Xứ Đàng Trong của 'một Việt Nam khác'

08:26 17/12/2013

Tác phẩm “văn sử bất phân” Xứ Đàng Trong - Lịch sử kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỷ 17 - 18 (Nguyễn Nghị dịch, NXB Trẻ tái bản lần thứ nhất, quý 3/2013) của Li Tana, đã được trao giải Sách hay 2013.. 

Sách Xứ Đàng Trong… được NXB Trẻ in lần đầu năm 1999 (bìa trái) và tái bản lần đầu vào quý 3/2013

Trong tác phẩm này, bằng nhạy cảm đặc biệt và công phu khó so bì, Li Tana dường như đã "xuyên thấu" bức màn phức tạp của sử Việt thời phong kiến để vẽ nên bức tranh sinh động, dễ gần và mới mẻ.

Đây vốn là luận án tiến sĩ được bảo vệ năm 1992, in thành sách tiếng Anh năm 1998, bản tiếng Việt của Nguyễn Nghị do NXB Trẻ in lần đầu năm 1999. Xứ Đàng Trong… của Li Tana gồm 7 chương, đề cập đến nhiều vấn đề có tính khai phá về sử liệu như kinh tế, chính trị, xã hội, quân sự, tiền tệ, dân số… gián tiếp vẽ nên văn hóa, lối sống, rồi cả sự diệt vong về tên gọi sau thời các chúa Nguyễn. Đặc biệt các nghiên cứu về kinh tế - xã hội của Xứ Đàng Trong… là một khai phá và là đóng góp lớn lao của Li Tana.

GS Anthony Reid (tác giả sách Southeast Asia In The Age Of Commerce) nhận định: "Đây là một công trình lớn đưa ra một giải thích hoàn toàn mới về vương quốc phía Nam, lấy Huế làm trung tâm, công trình của Li Tana đã cung cấp cho chúng ta bức tranh về một nước Việt Nam mang tính cách Đông Nam Á hơn, thương mại hơn, đa dạng hơn, không như chúng ta thường hiểu".

Văn hóa mở của Xứ Đàng Trong

Đàng trong (còn gọi Nam Hà) nhằm để chỉ lãnh thổ từ sông Gianh (tỉnh Quảng Bình) trở vào Nam, định danh từ thế kỷ 17, thời Trịnh - Nguyễn phân tranh.

Bằng chủ trương "mở rộng cửa", lấy dung nạp làm lẽ sống, Xứ Đàng Trong không những giảm thiểu được thương vong do các cuộc va chạm về bạo lực với nhà Trịnh, với các nhà nước, dân tộc xung quanh, mà còn nhanh chóng thoát khỏi tình trạng yếu kém về mọi mặt. Chỉ khoảng 200 năm sau, Đàng Trong đã kiểm soát khoảng 3/5 diện tích nước Việt Nam ngày nay. Tầm quan trọng của Xứ Đàng Trong thế nào với lịch sử Việt Nam, đặc biệt là công cuộc mở rộng bờ cõi nhằm cuối cùng sở hữu vựa lúa lớn nhất tại đồng bằng Sông Cửu Long, để hình thành nên Sài Gòn mà ngày nay giữ vai trò trọng yếu về kinh tế quốc dân, thì khỏi cần phải bàn. Điều đáng nói là sử liệu và các nghiên cứu chuyên sâu về thời kỳ này còn khá sơ sài, "mờ ảo", nên công trình của Li Tana như cơn mưa rào sau mùa hạn hán.

Trong bài viết Một Việt Nam khác? Vương quốc họ Nguyễn ở thế kỷ 17 và 18 in trên Journal Of Southeast Asian Studies, tháng 3/1998, Li Tana từng khẳng định: "Sự hình thành Đàng Trong là một sự thay đổi sâu sắc và căn bản trong lịch sử Việt Nam... Đàng Trong trở thành đầu tàu thay đổi mang tính lịch sử, và kéo trọng tâm quốc gia - dù là được nhìn theo nghĩa chính trị, kinh tế hay thậm chí văn hóa - về hướng Nam từ thế kỷ 17 cho đến khi người Pháp áp đặt sự cai trị" (Lê Quỳnh dịch). Quan điểm này đã thành chìa khóa của sách Xứ Đàng Trong… đồng thời được Li Tana liên tục làm sáng tỏ qua năm tháng.

Trong bối cảnh sóng gió đúng nghĩa, người Đàng Trong đã mau chóng đứt bỏ tập tục cũ, dù vẫn giữ bản sắc chính, để chọn lối sống mới, chấp nhận va chạm về văn hóa, phát triển giao thương để tìm hướng đi. Khi mới thành lập, Đàng Trong "yếu hơn họ Trịnh ở Đàng Ngoài gần bốn lần, xét về mọi mặt". Dù dân số còn thưa thớt, đất đai phì nhiêu, nhưng người Đàng Trong không chỉ bám vào nông nghiệp thuần túy, mà còn "mở rộng cửa" lên rừng xuống biển, bến cảng, biên cương lúc nào cũng tấp nập thuyền bè, người qua lại. Đơn cử như Hội An, Huế hay Quy Nhơn, các thương cảng quốc tế, giao dịch với cả châu Âu, châu Mỹ, châu Á, Trung Đông… cũng đã hình thành từ tinh thần này.

Bằng nguồn sử liệu dồi dào, cả chính thống và tư nhân, trong nhiều ngôn ngữ, Li Tana đã rất khách quan khi chỉ ra những điểm khác biệt giữa Đàng Ngoài và Đàng Trong. Để qua đây chỉ ra hai từ khóa quan trọng của xứ Đàng Trong, đó là: hội nhập và sáng tạo. "Đối với người Việt trong thế kỷ 16 và đầu 17, phương Nam, và cái ý niệm về nơi này, mang ý nghĩa không chỉ là một nơi để sống. Vùng đất phương Nam hứa hẹn nhiều lựa chọn. Việc giữ vị trí là "phản loạn" hay "bất hợp pháp" cho nhà Nguyễn một cảm thức tự do được thử mọi thứ có khả năng thực hiện mà không phải tham khảo những quy chuẩn ràng buộc của luân lý Nho giáo. Ví dụ, một điều chưa từng có trong lịch sử Việt Nam, nhà Nguyễn cho phép người Nhật và Trung Quốc làm quan, và cho người Tây phương có vị trí trong triều, dù chỉ làm thầy thuốc. Đồng thời, việc họ sống trong một phần của thế giới Đông Nam Á cho phép cư dân Việt mượn, pha trộn và hấp thu rộng rãi từ các nền văn hóa của người Chàm và các dân tộc khác trong khu vực", Li Tana khẳng định.

Nhà Việt Nam học quen thuộc

Li Tana sinh năm 1953, là một nhà Việt Nam học khá quen thuộc trong giới nghiên cứu và sử học. Liên tục từ năm 2000 đến nay, Li Tana đã viết khoảng 50 công trình, bài nghiên cứu quan trọng về lịch sử theo diện rộng của xứ Đàng Trong thế kỷ 17, 18. Các công trình về giao thương quốc tế, các đập nước sông Mê Kông, thuyền và kỹ thuật đóng thuyền, lúa gạo, biên cương lãnh hải, địa đồ… Li Tana bảo vệ cao học về lịch sử Việt Nam tại Đại học Bắc Kinh (năm 1983), trình luận án tiến sĩ về lịch sử Đàng Trong thế kỷ 17 và 18 tại Đại học Quốc gia Úc (năm 1992). Hiện bà đang làm việc tại Trường Nghiên cứu châu Á và Thái Bình Dương, Đại học Quốc gia Úc.

GS David Chandler (tác giả sách A History Of Cambodia) nhận định: "Li Tana đã sử dụng các nguồn tư liệu bằng tiếng Pháp, Anh, Hoa và Nhật. Tác giả cũng đã sử dụng được các công trình có tầm bao quát khác và tiếp xúc được qua bản dịch với các nguồn tư liệu của Bồ Đào Nha, Hà Lan, Tây Ban Nha… Tác giả đã thành công một cách kỳ diệu trong mục đích của mình. Tôi thấy luận án thật sinh động, đầy cảm xúc và được triển khai một cách thông minh. Không giống nhiều luận án khác, luận án này đọc rất thích và vui nữa".

Không có ý so sánh nhưng nêu ra để làm ví dụ, cố Thủ tướng Anh Winston Churchill (1874 - 1965) suốt đời chỉ viết sử mà được trao giải Nobel văn chương năm 1953 là vì chất văn chảy dạt dào trong từng trang sử. Giống vài sử gia đương thời như Tạ Chí Đại Trường, Philippe Papin… Li Tana có cách hành văn trong sáng, đượm tinh thần "văn sử bất phân", nên đọc rất hấp dẫn. Chính điều này làm cho tác phẩm sử học vốn nặng nề, khô khan và khó đã trở nên nhẹ nhàng, dễ đọc.

Từ giữa thập niên 1995, nhà Việt Nam học nổi tiếng - GS Alexander Woodside (tác giả sách Viet Nam And The Chinese Model [Việt Nam và mô hình Trung Hoa]) đã ao ước: "Chắc chắn đây là một luận án thành công. Một công trình về Việt Nam thời tiền hiện đại như thế này mà càng được xuất bản sớm chừng nào càng có ích cho hết thảy chúng ta". Đến nay thì Xứ Đàng Trong đã được NXB Trẻ tái bản sau gần 15 năm, dù số lượng in vẫn còn khiêm tốn, nhưng chắc chắn nó đã góp một tiếng nói lớn lao vào việc nghiên cứu Xứ Đàng Trong - một Việt Nam mới và khác so với lịch sử mấy ngàn năm dựng nước.

Theo VĂN BẢY (Thể thao & Văn hóa Cuối tuần)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Với sự tham gia của ĐẶNG MẬU TỰU * LÊ VĂN LÂN * ĐINH CƯỜNG * PHẠM THỊ ANH NGA * LÊ HUỲNH LÂM * TÔN PHONG * MAI VĂN PHẤN * PHẠM ĐỨC MẠNH * HỒNG VINH * NGUYÊN NGỌC - TÔN NỮ MINH CHÂU * NGUYỄN XUÂN SANG * NGUYỄN ĐỨC TÙNG * ALICIA OSTRIKER * JEAN VALENTINE * TIM SUERMONDT * NHẬT CHIÊU * PHI TÂN * VÕ NGỌC LAN * PHƯƠNG ANH * NGUYỄN DƯ HOÀI MỤC * ĐỖ XUÂN CẨM * QUẾ HƯƠNG * NGUYỄN KHOA QUẢ * HOÀNG DIỆP LẠC * LÊ MINH PHONG * NGÔ ĐÌNH HẢI * NGÔ MINH
    Sông Hương số đặc biệt tháng 9/2105 trân trọng gửi đến quý bạn đọc.

  • Số báo này xuất bản cũng nhằm vào những ngày Liên hiệp Hội tổ chức chuỗi hoạt động kỷ niệm 70 năm thành lập. Bài “70 năm, một dòng chảy văn học nghệ thuật nối tiếp văn mạch của vùng đất Thuận Hóa - Phú Xuân - Huế” của nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Hoa sẽ điểm lại diễn trình 70 năm đáng tự hào của văn nghệ xứ Huế. 

  • Hiếm có làng nào lại quy định rõ ràng về việc dọn thức ăn trong ma chay như làng Mỹ Phú (xã Phong Chương, H.Phong Điền, Thừa Thiên-Huế).

  • Ở không ít làng quê xứ Huế ngày nay, lệ làng vẫn tồn tại với nhiều quy định khắt khe, chặt chẽ.

  • Tháng 8 năm này, kỷ niệm 95 năm ngày sinh của điêu khắc gia Điềm Phùng Thị (18/8/1920). Một bài viết trong số này, đã nhắc lại “cuộc hóa thân của đất đá” trong sự nghiệp lừng lẫy của bà. Các truyện ngắn được chọn đăng, vừa có những thử nghiệm bút pháp mới, vừa sâu thẳm tính nhân văn; và một lần nữa, trách nhiệm cụ thể của nhà văn được khơi mở: Làm sao vừa có những sáng tạo đầy bứt phá về nghệ thuật, vừa có thể gắn chặt với thực tại? Làm sao để những biến ảo kỳ diệu của tâm thức đời sống, của tiềm thức con người, của “cái bóng” đa nhân cách cuộc đời không dễ nắm bắt… có thể đi vào văn học nghệ thuật? Tất cả lại là những vấn đề muôn thuở của văn học

  • Chùa Từ Hiếu hay còn gọi là chùa “Thái giám” nằm trên ngọn núi Dương Xuân thuộc phường Thuỷ Xuân (TP.Huế). Đây là địa điểm du lịch tâm linh nổi tiếng của Huế, nhưng ít người biết được nguồn gốc đầy nước mắt của ngôi cổ tự này. Nơi đây có một nghĩa trang của những con người mang thân phận không phải đàn ông mà cũng chẳng phải đàn bà...

  • Ngọ Môn là cổng chính phía nam của Hoàng Thành – Kinh Thành Huế, cũng được coi là bộ mặt của Hoàng Thành và vương triều phong kiến.

  • Hệ thống thơ văn trên di tích Huế có một phần rất lớn là Ngự chế thi của vua Minh Mạng, trong đó, đặc biệt tại Hiếu Lăng (lăng vua Minh Mạng) là nơi có nhiều thơ của nhà vua được chạm khắc, trang trí để lưu truyền cho hậu thế.

  • Từ ngày 17 đến 23 tháng 7 năm 2015, trại sáng tác văn học Phong Điền năm 2015 đã diễn ra tại vùng Ngũ Điền do Hội nhà văn Thừa Thiên Huế phối hợp với UBND huyện Phong Điền tổ chức.

  • Câu chuyện này lại có liên quan đến một sự kiện diễn ra cách nay đúng một 150 năm, đó là câu chuyện sứ đoàn đầu tiên của nước ta sang Pháp (1863 - 1864)...

  • Trên các đền đài, lăng tẩm, cung điện triều Nguyễn tại cố đô Huế xuất hiện hàng ngàn bài thơ, văn, câu đối bằng chữ Hán. Hệ thống di sản tư liệu độc đáo này vừa được giải mã để đề nghị UNESCO công nhận là di sản tư liệu thuộc Chương trình ký ức thế giới.

  • Chỉ cần nhìn làn da bất chấp tuổi tác của những người phụ nữ trong gia đình này, bạn sẽ thấy bí quyết làm đẹp từ hoàng cung mà họ được truyền lại qua mấy đời thực sự diệu kỳ đến thế nào. Đó là bí mật để làm ra những viên phấn nụ, dưới công thức của các ngự y triều Nguyễn, chỉ dành cho những giai nhân ở chốn cấm cung.

  • Nét khác biệt của lăng Hoàng Cô gắn liền với câu chuyện cảm động về cuộc đời tiết hạnh của Công chúa Long Thành - người chị ruột của vua Gia Long.

  • Cung đường hình chữ S dẫn du khách lên Bạch Mã, chơi vơi gió, chơi vơi mây và chơi vơi tất cả mọi xúc giác…

  • Huế vốn là đất kinh kỳ, có rất nhiều thú vui tao nhã. Những thú vui đó đã tạo cho Huế một bản sắc riêng mà "chẳng nơi nào có được". Ngủ đò trên dòng sông Hương là một trong những thú vui như thế.

  • Uỷ ban nhân dân huyện A Lưới vừa ban hành kế hoạch tổ chức bình chọn sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu huyện A Lưới năm 2015. 

  • Vào cung là đến với cuộc sống giàu sang nhung lụa nhưng với phần lớn cung nữ, Tử Cấm thành lại là nơi chôn vùi tuổi xuân của họ.

  • Ngôi chùa hàng trăm năm được đánh giá có kiến trúc và khung cảnh đẹp nhất xứ Huế.

  • Trên địa bàn làng Cư Chánh, xã Thủy Bằng, TP Huế có một khu lăng mộ đồ sộ được gọi là lăng Cơ Thánh. Đây chính là lăng của ông Nguyễn Phúc Luân (1733 - 1765) - cha đẻ của Gia Long, vị hoàng đế đầu tiên của nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam. Lăng mộ của đấng thân sinh vua Gia Long còn được dân gian gọi là lăng Sọ, vì dưới mộ chỉ chôn cất hộp sọ của người quá cố.

  • Những nốt xăm trên trán, mí mắt của người dân tộc Ka Tu thuộc huyện miền núi Nam Đông (Thừa Thiên- Huế) đã hình thành từ lâu đời. Nó là biểu tượng cho sức mạnh, uy lực của dân tộc và trở thành nét giá trị văn hóa mang đậm bản sắc cộng đồng dân tộc. Mới đây, chúng tôi đã có chuyến thực tế, để hiểu hơn về tính độc đáo xung quanh tục xăm hình đầy bí ẩn của đồng bào Ka Tu.