Cách đây 30 năm, vào ngày 20 tháng 8 năm 1983, Câu Lạc Bộ (CLB) Ca Huế thuộc Nhà Văn Hóa Huế, tiền thân của Trung tâm Văn hóa Huế bây giờ được chính thức ra đời trong niềm hân hoan của các nghệ nhân, nghệ sĩ ca Huế và giới mộ điệu, tri âm trong thành phố Huế.
Một góc phòng trưng bày tư liệu, hình ảnh về Ca Huế tại Bảo Tàng Văn Hóa Huế. Ảnh: VQ
Từ những nghệ sĩ nghệ nhân ban đầu với các danh cầm Lê Văn cần (đàn tỳ bà), Nguyễn Văn Tân (đàn nhị), NSƯT Thái Hùng (đàn nguyệt), Châu Thới (đàn tranh) và các ca sĩ Minh Tâm, Thanh Tâm, Kim Thành, Quỳnh Hoa... Câu Lạc Bộ đã mời thêm được các nghệ nhân tên tuổi trong làn Ca Huế đến cùng Câu Lạc Bộ như Tôn Thất Toàn, Tôn Thất Dung, Trần Kích, Nguyễn Ke, Quang Hải Phạm Văn Thiết, Minh Mần, Vân Phi, Quế Trân, Minh Mần, Thanh Hương, Diệu Liên... CLB Ca Huế cũng đón nhận được sự cộng tác nhiệt thành của Đoàn Ca Kịch Huế, tiền thân của Nhà hát nghệ thuật Ca Kịch Huế ngày nay trong việc dàn dựng các trích đoạn tuồng làm phong phú thêm nội dung biểu diễn nghệ thuật ca Huế, ca kịch Huế của CLB. Đến nay Câu Lạc Bộ đã có trên 60 thành viên có chất lượng cao cùng tham gia sinh hoạt đánh dấu một bước trưởng thành đáng quý của CLB.
Từ những năm 80, 90 bên cạnh các đêm diễn định kỳ vào tối thứ Tư, thứ Bảy hằng tuần, Câu lạc Bộ Ca Huế đã biểu diễn thành công hằng trăm chương trình đón các đoàn khách trong và ngoài nước của Tỉnh, thành phố về thăm và làm việc tại Huế. Bộ môn Ca Huế lúc bấy giờ đã trở thành một “nghệ thuật đối ngoại” rất hiệu quả.
Việc lưu diễn chương trình ca Huế, chương trình “Áo dài và những khúc dân ca” tại Thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và nhiều thành phố trong nước và các chương trình giao lưu nghệ thuật ở Mỹ (1995), Hồng Kông (1996), Đài Loan (1998), Hàn Quốc (2007) được công chúng quốc tế, bà con kiều bào hoan hỷ đón nhận đã phản ảnh đúng giá trị nghệ thuật của loại hình ca nhạc truyền thống Huế.
Để thỏa mãn nhu cầu thưởng thức Ca Huế trên sông Hương của giới mộ điệu tri âm Huế, CLB đã mạnh dạn chính thức mời khách xuống thuyền từ tháng 1 năm 1984 mà bến thuyến xuất phát đầu tiên là bến đầu đường Bạch Đằng, cạnh cầu Gia Hội và chiếc đò đầu tiên là đò anh Đới. Vui nhất là chiếc đò anh Đới đã chạm 6 chữ “Đò anh Đới, Đời anh đó” để kỷ niệm sự đổi đời của một người chuyên chở cát sạn hằng ngày nhờ Ca Huế mà thành đò du lịch. Ngày nay, thật vui mừng khi được biết trên sông Hương đã có trên một trăm thuyền lớn nhỏ phục vụ Ca Huế đón du khách mỗi đêm và đã có trên 300 diễn viên Ca Huế có thẻ hành nghề. Nêu lên sự kiện này để CLB Ca Huế có niềm tự hào vì có góp phần vào việc làm hồi sinh loại hình nghệ thuật truyền thống Huế từ sau năm 1975 và ngành du lịch Huế có thêm một môi trường nghệ thuật lành mạnh, bổ ích chào đón du khách từ khắp nam châu bốn biển.
Trong bối cảnh kinh tế thị trường, nghệ thuật Ca Huế trên sông Hương đã và đang có xu hướng thương mại, thành sản phấm hàng hóa mà báo chí, các hệ thống truyền thông thường hay nhắc nhở cảnh báo nhưng các thành viên trong CLB vẫn giữ được khí chất của người nghệ nhân, nghệ sĩ chân chính, biết thương yêu, đoàn kết, người trước thương thế hệ sau, thế hệ sau biết trân quý, kính trọng các bậc nghệ nhân, nghệ sĩ tiền bối. Mong rằng tinh thần chân thiện mỹ này luôn được quan tâm gìn giữ và phát huy để CLB luôn có được tiếng thơm.
Các thính phòng, các làng bản xa xôi, các công trình văn hóa, mái chèo trăng, con thuyền mộng... tất cả đang chờ đợi chúng ta đồng thanh tương ứng. Hồn Huế đang luôn đơm mầm trong mỗi chúng ta từng cung bậc thái hòa...
* Nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập CLB Ca Huế thuộc Trung Tâm văn Hóa Huế (20.8.1983 - 20.8.2013), tại Bảo tàng Văn hóa Huế - trụ sở UBND Thành phố Huế (cũ ) - sẽ khai trương chương trình Ca Huế Thính phòng vào lúc 19 giờ tối 20.8.2013.
Theo Võ Quê
Tải mã QRCode
Là món ăn có cái tên khiến nhiều người phải ngẩn ra vì nghe quá lạ, canh chột nưa chinh phục thực khách bởi hương vị đậm chất quê và cái tình của người dân Huế.
SHO - Sáng ngày 21/2 (14 Tháng Giêng năm Bính Thân), Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế đã tổ chức chuyến đi Viếng mộ thi nhân tại các nghĩa trang trên địa bàn thành phố Huế tưởng nhớ các văn nghệ sĩ đã khuất . Đây là năm thứ tám văn nghệ sĩ Cố đô Huế tổ chức đi viếng mộ thi nhân vào dịp Tết Nguyên tiêu.
Không biết có tự bao giờ mà hoa tre là lễ vật không thể thiếu trong lễ "cúng bổn mạng" đầu năm của mỗi gia đình xứ Huế. Nội tôi kể rằng: Thuở xưa khi chưa có "ông tổ" khai sinh ra loại hoa tre thì người ta "cúng bổn mạng" bằng hoa thọ. Hoa thọ mang ý nghĩa trường tồn, cầu mong được sống lâu để sum vầy cùng con cháu.
Là kinh đô xưa cổ còn được lưu giữ gần như toàn vẹn nhất cho đến bây giờ, Tết ở Huế tượng trưng cho sợi dây liên kết giữa quá khứ và hiện tại.
Cặp rắn này chỉ xuất hiện tại chùa vào các ngày sóc vọng (các ngày 1, 15, 30 hàng tháng) và trú lại qua đêm trong hang cây da cổ thụ rồi lặng lẽ bỏ đi. Thấy chuyện lạ, một số người cho rằng đây là đôi rắn “có chân tu” nên mới về chùa để “nghe giảng giải kinh Phật”...
Bấy lâu nay, nhiều người dân, du khách vẫn thường nhắc đến con rùa khổng lồ thi thoảng xuất hiện trên dòng sông Hương, đoạn trước mặt điện Hòn Chén (thuộc thôn Ngọc Hồ, phường Hương Hồ, thị xã Hương Trà, Thừa Thiên – Huế). Người dân địa phương gọi đó là “rùa thần”.
Có thể nói, trong số hàng trăm sản phẩm bằng tre của các nghệ nhân làng Bao La (xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế) tạo nên, chúng tôi ấn tượng nhất là đèn lồng các loại. Từ đèn ú, đèn lục giác, bát giác… Tuy khác nhau về mẫu mã, hình dáng nhưng tất cả đều chan chứa tâm tình, gửi gắm “cái hồn” của làng nghề nơi đây.
Bên cạnh lớp nghệ nhân "vàng", lớp những nghệ sỹ "măng non" - nghệ sỹ trẻ là thế hệ mới sẽ đồng hành cùng nghệ thuật Ca Huế trên con đường phát huy giá trị di sản này ra cộng đồng, tiến tới hội nhập di sản quốc tế. Do đó, việc làm sao để truyền lại vẹn nguyên bản sắc, đúng cái "chất" của Ca Huế cho lớp nghệ sỹ trẻ kế tục cũng đang là vấn đề được các ban, ngành quan tâm.
Chuyên đề trọng điểm của số báo này, dành nhiều trang về Hoàng Phủ Ngọc Tường - nhà văn, nhà văn hóa Huế. Những trang văn của ông, như chiếc đũa thần, thức dậy những vỉa tầng văn hóa Huế. Một điều khác, ông cùng bạn bè thuở ấy, với một hệ mỹ cảm khác biệt, đã tạc vào văn nghệ Huế, Việt Nam những giá trị trường cửu.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Tại Huế, toàn bộ các ấn quý bằng vàng, bạc, ngọc hay còn gọi là Kim Ngọc Bảo Tỷ đến nay không còn một chiếc nào. Có lẽ thật sự đây là điều đáng tiếc nhất khi xuất xứ những chiếc ấn quý đó đều từ Huế mà ra.
Những biến cố của lịch sử đã khiến cho một lượng cổ vật lớn và quý hiếm đã “biến mất” khỏi cố đô Huế. Hãy cùng lật lại những điểm mốc ấy.
Triều đại phong kiến vua Nguyễn cuối cùng tại Huế đã trải qua với bao biến cố lịch sử. Hàng vạn cổ vật quý hiếm đi cùng triều đại này hiện đã mất mát quá nhiều, không còn “ở lại” được trên mảnh đất nó đã từng tồn tại.
Hai đồng tiền cổ quý hiếm là loại tiền dùng để ban thưởng chứ không dùng để trao đổi, mua bán có tên là “Gia Long thông bảo” và “Minh Mạng thông bảo” với kích thước rất lớn vừa được một người dân ở Quảng Bình lần đầu phát hiện.
Với một di sản văn hoá vật thể và tinh thần mang ý nghĩa quốc hồn quốc tuý của dân tộc, Huế là một hiện tượng văn hoá độc đáo của Việt Nam và thế giới.
Huế từ lâu đã là một trung tâm văn hóa, du lịch của cả nước. Festival văn hóa nghệ thuật kết hợp với du lịch đã tạo cú hích cho thế mạnh đặc thù của quần thể di tích cố đô Huế - được công nhận là di sản thế giới vào năm 1993, từ đó tạo diện mạo cho Huế có sự phát triển mới, mạnh mẽ hơn.
Lọng là sản phẩm độc đáo được dùng để tôn vinh sự trang trọng, quý phái trong các nghi lễ của triều đình xưa, cũng như trong các lễ nghi cúng tế mang đậm tín ngưỡng dân gian. Từ đám rước thần linh, đám tang, lễ cưới, hỏi… đều có sự hiện diện của chiếc lọng.
Trong kiến trúc xưa, có lẽ không nơi nào có nhiều bức bình phong như ở Huế. Khắp các cung đình, phủ đệ, đến các đền chùa, am miếu, đình làng, nhà thờ họ và nhà thường dân…đều hiện hữu những bức bình phong.
Võ tướng Nguyễn Tri Phương đã dành cả đời ông trong công cuộc giữ yên bờ cõi và chống ngoại xâm trải qua ba đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Khi Hà thành thất thủ vào tay quân Pháp, ông đã nhịn đói cho đến chết.