳng thấy chị về, người ta định đốt đuốc đi tìm thì thấy bóng chị lừ lừ đầu ngõ. Thời gian sau bụng chị to dần, đủ ngày đủ tháng thì sinh được thằng bé kháu lắm. Con hơn ba tuổi chị để cho bố mẹ nuôi, một mình xuống xuôi tìm việc, từ bấy đến nay chẳng thấy chị về thăm nhà. Năm ngoái chị Miên cãi nhau với chồng, giận quá chị bỏ vào núi, hôm sau người ta thấy chị chết dưới gốc cây gạo, hoa gạo rơi đỏ người chị, đẹp như nàng tiên đang ngủ.
Nhan khóc thương các chị ấy, bây giờ đến lượt cô xót xa cho mình. Đeo gùi lên rẫy, Nhan hay nhìn theo dòng suối chảy, hình dung đến những vùng đất chưa bao giờ đặt chân đến. Ở đó có tiếng nói tiếng cười, có giống cây giống vật xa lạ và đẹp đẽ. Những nhát cuốc Nhan bổ xuống lớp đất cứng cứ nảy tưng lên. Đất đỏ như máu, mấy con giun bị lưỡi cuốc phạt đứt. Bà cô kể có nhà sư nọ đào đất trồng cây, xắn phải con giun, thấy nó ngoe nguẩy, ông kinh hãi vứt cuốc tụng kinh sám hối, tụng bao nhiêu vẫn không hết ám ảnh, ông vun lá khô ngập mình châm lửa tự thiêu.
Nhan mong câu chuyện bà kể không phải chuyện thật. Loài giun có khả năng tái sinh, khi bị đứt đôi, chúng không chết mà trở thành hai con chỉ sau một thời gian ngắn. Nhan biết thế nên chẳng xót xa, cứ miệt mài bổ cuốc, tra hạt, lấp đất như cái máy. Đất xấu, bọn giun kiếm ăn vất vả, con nào con nấy bé tẹo. Đất xấu, người làm lụng cũng vất vả, trời nắng hay mưa, lên nương là mồ hôi chảy ra như tắm. Nhan đã bổ bao nhiêu nhát cuốc xuống đất này, chẳng ai rỗi hơi mà tính. Chỉ biết lưỡi cuốc nhanh cùn mẻ, cô hay ghé hàng nông cụ cũng vì thế.
Nhan gục mặt xuống lưng gấu, cô kể với nó về tuổi ấu thơ, về thời niên thiếu, về bố mẹ mình, về người bà tóc bạc lưng còng đang chờ ở nhà. Nhan không nhớ anh bán nông cụ nữa. Người ta chỉ nghĩ đến tình yêu khi vui vẻ trong lòng, còn lúc cận kề sinh tử tình cảm ấy không hề thích hợp. Mặc Nhan rên rỉ, con gấu vẫn lặng thinh, nó thung dung đi giữa rừng già như chúa tể. Nó không đáp lời Nhan, nỗi bất hạnh và cái chết không có tiếng nói, niềm vui và sự sống cũng không có tiếng nói. Tiếng nói là của con người trong những hoàn cảnh ấy cất lên, thống thiết hoặc thống khoái.
Nhan khóc mãi đã thấy mệt. Cô quệt nước mắt, hốc mũi tê tái. Năm ngoái bà cụ dưới dốc nhà Nhan hấp hối, người ta để cái gương trước mũi cụ, không thấy hơi nước đọng thì biết cụ tắt thở. Nhan sợ mình tắt thở, cô căng lồng ngực hít một hơi dài. Nhớ lần Nhan đi mò ốc bị trúng nước nằm liệt giường, mũi nghẹt cứng chỉ thở được bằng miệng. Bà đi bộ xuống bệnh xá xin thuốc cho Nhan, những viên thuốc tròn dẹt đủ màu đắng nghét. Yếu mệt không nuốt nổi bát cơm khô, Nhan nằm mê man, đắp mấy cái chăn một lúc vẫn nghe gió lùa qua khe ván ngọt cắt thịt.
Nhan co chân lên, vết vắt đốt trong khe ngón đã ngừng chảy máu. Chỗ ấy ngứa ran, dính những vệt máu đông lợn cợn thoảng mùi gỉ sắt. Nhan vén tóc nhìn xuống cổ áo, hai bầu ngực cô căng tròn, những mạch máu xanh lặn dưới làn da trắng ửng như cánh hoa bướm bạc. Những lúc tắm ở suối, Nhan hay tìm chỗ nước chảy đầm mình thật sâu, nghe dòng nước mơn trớn làn da, vỗ về những chỗ sâu kín nhất. Có gã trai nấp sau bụi rậm nhìn Nhan. Cô không xấu hổ, cũng không khinh ghét, chỉ khỏa nước lên thân thể, chăm chút như tẩy trần một ngôi đền và nghĩ đến anh bán nông cụ, ước cái gã trên kia là anh.
Con gấu vẫn chậm rãi bước đi. Qua tầng rừng dày đến tầng rừng thưa, nắng rơi qua khe lá những mảng sáng vàng sậm, trời đã chiều rồi, tiếng chim buổi chiều khác tiếng chim buổi sớm. Đây là buổi chiều cuối cùng trong cuộc đời mình, Nhan lan man nghĩ. Bây giờ thì cô không còn tiếc xót nữa, nỗi đau và niềm thương nhớ cô đã bỏ lại sau đuôi con gấu rồi. Nhan nghe đám bạn kể về con đường xuống hoàng tuyền, chúng kháo nhau dọc đường nở đầy hoa bỉ ngạn. Bây giờ Nhan có thể đường hoàng cười vào mũi lũ ngu ngốc ấy. Chẳng có hoa lá gì đâu chúng mày ạ, chỉ có nỗi cô đơn thôi. Cô đơn như lúc chui ra từ bụng mẹ bị bà đỡ cầm lưỡi hái cắt dây rốn và tét vào mông ấy.
Cầu trời cho đám ngốc được sống yên ổn. Nhan thành tâm nghĩ trong khi con gấu leo lên một vách đá dựng đứng. Ở vị trí này, Nhan nhìn rõ thung lũng mình sinh sống, trông nó thật thảm hại giữa thiên nhiên hùng vĩ, y hệt cái sẹo xấu xí trên gương mặt cô gái đẹp. Mây giăng qua mắt Nhan, vướng trên rèm mi cô những sợi mỏng như tơ nhện. Mặt trời giờ đây gần Nhan hơn lúc ở dưới nhà, những tia nắng bén nhọn như kim khâu đâm vào da thịt cô, nóng rẫy và tê buốt.
Gấu trắng ơi, gấu trắng à, mày đi mãi như thế không mỏi chân hay sao. Mày ngoái đầu lại nhìn xuống thung lũng dưới kia đi, cái vệt trắng ngoằn ngoèo lóa nắng là dòng nước uốn lượn giữa ghềnh đá, dãy gò đồi cây mọc ngay hàng thẳng lối là rẫy keo lá tràm. Gấu trắng biết cây keo để làm gì không? Để làm giấy đấy, sách vở học trò từ gỗ keo mà ra. Cái khối trăng trắng kia là trường học, trông gần vậy thôi nhưng đi nửa ngày mới tới. Mùa đông lạnh lẽo, tao cầm bọc cơm nắm bà cho, vừa ăn vừa leo dốc đến trường, sương mù đậm đặc, phải vén sương như vén rèm mà đi.
Ôi, cái vách đá mày leo sao mà dựng đứng, gió thổi ù ù như có con vắt trong tai. Ngày còn bé, tao nhìn lên đỉnh núi cao nhất mà hỏi đằng sau nó có gì. Bà bảo chỉ có núi thôi, hết núi này tới núi nọ, trùng điệp không dứt như năm tháng đời người. Tao chán nghe bà nói quá, toàn mấy lời bi quan. Trên vách ván gỗ nhà tao treo tờ lịch chụp cảnh biển, lịch cũ rồi, từ năm nảo năm nào. Tao đoán sau ngọn núi này là biển. Tao chưa thấy biển bao giờ. Mày cõng tao đến biển được không?
Nhan lầm rầm như độc thoại. Cô không còn sức nữa, giọng nhỏ dần như tiếng gió vi vu. Con gấu chẳng cõng Nhan đến biển, nó cõng cô lên đỉnh trời, đấy là thánh đường của nó nhưng là tử địa của cô. Lưng gấu êm như tấm đệm nhung, Nhan chưa từng nằm đệm nhung, chỉ nằm đất hoặc nằm trên cái vạt giường cũ mục, cựa mình một cái nó kêu như sắp gãy. Trời tối rồi, trăng đã mọc, vầng trăng lưỡi liềm mảnh mai thật đẹp, giá mà lấy nó làm cái gối ngả đầu thì chắc sẽ ngủ ngon lắm. Nhan bật cười với ý nghĩ của mình, vẫn đăm đắm nhìn trăng.
Như thực hiện một nghi thức hiến tế, con gấu đứng thẳng trên hai chân sau, trang trọng bế Nhan bằng hai chân trước. Bóng nó lồng trong mảnh trăng non gác trên đỉnh núi, nhìn xa giống hệt chiếc thuyền trôi giữa khói sương. Nhan vươn tay chạm vào vầng trăng bạc, nghe buốt lạnh cả người. Con gấu ngửa cổ gầm lên một tiếng thật vang, tiếng gầm thổi bay những sợi mây bạc và lay chuyển những ngọn du sam cao nhất. Đêm vừa bắt đầu, một đêm mùa xuân ẩm ướt buốt lạnh. Phía dưới thung lũng, những ngôi nhà lúp xúp kề chân núi thắp lên ánh điện, bao ngọn lửa đỏ bập bùng trong gian bếp ấm, Nhan chẳng còn xuống dưới ấy được nữa, cô ở mãi lại đây, với con gấu trắng, với mảnh trăng này...
L.N
(TCSH436/06-2025)
Tải mã QRCode
NGUYỄN TRƯỜNGThấy tôi ngồi chăm chú đọc thư, miệng cứ tủm tỉm cười, vợ tôi mới giả giọng, hỏi đùa:- Có việc chi thích thú mà cười một chắc rứa?- Có chuyện vui bất ngờ đấy em ạ! - Tôi vừa trả lời vừa kéo tay vợ ngồi xuống, rồi đọc lại một mạch toàn văn bốn trang thư của ba tôi từ Huế mới gửi vào.
VIỆT HÙNGGa H. một đêm mưa phùn ảm đạm.Khách chờ tàu nằm la liệt dọc các hành lang.Tôi bước vào phòng đợi, trong tâm trạng không vui mà cũng chẳng buồn. Tìm một chỗ ngồi bất kỳ…
TRẦN KIÊM ĐOÀN Ngôi nhà một thời là tổ ấm trên đồi bỗng trở thành rộng gấp đôi, gấp ba và vắng vẻ như một tòa lâu đài cổ từ khi Bé Út dọn ra khỏi nhà để lên miền Bắc học. Đứa con 18 tuổi trên đất Mỹ nầy rời nhà đi học xa thường có nghĩa là đang bước vào đời, ra khỏi vòng tay cha mẹ, thật khó lòng về lại. Những bước tiếp nối là học ra trường, kiếm việc làm, chọn nhiệm sở như cánh buồm đưa tuổi trẻ ra khơi. Bất cứ nơi nào có thể an cư lạc nghiệp trên 50 tiểu bang sẽ là nơi đất lành chim đậu. Tuổi thành niên tiêu biểu của văn hóa Âu Mỹ là tự lập, gắn liền với vai trò chuyên môn và xã hội chứ không phải quanh quẩn với đời sống gia đình.
ĐỖ PHẤNĐêm rất khuya dưới chân núi H. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được một con đò bằng tôn móp méo xác xơ. Chẳng hiểu ban ngày trông nó thế nào. Có lẽ đây là chiếc đò bị cấm lưu hành? Không thể có mặt ở bến vào ban ngày. Cũng là cấm làm phép. Dòng suối không có chỗ nào đủ sâu để có thể chết đuối.
ĐỖ KIM CUÔNGBây giờ bạn bè ít được gặp anh lang lang trên phố. Thảng hoặc dăm bữa nửa tháng, có khi hơn mới tóm được anh. Ấy là khi anh phải ra khỏi nhà đi nạp bài cho những tờ báo mà anh thường cộng tác, hoặc đi nhận nhuận bút một vài bài thơ lẻ in trên báo.
VŨ NAM TRỰC Truyện ngắn
TRẦM NGUYÊN Ý ANHÔng Nhâm bước chầm chậm theo con đường tráng xi-măng ngoằn ngoèo trong con hẻm nhỏ. Căn nhà ông ở cuối xóm, một trệt, một lầu... mới tinh. Cánh cửa sắt đóng im ỉm. Ông ngồi bệt xuống nền xi-măng vì chân ông đã mỏi. Lẽ ra, khi mấy đứa con ông chưa bàn nhau cất lại căn nhà, ông đã có thể đẩy cánh cửa rào bằng tre và đàng hoàng bước vào nhà mình.
XUÂN CHUẨNĐể rồi tôi kể cho ông nghe về lai lịch cái quạt, để ông ông khỏi coi tôi là Thằng Bờm có cái quạt mo. Cái thời quạt điện quạt đá, máy lạnh mà cứ bo bo cái quạt kè, thỉnh thoảng lại đạp phành phạch như mẹ hàng cá thách lên giữa chợ. Cũng chẳng có gì li kỳ, hay mùi mẫn rơi lệ, chỉ là chuyện đời tầm phào.Hai ông trải chiếu ngồi giữa sân, nhâm nhi chén trà, ông Thân nói với đại tá Tiến về hưu như vậy khi đại tá ngỏ ý thích cái quạt kè của ông.
TRẦN THỊ TRƯỜNG Bim chào đời vào lúc kém 19 phút. Trăng hạ tuần phun nhẹ màu đục của sữa vào bầu trời. Hôm sau trời lất phất mưa. Bố nói với bà ngoại trước khi đi làm: "Nếu không thấy con về thì bà giúp con cùng nhà con nuôi cháu". Câu nói ám ảnh làm trí tưởng tượng của bà ngoại nhiều lần thắt lại. Sau này nhiều khi bà ngoại sợ cả cái bóng của mình.
NAM TRUNG Ông Hãnh cứ đi tới đi lui trong phòng khách nhà ông, vừa đi vừa quạu cọ lẩm bẩm: thằng Hùng nó nói vậy là nó có ý coi thường mình, nó dám trứng khôn hơn vịt. Rồi mày sẽ biết tay ông. Ông sẽ cho mày còn lâu mới được vào Đảng, ông sẽ bác tất cả những đề xuất về mày...
HOÀNG THÁI SƠNKhi tôi lớn lên thì nội tôi đã mất từ lâu nhưng thỉnh thoảng dân làng vẫn nhắc đến người với niềm cảm mến về những chuyện không ít ly kỳ. Ông tôi rất khoẻ, người tròn vo, đen như sừng, tục danh Cu Trắt - phương ngữ vùng quê tôi nghĩa là nhỏ và rắn chắc. Ông ham mê võ thuật, thạo côn quyền, thuở trai thường đóng vai ông địa trong đám múa lân. Đám múa năm nào hễ thiếu ông là coi như nhạt trò, dân làng chẳng ai buồn xem. Người ta đồn ông tôi tài ba lỗi lạc, như có thể đi trên lửa, nhảy qua nóc nhà, còn những thứ chui vào hậu cung đình làng mà không cần dở ngói là xoàng... Kho chuyện về ông ngày càng dày do mồm miệng dân gian thêu dệt thêm, tuy nhiên trong đó nhiều chuyện là có thật.
PHAN XUÂN HẬUTôi trở về quê sau mười năm xa cách. Quê tôi nằm cuối con sông Vẹn, con sông này là nhánh của sông Dinh, bắt nguồn từ dãy núi Gám, chảy qua bến Dền. Nơi đây xưa kia là kinh đô của vua Dền. Vua Dền tụ tập lực lượng chống lại nhà Trần khi đó đang trấn áp nhà Lý. Vua Dền là hậu duệ của Lý Thái Tổ, ông không chịu sự chuyên quyền của vua tôi Trần Thủ Độ bèn lập căn cứ ở miền Tây Yên Thành, tức quê tôi, và Dền là kinh thành của ông, dân quen gọi ông là vua Dền.
NGUYỄN VĂN VINHTết Mậu Thân năm ấy tôi tròn mười sáu tuổi. Soi gương, tôi thấy y xì một con bé tóc lơ xơ hoe nắng, xấu tệ.
CHÂU DIÊNĐơn vị của tôi đi bộ từ một tỉnh miền Trung, lên qua Mường Phăng thì Điện Biên đã giải phóng. Sau một tháng đi bộ nhưng gần như chạy bộ, chúng tôi được phép nghỉ lại hai ngày ở một bản, hồi đó bản này nằm khá sâu trong rừng, nhưng nay thì nó đã ở bên một nhánh đường mới làm dẫn ra phố huyện Tuần Giáo để nối vào con đường số 6 chạy tuốt lên Điện Biên Phủ.
NGUYỄN TRƯỜNGLàng Hạ nằm phía hạ nguồn sông La Ngà. Đất chật. Người đông. Đói nghèo thành nếp. Hồi hai bên đánh nhau, nơi đây là vùng địch hậu. Giải phóng hơn chục năm mà làng Hạ đói nghèo vẫn hoàn nghèo đói. Không ít người bỏ làng đi xa chẳng thèm ngoái cổ nhìn lại. Vậy mà hơn mười năm lại đây, nhờ vực dậy cái nghề tơ tằm truyền thống vốn có từ xưa, làng Hạ đang trở thành một làng nghề giàu có nhất nhì trong vùng. Nhà cũ lỗi thời phá đi xây mới. Đường làng bùn lầy được thay bê-tông. Trường tiểu học tranh tre nứa lá hồi nào nay lên hai tầng. Điện lưới dọc ngang khắp làng đã đẩy năng suất ươm tơ kéo sợi lên cao chưa từng thấy. Chất lượng tơ tằm đạt chuẩn xuất khẩu. Hàng bán chạy hơn cả tôm tươi. Thu nhập người dân ngày một cao.
LÊ TRÂMNgồi với tôi và Kh là một đôi nam nữ còn khá trẻ. Chàng thanh niên, theo lời gã, vừa mới về từ Thái Lan sau khi trúng một hợp đồng béo bở. Gã là đại diện của một công ty xuất nhập khẩu nổi tiếng ở bên ấy.
NGÔ TỰ LẬPCó lẽ tôi đã ngủ rất lâu trước khi bị lay dậy một cách dữ dội. Tôi cố nằm thêm, mặc dù đó không phải là thói quen của một người lính cũ. Thường thì tôi bật dậy ngay. Trước khi tôi vào lính, cha tôi, một đại tá từng trải ba cuộc chiến tranh, chỉ dặn mỗi một câu: “Hãy chồm dậy ngay tiếng còi báo động đầu tiên!”. Lời dạy của ông tôi làm theo trong suốt thời gian tại ngũ và cả khi giải ngũ. Nhưng có những lúc ta không làm chủ được mình. Tôi thấy mình đau ê ẩm và phải một lúc khá lâu sau tôi mới chậm chạp mở mắt.
PHẠM THỊ CÚCTừ những ngày thơ bé còn cắp sách đến trường cho đến khi đã bước vào đời, con cái đã khôn lớn và trưởng thành, trong ký ức của tôi vẫn luôn lưu giữ những hình ảnh sinh động và kỳ diệu của hàng ngàn con cò trắng rợp cả cánh đồng bát ngát, những cánh rừng và vườn cây trĩu nặng vô vàn chim chóc, hình ảnh chim cò thân thiết đậu cả trên vai người, trên đầu người, quẩn dưới chân người... là chuyện của Vùng Đồng tháp Mười qua những trang viết hấp dẫn của các nhà văn Sơn Nam và Đoàn Giỏi.
MAI NINHTrong khoảng giữa buổi chiều thăm viếng cơ sở và dạ tiệc, tôi chạy về nhà thay quần áo. Dưới vòi nước ấm, tôi nao nao xúc động nhớ lại từng khuôn mặt bạn bè. Ngoài một hai người thỉnh thoảng gặp nhau nhờ ở lại nơi này sau khi tốt nghiệp, còn hầu hết thì sau một phần tư thế kỷ đã qua đi, bây giờ mới tái ngộ. Làm sao không ngẩn người trước những tên bạn ngày xưa mặt mũi căng hồng tí tửng nhố nhăng, giờ đây làn da gấp nếp, râu ria đạo mạo, ra dáng sếp lớn sếp nhỏ cả rồi. Và dấu chân chim của thời gian càng rõ rệt hơn nữa, nơi những cô đầm bạn gái của tôi.
MAI NINH- Rối, Rối ơi! Dậy đi nào. - Nằm mãi đây cũng đừng hòng có ai lượm xác đem chôn. - Dậy đi! Rối ơi.