Ân tình

16:50 24/02/2009
NGUYỄN ĐỨC SĨ TIẾNNgười ta thường nói xem mặt đặt tên, nhưng điều này lại không đúng với thượng tá Kha. Nhìn bề ngoài, ai cũng nghĩ ông là người khô khan, thật ra ông lại là người rất đa cảm.

Cầm tay bắt mạch cho thượng tá Kha, những đường chỉ tay của ông ta đã làm cho trung tá Thiệp hết sức ngạc nhiên nên buột miệng:
- Nói khí không phải, xưa nay, tôi thấy anh là người mẫu mực, chỉn chu đến mức khắc kỉ, lạnh lùng. Không ngờ, anh lại là người rất đào hoa và ân tình.
Thượng tá Kha nhếch mép, gượng cười:
- Gần về hưu rồi, còn đào hoa, đào hiếc gì nữa, sắp “đào ngũ” rồi thì có.
Trung tá Thiệp nhìn thẳng vào mắt thượng tá Kha, ngần ngại nói:
- Xin lỗi, anh không thích nói về mình nhưng tôi biết anh là người nhìn vợ con mình mà nghĩ đến vợ con người khác và vợ con người ấy cũng nhìn chồng, cha mình mà nghĩ đến anh và vợ con anh.

Thượng tá Kha giật mình ngồi dậy, chằm chằm nhìn trung tá Thiệp, dò xét:
- Ai nói cho anh biết điều đó?
- Tôi biết xem bói mà.
- À... ra thế! - Thượng tá Kha thở phào - Chuyện khá dài dòng. Thôi, ra bàn uống nước, tôi sẽ kể cho anh nghe.
Thượng tá Kha rót nước mời khách rồi thong thả kể:
- Hồi Cách mạng tháng Tám thành công, tôi tham gia dạy học ở Tổ Bình dân Học vụ của xã. Ở đó có cô Nụ vừa đẹp người, vừa đẹp nết. Tuổi trẻ và công việc đã gắn kết chúng tôi lại với nhau. Lúc chúng tôi đang đắm say trong tình yêu cũng là lúc tôi nhập ngũ, tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ. Ở nhà, cô ấy như một cô dâu chưa chính thức đã thay tôi chăm sóc mẹ. Sau ngày hòa bình lập lại, khoảng giữa năm 1955 thì tôi được điều về Thanh Hóa xây dựng Đường dây Thống Nhất. Về đó, gần nhà, quê tôi ở Hà Tĩnh, anh biết rồi đấy, nên tôi đã xin nghỉ phép về tổ chức đám cưới. Tôi mua quà cho mẹ, sắm sửa mọi thứ cần thiết cho đám cưới rồi mượn chiếc xe đạp của đơn vị, phóng một mạch gần hai trăm cây số về quê. Về đến đầu làng, thấy đình làng đèn đóm sáng trưng và bà con đang tụ họp đông đủ, tôi ghé xe vào. Biết tôi mới tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ trở về, mọi người đã chào đón tôi như một vị anh hùng. Nhưng khi tôi đến cầm tay Nụ và hớn hở mời bà con vài ngày nữa đến dự đám cưới thì ông đội trưởng Đội Cải cách, người đang làm chủ tọa buổi họp dân chúng, nghiêm mặt nói: “Xin lỗi đồng chí Kha. Vì đồng chí là đảng viên, là cán bộ quân đội nên tôi thấy cần báo cho đồng chí biết chúng tôi đã xếp gia đình cô Nụ vào thành phần địa chủ, phú nông.”. Nghe thế, tôi choáng váng như bị trúng đạn. Còn Nụ thì nấc lên mấy tiếng rồi giống hệt một thân cây bật gốc, đổ vật vào người tôi như một cái xác không hồn.

Kể tới đây, thượng tá Kha lập cập đứng dậy mở toang cửa sổ. Nắng ấm và gió mát tràn vào căn phòng dành cho hộ độc thân chật hẹp. Ông thở sâu mấy cái rồi ngồi kể tiếp, giọng nghèn nghẹn như bị nghẹt mũi:
- Sau khi được cấp cứu, Nụ tỉnh lại. Tôi và cô Na, bí thư Ban Chấp hành Chi Đoàn, bạn nối khố của Nụ, cùng nhau dìu cô ấy về nhà. Về đến ngõ nhà mình, cô ấy như người mất hồn, ôm Na khóc nức nở: “Na ơi! Nụ không thể làm vợ anh Kha được nữa rồi. Mẹ anh ấy đang cần người chăm sóc. Thôi thì tình chị duyên em. Nụ trăm lạy, nghìn  lạy. Na có thương Nụ thì hãy thay Nụ làm vợ anh ấy.”. Xong, cô ấy gục vào vai tôi, nghẹn ngào: “Anh ơi! Số phận không cho em làm vợ của anh. Anh còn thương em thì hãy coi Na như em. Na sẽ thay em phụng dưỡng mẹ. Nghe em đi anh. Mẹ đã già yếu lắm rồi. Làm sao anh có thể bỏ mẹ ở nhà một mình mãi được?”.

Thần sắc của thượng tá Kha thay đổi hẳn. Giọng nói trở nên mếu máo. Đôi mắt trở nên mờ đục. Làn da rám nắng cũng trở thành nhợt nhạt. Kí ức đã làm ông xúc động.
Trung tá Thiệp bị câu chuyện tình éo le, lãng mạn cuốn hút, tỏ ra tò mò:
- Khi đó, thái độ cô Na thế nào?
- Na giãy nảy nói: “Nụ đừng nói gở. Nụ nhất định sẽ là vợ của anh Kha.”. Nói xong, cô ta ù té chạy để lại tôi và Nụ trong đêm tối. Còn lại hai người, chúng tôi chỉ biết ôm nhau khóc suốt đêm. Tảng sáng, tôi về thăm mẹ. Khi hai mẹ con đang hàn huyên thì dân quân xách súng đến, mời tôi lên ủy ban. Sau khi kiểm tra giấy tờ của tôi, đồng chí chủ tịch xã đã yêu cầu tôi không được quan hệ với gia đình Nụ để tạo điều kiện cho chính quyền làm việc. Tuy thế, tôi vẫn đến nhà Nụ để xem thực hư thế nào. Song tôi không gặp được Nụ. Dân quân không cho vào. Hết phép, tôi trở về đơn vị, người gầy rộc đi như vừa trải qua một cơn bạo bệnh.

Hồi đó, dính vào thành phần địa chủ, phú nông là phải ra khỏi Đảng, là phải chấm dứt con đường binh nghiệp. Không hiểu chàng lính trẻ Kha đã giải quyết mối tình trắc trở của mình như thế nào để an cư lạc nghiệp nên trung tá Thiệp hỏi:
- Anh đã giải quyết mối quan hệ “tình chị, duyên em” của mình như thế nào?
- Ở đơn vị, tôi đã gửi rất nhiều thư về cho Nụ nhưng cô ấy không trả lời. Tôi chỉ nhận được thư của Na. Nụ đã nhờ Na hồi âm cho tôi. Một năm sau, Na điện cho tôi biết mẹ đau nặng, về gấp. Tôi xin nghỉ phép về chăm sóc mẹ. Về nhà, tôi tìm Nụ nhưng không gặp. Cô ấy đã bỏ làng ra đi để lánh mặt. Không ai biết cô ấy ở đâu cả. Hết hơn nửa thời gian nghỉ phép mà mẹ vẫn nằm liệt giường. Không biết lấy ai trông nom mẹ để trả phép đúng hạn, nhất là khó an tâm công tác, khó hoàn thành nhiệm vụ, tôi đã viết đơn xin giải ngũ. Thấy thế, Na động lòng trắc ẩn, nghe lời Nụ, nhận gánh vác việc gia đình tôi. Vì cám cảnh trước hoàn cảnh của tôi, vì nhiệm vụ chăm sóc mẹ chiến sĩ Chi Đoàn giao mà cô ấy đã quyết định như vậy.

- Anh trở thành chàng Kim Trọng chứ? - Trung tá Thiệp hỏi:
- Vâng. Không cưới vợ, tôi phải giải ngũ. Hơn nữa tôi có yên bề gia thất, Nụ mới chịu về làng, mới chịu lấy chồng. Tuy hơi cập rập, không được chuẩn bị trước như năm về định cưới Nụ nhưng tối hôm sau, đám cưới vẫn được tổ chức khá chu đáo. Song oái ăm thay, khi hai họ đã ra về, tôi ra sau hè thì thấy Nụ nằm bất tỉnh giữa hàng rào dâm bụt. Tôi hốt hoảng bồng cô ấy vào nhà cùng vợ cấp cứu. Thấy tay cô ấy nắm chặt tờ giấy, nghĩ là giấy gói thuốc tự tử, tôi liền gỡ để xem. Tôi chưa lấy được thì cô ấy tỉnh. Cô ấy chằm chằm nhìn vợ chồng tôi như để nhớ chuyện gì đã xảy ra, xong vội bỏ tờ giấy vào miệng nhai. Thấy cô ấy tỉnh, vợ tôi ôm bạn than khóc: “Nụ ơi, Nụ đừng chết! Anh Kha vẫn là chồng của Nụ. Na chỉ là người thay Nụ làm cô dâu khi Nụ vắng mặt mà thôi. Nụ hãy coi đám cưới này là đám cưới Nụ.”.

Đôi mắt của thượng tá Kha bỗng nhấp nháy liên tục. Ông lấy tay dụi mắt. Trung tá Thiệp nóng lòng giục:
- Ý cô Nụ thế nào?
- Nụ dứt khoát phản đối. Vợ tôi cố thuyết phục thì cô ấy nói: “Nếu vì Nụ mà Na không làm vợ anh Kha thì một là Nụ phải đi biệt xứ, hai là tự tử.”. Biết Nụ đã nói là làm, vợ tôi chỉ biết ôm cô ấy mà khóc. Nửa đêm, vợ tôi lén vào buồng, tháo chiếc kiềng vàng, quà cưới dâu của mẹ tôi, để lại trên chiếc gối dành cho vợ chồng đêm tân hôn, bỏ trốn. Chuyện này chưa xong, chuyện khác lại đến. Rối như tơ vò. Khi tôi đang như người thất thần không biết xử lý thế nào, Nụ bảo tôi ở nhà trông mẹ để cô ấy đi tìm Na.
Bỗng chuông điện thoại reo lên. Thượng tá Kha xin lỗi, cầm máy nghe. Xong, mặt mày tươi tỉnh, nói:
- Thúy Kiều, Thúy Vân cùng bốn đứa con đang trên đường đến thăm tôi. Mẹ con họ đến, “thầy bói” thử đoán xem ai là vợ con tôi, ai là vợ con người khác nhé!
- Nhưng anh phải kể xong đã!
- À, mà...mà đến đâu rồi nhỉ?
- Nụ đi tìm Na. - Trung tá Thiệp nhắc.
- Tảng sáng thì Nụ dắt Na về. Nụ buồn nhưng Na lại tươi cười. Na sốt sắng báo cho tôi biết thành phần gia đình Nụ đã được sửa sai: trung nông chứ không phải địa chủ, phú nông.

Trung tá Thiệp vỗ đùi, thốt lên:
- Trời! Cách đám cưới chỉ một đêm mà trước đó không ai biết quyết định ấy sao?
- Có. Nụ biết nhưng đã muộn. Từ chỗ ở để lánh mặt, nhận được quyết định sửa sai, Nụ tất tưởi chạy về. Cô ấy chạy đôn, chạy đáo, ngã lên, ngã xuống, xây xát cả mặt mũi, tay chân. Về đến ngõ nhà tôi, thấy trong nhà đông người cô ấy không vào mà đến sau hè vạch hàng rào nhìn vào. Thấy tôi giơ tay thề: “Vui duyên mới không quên nhiệm vụ!”, cô ấy đã ngất xỉu.
- Chà! - Trung tá Thiệp chặc lưỡi - Rắc rối quá!
- Đúng vậy. Na thì có cớ để trả tôi cho Nụ. Nụ thì dứt khoát từ chối với lý do sợ Na phải ở quá vì dẫu sao vẫn mang tiếng là đã có một đời chồng. Năm miếng trầu là dâu nhà người mà. Còn tôi thì vô cùng bối rối. May mà nhờ đã trải qua nhiều kinh nghiệm trận mạc. Những lần đứng trước làn tên mũi đạn, trước sự sống và cái chết đã rèn cho tôi có được sự phản ứng nhanh nhạy khi phải đối đầu với các tình huống gay cấn, nguy kịch. Lúc đó, như được thần phật sai bảo, tôi bạo miệng nói: “Bắn không nên thì đền đạn. Anh có một người bạn tên là Đông, từng sống chết có nhau. Anh ấy hơn anh về mọi mặt. Anh sẽ giới thiệu cho Nụ”.
- Liều! Liều thật! - Trung tá Thiệp lắc đầu - Ngộ nhỡ anh ấy không đồng ý thì sao?
- Liều nhưng có cơ sở - Thượng tá Kha giải thích - Tôi tin là người đã cùng bạn vào sinh ra tử trước kẻ thù sẽ không bao giờ bỏ bạn trước mọi khó khăn, hoạn nạn. Hơn nữa, tôi đã thường tâm sự và cho Đông xem thư của Nụ. Cậu ta đã từng nói: “Ước gì tớ cũng có được một cô Nụ như cậu”. Tôi bạo miệng là vì vậy.
- Còn Nụ và Na nữa chứ? - Trung tá Thiệp thắc mắc.
- Tôi không ngờ lời nói đó đã có tác dụng xoay chuyển tình thế. Nụ ngúng nguẩy đấm thùm thụp vào lưng tôi. Na thì vừa nhảy cẫng lên, vừa vỗ tay đôm đốp rồi giục tôi đi mời Đông về. - Giọng ông trở nên trẻ trung, dí dỏm - Gỡ được thế bí, tôi liền thoát khỏi vòng vây. Hai hôm sau, tôi mang “quân tiếp viện” về ứng cứu.

Trung tá Thiệp vui lây và gật gù thán phục:
- Tài! Tài thật! Làm thế nào mà anh thuyết phục được bạn mình?
- Ra đến đơn vị tôi tìm gặp Đông ngay. Tôi kể cho cậu ta biết mọi chuyện. Khi tôi nói ra ý định của mình, cậu ta nắm chặt tay tôi nói: “Tớ và cậu là một. Cậu đã yêu thì chắc tớ cũng thế. Vả lại, không thành công cũng thành nhân. Ít nhất tớ cũng giúp được cậu giải quyết tốt hơn công tác dân vận”. Điều đáng lo là liệu Đông và Nụ có chiếm được cảm tình của nhau hay không mà thôi. Không ngờ, vở kịch do tôi dàn dựng đã được hai người nhập vai rất nhanh. Họ làm như vậy là vì hạnh phúc của vợ chồng tôi. Sự tế nhị của họ đã làm cho chúng tôi bớt áy náy. Nhờ vậy, hôm sau tôi và Đông yên tâm trở về đơn vị, trả phép đúng hạn. Từ đó, Đông và Nụ thư đi từ lại với nhau thường xuyên. Dần dần, tình yêu nảy nở. Cuối năm 1957, hôn lễ của họ được tổ chức. Tôi được cử về đại diện cho đơn vị và họ nhà trai, quê chú rể ở tận Quảng Trị mà.

Cùng xây đắp hạnh phúc cho nhau, tình bạn, tình đồng chí của họ thật trong sáng và cao thượng. Nhưng tại sao thượng tá Kha lại nhìn vợ con mình mà nghĩ đến vợ con người khác? Ông là người ân tình, độ lượng hay đồng sàng dị mộng? Nghĩ thế, trung tá Thiệp phân vân hỏi:
- Hai gia đình sống thế nào?
- Chúng tôi như hình với bóng của nhau. Tôi và Đông càng tri âm, tri kỉ hơn trước. Na và Nụ cùng dạy một trường, cùng ở chung một dãy nhà tập thể, chỉ cách nhau một bức vách nên tối lửa tắt đèn có nhau. Con cái cũng rất giống nhau. Đêm tân hôn của Đông và Nụ cũng là đêm vợ chồng tôi động phòng hoa chúc sau hơn một năm kết hôn. Kết quả là hai chàng quý tử đã ra đời. Cuối năm 1958, tôi và Đông rủ nhau về phép, chúng tôi lại có thêm hai cậu con trai,cũng như lần trước, mỗi đứa chỉ cách nhau vài ngày. Những năm tiếp theo, tôi và Đông cũng đều về phép với nhau. Đến đầu năm 1961 thì Đông đi B. Anh ấy tình nguyện trở về quê hương chiến đấu nên được điều động về Quân khu Trị Thiên. Từ khi anh ấy vào chiến trường, sợ Nụ buồn, nhớ chồng, tôi không về phép nữa. Năm 1972, Đông hy sinh khi tiến về giải phóng Quảng Trị. Ngày mẹ con Nụ nhận giấy báo tử, tôi đã về thăm và dự lễ truy điệu. Thấy tôi, Nụ than khóc: “...Nhờ anh mà em có được anh Đông. Thấy anh, em càng thương nhớ anh ấy. Anh thì về đây. Còn anh ấy sao lại bỏ mẹ con em ra đi?”. - Thượng tá Kha im lặng cố nén cơn xúc động rồi kể tiếp. - Sau lễ truy điệu, vợ chồng tôi đã bàn với nhau là phải có trách nhiệm với vợ con của người đã khuất. Mỗi lần tôi mua quà gì cho vợ con thì cũng đều mua cho mẹ con Nụ. Vợ tôi chăm sóc, dạy dỗ con mình như thế nào thì cũng chăm sóc, dãy dỗ con của người đã hi sinh như thế. Nhờ trời, cả hai đứa đều khỏe mạnh, chăm ngoan và đều đã tốt nghiệp đại học như hai đứa con của vợ chồng tôi.

Bỗng hai người đàn bà và bốn chàng trai ùa vào. Họ tíu tít hỏi han và quấn quýt lấy thượng tá Kha. Tình cảm mà họ dành cho nhau cùng câu chuyện chứa chan ân tình trong tình bạn, tình đồng chí, tình yêu, tình người vừa nghe đã làm cho trung tá Thiệp không thể nhận ra trong số họ ai là vợ con của thượng tá Kha, ai là vợ con người khác. Nhưng thật kỳ lạ, ông lại nhìn thấy nụ cười của người nơi chín suối.
          Trại sáng tác VHNT TT.Huế,
                 Vinh Hiền, 8 - 2004
                          N.Đ.S.T

(nguồn: TCSH số 194 - 04 - 2005)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • PHAN THỊ THU QUỲVợ chồng Bình và Lựu đang sống ở Kim Long một làng ven sông Hương thơ mộng, nổi tiếng có quán ăn ngon, khách lui tới tấp nập. Cả hai người lòng buồn tê tái khi Bình có lệnh đổi vô Tây Nguyên. Tốt nghiệp đại học Luật xong Bình bị chính quyền cũ bắt vô lính, chạy mãi được làm lính văn phòng tại quê, nay phải đi xa thật lo lắng, buồn nản. Mai Bình phải lên đường cấp tốc. Ôi! Rủi ro, khác gì một hoạn nạn đến.

  • THÁI NGỌC SANSau khi trở về quê cũ một thời gian bà Phán trở thành trung tâm chú ý của mọi người. Trước hết là bọn con nít. Chúng cứ hô váng lên “mệ Phán muôn năm” mỗi khi bà mua kẹo vung vãi cho chúng.

  • PHẠM PHÚ PHONGTôi ngồi bất động, tựa như nuốt phải một cây gậy, người cứng đờ, im lặng, cho đến khi bản nhạc chấm dứt. Nguyễn Hương cũng im lặng ngồi đối diện góc tường, châm thuốc hút. Mới mấy năm không gặp, bây giờ trông anh đã khác hẳn. Đầu tóc hớt cao, lưỡng quyền nhô ra. Thời gian đã kịp cày xới, để lại trên trán anh những đường rãnh nhỏ.

  • PHẠM XUÂN PHỤNGĐúng ra, ông cụ Trần Bảo phải có đủ tám người con và người con cuối cùng phải có tên là VÈ mới đủ bộ. Bây giờ gọi tên bảy người con của cụ, nghe cứ thiếu thiếu chút gì: Đờn, Ca, Múa, Hát, Thơ, Ka, Hò. Chấm hết! Tức anh ách, tức nghẹn ngào!

  • NGUYỄN HỮU HỒNG MINH                Tặng anh Tạ Công ThắngMọi thứ, mọi tình huống có thể diễn ra bất cứ lúc nào như bản chất trôi chảy của cuộc sống cho dù bạn không hề mong muốn. Như truyện ngắn này, tất cả được phát hiện, ngắm rọi trong một ngày đẹp trời.

  • NGUYỄN QUANG LẬPĐời tôi có chi mà kể ông, sau khi thoát chết hàng trăm trận, vốn có chút ít kinh nghiệm tác chiến, được học qua học viện quân sự cao cấp, tôi về làm tư lệnh sư đoàn, thế thôi.

  • TRẦN THÙY MAIDường như chẳng bao giờ Hà Nội lại rét cắt da như mùa đông năm ấy. Tôi và Ngân chuẩn bị ra xuân sẽ cưới nhau.

  • LÝ HOÀI XUÂNChị Hạnh hơn tôi những mười tuổi; nghĩa là năm chị biết nhảy cò cò, chơi ô quan thì tôi “oa oa” cất tiếng chào đời. Nghe đâu khi tôi còn ngậm vú mẹ, thỉnh thoảng chị bồng tôi đi chơi nhà hàng xóm.

  • VŨ THANH HOA1. Bà thầy bói xòe bàn tay có các móng tô đỏ trầy xước, vuốt nhẹ những con bài úp lên nhau thẳng tắp, đoạn bà nhắm mắt, miệng khấn lầm rầm...

  • LÊ MINH KHUÊ- Anh thấy cậu như thằng bị điện giật ảnh hưởng não bộ thần kinh suốt mấy ngày ù lì ủ rũ. Sao từ hôm bay về Miami đến nay cậu đốc chứng thế. Thật khác hẳn mọi lần. Nghĩ đi nghĩ lại thấy thời gian cho mỗi đời người đâu có bao la bát ngát mà thấy thằng như cậu không tính đếm đong đo rồi yêu đời mà sống.

  • DƯƠNG THÀNH VŨTiếng súng đã ngưng bặt từ lúc trời sẫm tối. Bị kẹt lại ở khu vực giáp ranh ngoại ô thành phố, người lính ẩn mình vào hàng rào dâm bụt, ở góc vườn sau một ngôi nhà tường xây mái ngói theo kiến trúc cổ truyền.

  • LƯU QUANG VŨCả hai vợ chồng anh Tuyến đều rất yêu văn học. Điều đó khiến tôi cảm tình, nể trọng vợ chồng anh. Nhất là trong thời buổi này, tôi thấy quanh tôi chẳng còn được mấy người như vợ chồng anh Tuyến.

  • Nhà văn Dạ Ngân nghỉ việc công sở mấy năm nay, trở về tổ ấm của mình lặng lẽ “chép” lại những vết son trên chặng đời đã qua. Truyện gửi tới Sông Hương dưới đây là góc nhìn rất hẹp về chiến tranh song mở ra trước độc giả nhiều ngã rẽ với một Xuân nữ lỡ mang kiếp đào hoa mà bạc phận cho những người đàn ông từng “hành quân” qua cuộc đời chị. Trân trọng giới thiệu.S.H

  • CAO LINH QUÂNCó một con Dã Tràng sống ngoài bãi biển Nha Trang.

  • HÀ KHÁNH LINHĐàn ông tích khí là ngọc, đàn bà tích khí là tặc. Cha nói với mẹ như thế về cô, rồi khen cô suốt một đời trinh bạch, mà vẫn giữ được nết hạnh đoan trang, hiền hòa, dịu dàng và vui vẻ, chứ không khó tính như những phụ nữ có hoàn cảnh tương tự.

  • NGÔ THỊ KIM CÚCCó ba người bên trong căn phòng nhỏ ấy, căn phòng tập thể dành cho cán bộ độc thân, rộng không đến mười mét vuông. Cửa phòng đóng kín, để chỉ có họ với nhau, cùng những đồ dùng khiêm tốn.

  • ĐÔNG HÀThả xuống con đường đất đỏ lô hàng cuối cùng xong, tôi rồ ga chạy nhanh vào phía nhỏ hơn của con đường dài ngoằng từ đây về rẫy. Năm mươi cây số cho ba chục phút giữa hun hút rẫy rẫy và rẫy không khó, nhưng sẽ lớ quớ nếu tay lái chệch vào gốc cây đâu đó trong bóng tối chập choạng nhô ra. Nơi đó An đang đợi tôi.

  • HÀ KHÁNH LINHNgười lính canh chuyển dịch thế đứng của mình trong phạm vi một viên đá lát, khẽ ngửa mặt nhìn vầng trăng vừa ra khỏi đám mây đang dịu dàng tỏa ánh sáng xanh biếc xuống thanh đoản kiếm - chuôi nằm gọn trong lòng tay anh, mũi cắm xuống mặt đá.

  • NGUYỄN NGỌC LỢIVùng quê đó mấy năm nay có nhiều người đổi đời nhờ nghề mua bán đồ đồng nát. Sắt thép nhôm nhựa, mua đi bán lại cũng thành nhà thành xe... Người ta đập nhà cũ xây nhà mới, mua ô tô, lên đời xe máy... làng xóm đêm ngày rộn rịch chuyện làm ăn buôn bán.

  • TRẦN THÙY MAILàng tôi nằm ven bờ sông Hiếu, một ngôi làng nhỏ nép sau lũy tre xanh, trông xa như một đám mây dày màu xanh lục nổi lửng lơ trên mặt nước. Tưởng chừng tuổi thơ tôi gắn liền với tiếng lá tre khua xào xạc: sau này, khi tôi đã đi rất nhiều nơi, mỗi lần vọng tưởng về quê, cái âm thanh mơ hồ buồn buồn ấy cứ gieo vào hồn tôi một cảm giác gì mênh mông, khó tả.