Ảnh: Internet
Để nhẹ bớt gánh nặng tổ chức, chúng tôi đặt mua rất ít món, và sẽ nhờ những chị hảo tâm, mỗi chị khéo tay làm một món bánh Huế. Tôi liền nghĩ đến một chị bạn, chị Thu. Vì tình bạn của chị đối với tôi và nhất là tình cảm của chị đối với Huế, chị nhận làm biếu một trăm cái bánh nậm và chị gợi ý tôi trong giấy mời nên ghi thêm “bữa cơm đặc biệt Huế” để “câu khách”. Như vậy là sẽ có 3 chị nhận làm ba món bánh Huế khác nhau. Và đến lúc này, chúng tôi mới có đủ dữ kiện để thảo giấy mời. Có một điều không may bất ngờ xảy ra vừa đúng lúc chúng tôi quay in giấy mời, là bưu điện ở đây bị đình trệ vì các trung tâm chọn lọc thợ đình công. Chúng tôi phải dùng những biện pháp khác để giấy mời đến tận tay (thân hành đến những nơi tập trung đông bà con) hay tận tai (điện thoại truyền miệng nhau) các anh chị em. Nếu có những sự việc có thể làm nản lòng thì cũng có những điều khiến chúng tôi rất phấn khởi: nhiều người, vì lẽ riêng, sẽ không đến được, nhưng đã gởi tiền đến biếu Huế, đặc biệt là bà Dương Liễu, biếu gấp 30 lần giá tiền quy định; có bà Diệu, tuy tuổi đã cao, không những đóng của mà còn đóng công, nhà ở xa mà bà cố gắng đến nhà chị Song, phụ giúp làm bánh ram; chị Hoàng, không những hứa sẽ đến mà còn đi vận động thêm; chị Quỳnh đã phải hủy bỏ một bữa gặp gỡ các bạn đồng nghiệp đến phụ giúp ngày ấy; chị Tăng, một người có tiếng làm bánh rất ngon, vì một sự hiểu lầm, được tin quá trễ, đã nói với tôi: - Đã lỡ hẹn với người ta, thì chồng tôi bị kẹt, nhưng tôi là dân Huế, tôi phải cố gắng đến với các anh chị chứ! Sáng ngày chủ nhật 23-10-1983, các anh chị em trong ban tổ chức đến nhà Đông Nam Á thật sớm, khiêng bàn ghế bưng các thùng chai nước ngọt, bia, dọn dẹp, trang hoàng. Đến lúc bạn bè bắt đầu đến thì phòng khách cũng đã có tính cách Huế: có tấm bản đồ màu thành phố Huế, tranh ảnh di tích thắng cảnh Huế, quầy sách bán hay trưng bày những quyển sách, báo hay băng nhạc có liên hệ đến Huế. Bạn bè càng đến đông, cho đến một lúc gây nỗi lo lớn cho chúng tôi: mặc dù tôi đã đề nghị đặt 100 phần ăn, chị Song, ít nhiều chịu ảnh hưởng của “phái bi quan”, chỉ đặt có 80 phần ăn, và chị Văn chỉ mang bát đĩa cho 80 người, và đến lúc số người đã lên tới một trăm! Thế là anh Hải, đáng lý lo dụng cụ phóng thanh, đã phải chạy ra phố mua thêm đĩa giấy, thế là anh Bửu phải tình nguyện chạy về nhà lấy thêm chén cho mượn… Thế là một số người trong ban tổ chức, tuy cũng đóng tiền như những người khác, đã phải “nhịn bụng đãi khách”, thế là rất nhiều chị đến tham dự, mà lại vén tay áo vào phụ giúp, sắp đặt bánh trái vào đĩa, ba bốn người chia nhau một cái gáo, một con dao, một đôi đũa…! Tội nghiệp chị Thu, đã đóng tiền, đã làm biếu bánh nậm, lại còn cật lực phục vụ khách, tội nghiệp chị Kim đã làm việc liên miên, nhịn ăn mà trên môi vẫn giữ nụ cười tươi như hoa. Có một Bác trong gia đình “Bình Trị Thiên”, có đến hỏi nhỏ tôi, tại sao Bà Chi là khách quý và tuổi cao, mà ngồi ăn, không có bàn, phải đặt đĩa bánh trên tay. Sau này, lúc nhắc lại chi tiết này với bà Chi để xin lỗi bà, tôi có thêm: - Cháu thiết nghĩ rằng bà thích cầm đĩa ăn trên tay, trong một buổi đông đảo bạn bè giúp Huế, còn hơn là ngồi có bàn ăn mà vắng khách đến tham dự. Sau bữa ăn, anh T-N-T, thay mặt chúng tôi, đã kể lại việc làm riêng lẻ của một số anh chị em chúng tôi trong mấy năm gần đây, như gửi sữa, thuốc, dụng cụ mổ xẻ về biếu bệnh viện Huế và nói tiếp: “Điều mà làm cho chúng tôi phấn khởi là những món quà, tuy nhỏ, nhưng đã đến tận các bệnh nhân, các em bé. Bằng chứng là học viện Y học Huế có gửi biếu các anh chị Việt Kiều yêu Huế món quà này (anh T-N-T chỉ hai con chim tạo bằng rễ cây, công trình của anh Hải Bằng, được trưng bày trên quầy sách, trước mặt bà con). Chúng tôi nghĩ rằng đã đến lúc cần đẩy mạnh hơn nữa việc giúp đỡ thành phố Huế. Chúng tôi đề nghị thành lập một tổ chức tạm gọi là “Những người yêu Huế” (Amicale des Amis de Hue), trước hết là để giúp đỡ lẫn nhau, sau nữa để chung sức, kẻ góp công, người góp của, tùy khả năng của mỗi người, để giúp đỡ thành phố Huế, trong lĩnh vực y tế, giáo dục (nhất là cho các trẻ em), văn hoá… Những người phát biểu ấy, trang trọng mà chứa chan tình cảm đã được toàn thể hoan nghênh. Sau đó, bà Nguyễn Đình Chi lên phát biểu, bà qua đây tuy là để thăm viếng riêng, nhưng thành phố Huế cũng đã nhờ bà chuyển đến bà con lời chào thắm thiết ruột thịt, cái ý chính của thành phố là coi trọng tình cảm của đồng bào ở nước ngoài đối với thành phố, bà cũng cho biết tình hình ở quê nhà. Tiếp theo, anh Viên, bác sĩ khoa Nhi bệnh viện Huế, lên nói cho biết tình hình ở Bệnh viện Huế, phần kết thúc là cuộc bán “đấu giá lối Mỹ” bức tranh của họa sĩ Năng Tĩnh do chị Cẩm biếu, chị Quỳnh và anh Xuân đem hết tài của mình để tăng giá bức tranh từng giây từng phút và cảm động nhất là lúc chen mua, giọng bác Trần 93 tuổi xen với giọng cháu Yann, 10 tuổi. Phải, bữa cơm Huế đã bắt đầu có tiếng vang tốt: anh Nghiêm, tuy gốc người miền Bắc, đã gửi về biếu khoa Toán trường Đại học Huế một máy tính nhỏ, họa sĩ L.B.Đ có gửi quà về biếu anh chị em văn nghệ sĩ Huế, một số những người Pháp đã sống ở Huế trong thời niên thiếu có gặp chúng tôi, nhắc lại kỷ niệm của tuổi nhỏ và ước mong có dịp cùng nhau trở lại thăm viếng thành phố đầy thơ mộng, có dòng sông đẹp hơn sông Sein, anh Trần đã tranh thủ được lần thứ ba để gởi được một kiện hàng về Huế khỏi trả tiền cước phí. Và ngày chủ nhật ngày 6-11-1983, tuy còn mệt mà chúng tôi cũng đã đến nhà anh Lê, chị Cẩm sắp thuốc, sữa, dụng cụ mổ xẻ và gói gửi được 9 kiện quà, nặng trên 100 kí về biếu thành phố Huế, hôm nay cũng như ngày 23-10-1983, bà mẹ và bà dì chị Cẩm vẫn luôn tay phụ giúp chúng tôi. Sở dĩ trong hoàn cảnh căng thẳng cuộc sống ở Pháp mà chúng tôi vẫn hăng say làm việc là vì chúng tôi rất yêu Huế, nói như nhà thơ Giang Nam nhớ nhà thơ Thanh Hải: “Cái thành phố có dòng sông êm ấy Với tôi thân thiết tự bao giờ … Huế ở trong lòng, Huế rất thương”. Nhớ Huế, chúng tôi nghĩ đến đồng bào ruột thịt, hết chiến tranh rồi đến thiên tai bão lụt, chúng tôi nghĩ đến các anh chị, trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn mà vẫn bám víu lấy thành phố thân thương này. Nhớ Huế, chúng tôi đã nghĩ đến công việc có tính chất lâu dài, trong buổi gặp gỡ lần thứ hai ở nhà chị Song trưa chủ nhật 13-11-1983 chúng tôi đã bàn đến việc chúng tôi có thể làm gì để tìm lại các tư liệu lịch sử về các di tích ở Huế, chúng tôi đồng thời nghĩ đến Huế ngày nay, Huế ngày xưa và Huế mai sau: Huế, đẹp và thơ. Pa-ri mùa thu 1983 H.Q. (6/4-84) |
Tải mã QRCode
THÁI KIM LAN
(SH) - Ở đây mỗi ngày tôi đi dạo khoảng 45 phút đến 1 tiếng đồng hồ, mỗi lần tôi đếm được 4500 bước, có ai như tôi, là đi vòng được 2/3 công viên, đi hết 6500 bước là đến tòa lâu đài nhỏ Blutenburg, tính ra mỗi ngày tôi đi khoảng hơn 2 đến 3 cây số, nơi tôi ở gọi là Nymphenbad, nơi tắm của các nàng tiên, khoái chưa?
VÕ QUANG YẾN
(Thân tặng tất cả các bạn yêu Huế)
37 năm ra đi tưởng không hẹn ngày về. Thế mà rồi tôi cũng mua vé máy bay lên đường về thăm quê.
CAO HUY THUẦN
Cách đây hơn một năm, tình cờ tôi gặp chị H. ở sân bay, đang cân hành lý để đi Mỹ. Chị bảo: Tôi qua Pháp nhân ngày giỗ đầu ông cụ tôi. Cả gia đình tụ họp đông đủ. Ông anh cả của tôi ở Pháp, tôi ở Mỹ qua, một cô em gái ở Đức, một cô em nữa ở tận Đan Mạch. Chúng tôi định lấy ngày kỵ ba tôi để mỗi năm một lần anh em gặp nhau.
HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG (Gặp gỡ với anh Lê Huy Cận, Tổng thư ký Hội “Người yêu Huế” ở Pháp)
Trên giải đất hình chữ S mà đáng lẽ chúng ta phải sống, có chỗ nào mà chúng ta không nhớ, không thương! Nhưng dĩ nhiên, có chỗ chúng ta thương nhiều hơn một chút. Đó có thể là chỗ mà chúng ta sinh ra, lớn lên. Chỗ mà chúng ta lưu lại nhiều kỷ niệm. Đó cũng có thể là chỗ mà vì một duyên cớ nào đấy thôi, ta bỗng thấy gắn bó suốt đời.
THÁI THU LAN Kỷ niệm 140 năm ngày sinh Vua Hàm Nghi (1871 - 2011)
VÕ QUANG YẾNHữu duyên thiên lý năng tương ngộVô duyên đối diện bất tương phùng(*) Phong dao
NGUYỄN PHAN QUẾ MAISân bay Huế, tối ngày 14/12/2010, một người đàn ông cao lớn tóc đang chuyển màu đăm đắm nhìn qua cửa kính. Ông đang cố gắng níu giữ hình ảnh của từng cành cây, ngọn cỏ, từng hơi thở mát lành của sông Hương vào trong trí nhớ của mình.
THANH TÙNGTốt nghiệp Cử nhân Văn khoa, dạy học một năm ở trường Đồng Khánh, Thái Kim Lan qua CHLB Đức học khóa đào tạo giáo sư Đức ngữ của Viện Goethe Munich, với học bổng của Viện trao đổi Hàn lâm Đức (DAAD).
VÕ QUANG YẾNĐây không phải là lần đầu tiên có múa cung đình trên sân khấu Paris. Trước đây, chẳng hạn như đầu năm 2004, một đoàn ca múa của Nhà hát Nghệ thuật Cung đình thuộc Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế đã biểu diễn ở trụ sở Unesco trong buổi lễ trao tặng bằng công nhận 28 kiệt tác là di sản phi vật thể thế giới và truyền khẩu nhân loại, trước khi trình bày chúc Tết kiều bào Paris, Lyon, Marseille, Bruxelles.
HƯƠNG CẦN (Chuyện ít ai biết trong làng âm nhạc)Nhạc sỹ, Giáo sư viện sỹ Lưu Hữu Phước (1921-1989) là tác giả của rất nhiều hành khúc nổi tiếng. Với tài năng của mình, từ bài hát này đến bài hát khác, ông đã góp phần nuôi dưỡng những phong trào cách mạng to lớn.
HÀ VĂN THỦYCó thể nói nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương đã tạo nên một hiện tượng thơ, nhiều tập thơ của bà được in với số lượng lớn, tác quyền bà thường nhận sách mà không nhận tiền, những nơi in thơ cho bà vẫn dành cho bà những niềm ưu ái. Công ty Văn Hóa Sáng Tạo Trí Việt (First News) in tiếp hai năm hai cuốn Hãy Cho Nhau - Nước Vẫn Xanh Dòng (2004 - 2005).
TRẦN HỮU LỤCKhởi đầu là nỗi nhớ Huế, tác giả Phan Thị Thu Quỳ viết về quê quán,thời niên thiếu như một cách giãi bày, chia sẻ. Những trang viết như sông Hương âm thầm chảy qua những ngõ ngách đời người, trong trẻo và cuốn hút.
TRẦN THỊ LINH CHITừ ngày theo chồng vào Nam, tính ra xa Huế hơn nửa thế kỷ, đất khách quê người, hiếm khi được nói hay nghe tiếng của quê hương một cách trọn vẹn. Ngay trong gia đình, đến đời cháu nội, cháu ngoại thì đã rặt tiếng miền Nam. May mắn bên mình còn có ông “Dôn”(*) người thường xuyên “gợi nhớ” qua câu nói đầu môi khi đối thoại: Mụ ơi!
TRẦN CÔNG TẤNNhững ngày làm báo, tôi đã biên tập mấy bài của cộng tác viên Võ Quang Yến từ Pháp gửi về. Tôi biết rõ ông là một nhà khoa học lớn, hàng chục năm liền làm Giám đốc ở Trung tâm nghiên cứu khoa học Pháp. Vài lần ông về làm việc giúp nước, chúng tôi đã gặp nhau.
TÔN NỮ NGỌC HOANhư một “kẻ bị lưu đày trên đảo xanh”, Hữu Vinh luôn hướng về quê nhà với trái tim của chàng trai 18 tuổi - tuổi của ngày rời xa người mẹ thân yêu, xa tiếng chuông chùa Thiên Mụ, xa con đường đến trường xuôi theo giòng Hương quen thuộc đến chân trời mới lạ để rồi bằn bặt 18 năm sau mới có cuộc đoàn viên rưng rưng nước mắt trên quê xưa.
TRUNG SƠNVậy là tôi không còn dịp để được thăm chị nữa rồi!Mấy năm trước, khi nhà văn Nhất Lâm, một người cháu của nhà thơ Vĩnh Mai, cho biết chị Phương Chi đã phải vào sống những năm cuối đời tại Trại Dưỡng lão ở Hà Đông, tôi đã phải thốt lên: “Trời! Sao lại thế?!...”
THÁI KIM LAN...“Cắt từng miếng da non nhìn xem, tôi vẫn vậy/ Chảy ròng ròng trong máu nước sông Hương”...Bỗng tôi thấy em cũng về lại đó.../ Tôi lại cùng em đi thăm chợ Tết/ Em nép mình sưởi ấm với vai tôi/ Đôi mắt, nụ cười, môi hồng rực rỡ/ Huế đây rồi nhờ có em tôi (“Hải đường say nắng”, Chỉ có anh mới nhận ra em)...
TRẦN KIÊM ĐOÀNThạch Hãn - Mồ hôi của đá chứ không phải mồ hôi đá. Tương truyền rằng, phía cực Tây Trường Sơn có ngọn núi Linh Sơn cao ngất, thường đổi màu từ cổ đồng lúc bình minh, đỏ thẫm giữa ban trưa và tím ngát vào ban chiều. Vào một buổi chiều thuở hồng hoang, có con chim Phượng Hoàng bay ngang núi tím. Núi quá cao khiến chim rủ cánh phải đổ xuống từ lưng trời làm vỡ một góc núi. Không hiểu suối khe, mồ hôi hay nước mắt của núi đã tuôn ra từ khe núi bị nứt tạo thành một dòng sông chảy miết về phía đồng bằng, tuôn ra biển. Dòng sông đó là dòng sông Thạch Hãn.
VÕ QUANG YẾN Tiếng hát đâu mà nghe nhớ thương, Mái nhì man mác nước sông Hương. Tố Hữu