Xin thận trọng khi đánh giá Khổng Tử

11:42 06/06/2008
Mới đây, trong khi tìm tài liệu ở Thư viện quốc gia, tôi tình cờ đọc bài báo thuộc thể loại văn hóa - giáo dục: “Giáo sư Vũ Khiêu - Học chữ để làm người” trên chuyên mục Trò chuyện cuối tháng báo An ninh Thế giới số tháng 9/2005, do Hồng Thanh Quang thực hiện.

Trong bài này, GS Vũ Khiêu đưa ra một tuyên bố động trời: “Tư tưởng Khổng Tử thực sự là một tư tưởng bảo thủ”. Ông nêu lên hai căn cứ: thứ nhất, ông nói “Tôi đã viết nhiều về chuyện đó rồi”; thứ hai, ông bảo “Bác Hồ từng nói rằng Bác coi Khổng Tử như là một người thầy về trách nhiệm tu thân và ý thức giữ gìn đạo đức. Nhưng tu thân như thế nào, giữ gìn đạo đức như thế nào cho hợp thời hợp thế thì không phải cái gì cũng nhất nhất nên làm theo Khổng Tử”. Để chứng minh cho các luận cứ trên, GS nói: “Trong suốt cuộc đời mình Bác Hồ thường chỉ trích dẫn những câu hay của Khổng Tử. Những ý tưởng nào của Khổng Tử không còn hợp thời thế nữa thì Bác thường làm ngược lại lời Khổng Tử đã nói”, rằng "Đạo Khổng chỉ thích hợp với một xã hội bất biến, hàng nghìn năm không thay đổi”; rằng ngày nay, khi nền văn hóa Phương Đông buộc phải giao thoa với nền văn hóa Phương Tây “những quốc gia nào cứ khư khư ôm lấy Khổng giáo thì tất yếu sẽ rơi vào thế bị động, thậm chí suy thoái”. Và ông kết luận: “Nhưng ngay cả tới hôm nay không phải mọi ý tưởng của Khổng giáo đều đã lỗi thời. Vấn đề quan trọng là tiếp thu cái gì và tiếp thu như thế nào”.
Nói tư tưởng Khổng Tử thực sự là một tư tưởng bảo thủ có nghĩa là toàn bộ các triết thuyết của Khổng Tử chỉ là duy trì cái sẵn có, không chịu thay đổi, không chịu đổi mới (Bảo thủ: “Duy trì cái sẵn có, không chịu thay đổi, không chịu đổi mới” - Từ điển Tiếng Việt, tr 39, NXB Đà Nẵng - Trung tâm từ điển học, 2005). Tôi thật sự kinh ngạc về sự đánh giá đó của GS Vũ Khiêu, bởi vì ở đây đã bộc lộ sự thiếu chính xác cả về hình thức và nội dung sự kiện.
1. Lập luận thiếu logic
GS đã không chứng minh được luận đề của mình một cách minh bạch. Đáng ra, với một luận đề như thế, GS phải chỉ ra được tư tưởng Khổng Tử bảo thủ như thế nào, biểu hiện cụ thể ra sao, ở những tác phẩm hay những câu nói nào, đằng này GS chỉ lý lẽ một cách chung chung, mơ hồ rằng ông đã viết nhiều về chuyện đó rồi, rằng Bác Hồ của chúng ta đã từng nói, từng làm như thế, như thế. Trong quá trình chứng minh, GS đã nói một câu hết sức khó hiểu, nếu không muốn nói là tối nghĩa và hoàn toàn không đúng sự thật, rằng “Trong suốt cuộc đời mình, Bác thường chỉ trích dẫn những câu hay của Khổng Tử. Những ý tưởng nào của Khổng Tử không còn hợp thời thế nữa thì Bác thường làm ngược lại lời Khổng Tử đã nói”. Tại sao đối với những ý tưởng nào của Khổng Tử không còn hợp thời thế nữa thì Bác Hồ lại thường làm ngược lại lời Khổng Tử đã nói? Là một nhà cách mạng đồng thời là một danh nhân văn hóa kiệt xuất, hơn ai hết, Bác Hồ tiếp thu một cách có chọn lọc và hết sức tài tình những tinh hoa văn hóa nhân loại trong đó có tư tưởng của Khổng Tử, để phục vụ cho sự nghiệp cách mạng của mình chứ sao Bác phải “làm ngược lại lời Khổng Tử đã nói”?
Nhìn tổng quát cả đoạn văn ta thấy rõ một mâu thuẫn lớn: ở phần đầu ông khẳng định chắc chắn như đinh đóng cột rằng “Tư tưởng Khổng Tử thực sự là một tư tưởng bảo thủ” nhưng ở phần cuối ông lại kết luận “Nhưng ngay cả tới hôm nay không phải mọi ý tưởng của Khổng giáo đều đã lỗi thời", tức là vẫn có những ý tưởng tiến bộ, phù hợp với ngày nay. Và nếu chúng ta so sánh rộng ra một chút lại thấy một mâu thuẫn nữa giữa lời khẳng định trên đây với lời nói của GS trước đó một chút (ở đoạn cuối của phần "học chữ để làm người”) rằng “Các pho sách Tứ thư, Ngũ kinh” đều dạy người ta cách sống hợp với tư tưởng Khổng Mạnh. Đó cũng là những pho đạo đức học”. Câu nói này lại cho ta thấy GS đánh giá cao 2 tác phẩm của Khổng Tử, cho rằng nó vẫn còn có ý nghĩa đối với ngày nay chứ không phải là những tác phẩm có tư tưởng bảo thủ. Thật là “tiền hậu bất nhất”!
Đem mô hình hóa lập luận trên đây theo phép tam đoạn luận của Logic học, ta sẽ thấy:
Luận đề: Tư tưởng của Khổng Tử thực sự là một tư tưởng bảo thủ.
Luận cứ:
 - Tôi đã viết nhiều về chuyện đó rồi.
- Bác Hồ coi Khổng Tử là một người thầy về trách nhiệm tu thân và ý thức giữ gìn đạo đức.
- Đạo Khổng chỉ thích hợp với một xã hội bất biến, hàng nghìn năm không thay đổi.
Kết luận: Nhưng ngay cả tới hôm nay, không phải mọi ý tưởng của Khổng giáo đều đã lỗi thời.
Như vậy, do các luận cứ không chân thực, do lối chứng minh “dựa vào uy quyền mơ hồ” và việc “luận chứng vòng quanh” đầy mâu thuẫn nên GS đã không suy ra được, không thể rút ra kết luận đúng. Nói cách khác, ở đây tiền đề không có liên quan gì đến kết luận mà vẫn được GS coi là có quan hệ nhân quả. Rõ ràng cách chứng minh như vậy là một lối chứng minh bằng lối ám thị, không có căn cứ thực tế.
2. Nội dung lời GS đánh giá chưa chính xác
Đọc công trình nghiên cứu của một số học giả trong và ngoài nước viết về Khổng Tử tôi thấy không một ai dám kết luận tư tưởng Khổng Tử bảo thủ mà ngược lại, người Trung Hoa và cả thế giới đều coi ông như một triết gia lớn vì ông đã đóng góp cho Trung Hoa và cho nhân loại những tư tưởng và triết lý vĩ đại, đặc biệt là những tư tưởng về xã hội, về nhân sinh. Nhiều tư tưởng của ông như tư tưởng về nhân nghĩa, nhân ái; tư tưởng về tu thân, về học tập suốt đời để làm người; tư tưởng về đào tạo người quân tử, đào tạo kẻ sĩ, sĩ phu... đã thành những đề tài cho người nhiều đời sau tranh luận, phổ biến, phát huy thêm và còn ý nghĩa mãi đến ngày nay. Trong hệ thống tư tưởng ấy thì tư tưởng về nhân nghĩa là tư tưởng vĩ đại nhất. Ông coi Nhân là một phần chủ yếu nhất trong triết thuyết của mình. Trong Luận ngữ, ông nhắc đến chữ Nhân không dưới 105 lần với những quan niệm hết sức minh triết. Ông coi Nhân là trung, thứ, tức là đạo đối với người nhưng đồng thời cũng là đạo đối với mình (kỷ dục lập kỷ dục đạt, tức là mình phải muốn lập thân, thành công thì mới giúp người lập thân, thành công được); Nhân vừa là tu thân vừa là nhân ái, từ đó mà phát ra các đức khác và các đức khác tụ cả về nó; Nhân gồm hiếu đễ (kính yêu cha mẹ và những người trong gia đình), gồm trung với nước; gồm Nghĩa, Lễ (Người không có đức Nhân thì Lễ mà làm gì); gồm Trí (Trí giả lợi Nhân, tức Trí có sáng suốt mới có lợi cho Nhân); gồm Trực tức ngay thẳng không giả dối; gồm Kính tức nghiêm trang cẩn thận trong công việc; gồm Đức..., nhưng ngược lại không một đức nào đủ mà lại coi là Nhân được. Và trong thuyết Quái truyện, ông ý thức về điều Nhân bằng lý trí cực kỳ trong sáng, nâng đức Nhân lên thành phạm trù triết học nhân thế, xác định vai trò con người ở giữa Trời và Đất. Đánh giá về tư tưởng này của ông, nhà văn Ông Văn Tùng - người đã có một số công trình nghiên cứu về văn hóa Trung Hoa - cho rằng “trước Khổng Tử không có ai và sau Khổng Tử không có ai sánh tày” và coi “đây là sự đóng góp vĩ đại nhất của Khổng Tử đối với Trung Quốc và nhân loại”. (Bàn về chữ Nhân - Văn Nghệ số 19 ngày 10/5/2003).
Có thể nói tư tưởng của Khổng Tử về tu thân, về học tập suốt đời để làm người vẫn còn tỏa sáng mãi đến ngày nay. Ông khuyên các vua chúa và những người có trọng trách phải sửa mình, tự trách mình, phải học. Bởi vì theo ông, trách nhiệm về sự thịnh suy của quốc gia thì ai cũng có phần; đức hạnh của kẻ trên, người dưới đều cần cho đất nước; dù sang hay hèn đều cũng phải tu thân; dù địa vị khác nhau nhưng tư cách, đạo đức thì bình đẳng. Ông biến sự tu thân thành ra việc căn bản cho cá nhân, cho gia đình, cho đất nước. “Từ thiên tử cho đến thứ dân đều phải lấy sự sửa mình làm gốc, gốc loạn mà ngọn trị là điều chưa hề có; cái gốc mình đáng hậu mà lại bạc, cái ngọn mình đáng bạc mà lại hậu là điều chưa hề có”. Về học tập suốt đời để làm người, chính ông đã là một tấm gương vĩ đại: đi đâu cũng học, gặp điều gì cũng hỏi, học hỏi không thẹn với kẻ dưới, mê học nhạc đến nỗi không biết mùi thịt trong mấy tháng ròng, học tới quên già. Và ông nêu một tư tưởng lớn còn sáng mãi đến hôm nay: “Bác học nhi đốc chí, thiết vấn nhi cận tư, nhân tại kỳ trung hỹ - Luận ngữ” (Đem hết chí ra mà học tập, hỏi han, suy nghĩ cho đến cùng, đó là chất Người trong mỗi chúng ta).
Về đạo làm người, bằng những tư tưởng và hành động của mình, ông đã đào tạo cho đời một số kẻ sĩ để thay thế bọn quý tộc suy đồi mà trị dân, đặc biệt là ông đã đào tạo giai cấp sĩ phu cho đời sau. Theo học giả, nhà văn Nguyễn Hiến Lê thì trong hai ngàn năm, hết thảy các nhà nho chân chính ở Trung Hoa cũng như ở Việt Nam, lưu danh cũng như vô danh, từ Đổng Trọng Thư, Đào Tiềm, Vương Dương Minh, Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Khuyến đến các ẩn sĩ, thầy đồ đều giữ được truyền thống Khổng Mạnh. Họ “tự gây một uy tín rất lớn trong dân gian, gặp thời thì ra giúp nước, tận trung mà liêm khiết, không gặp thời thì lui về, độc thiện kỳ thân; nước gặp nguy thì không do dự, xả thân vì nghĩa, qua cơn nguy rồi thì mặc ai tranh giành danh lợi; họ không có một chút đặc quyền, cao thượng mà vẫn bình dân, chỉ giúp đồng bào chứ không màng phú quý; họ không có tổ chức mà giai cấp họ lại chặt chẽ, trường tồn vì không tranh với ai, một giai cấp kỳ dị không giống một giai cấp nào trong lịch sử nhân loại. Văn minh nhân loại ngày nay không sao tạo nổi giai cấp đó nữa”. (Khổng Tử, trang 211, NXB Văn hóa - Thông tin, 2001). ở riêng lĩnh vực này, Khổng Tử đã trở thành một vị Vạn thế sư biểu (người thầy của muôn đời).

Nhà bác học Hoa Kỳ - Will Durant - một trong những sử gia lớn nhất thời hiện đại - cho rằng dù triết thuyết của Khổng Tử có những điều không còn phù hợp với ngày nay nữa như bảo thủ cái Thiện, không thích cách mạng (hiểu theo nghĩa cổ là nếu vua không đủ tư cách thì phải lựa người khác thay thế một cách ôn hòa chứ không nên dùng bạo lực) thì đó cũng là điều đương nhiên, bởi vì không ai lại đòi hỏi một triết gia suy nghĩ cho cả hai mươi thế kỷ và một đời người thì làm sao có thể tìm được con đường đưa tới tri thức cho hết thảy các đời sau. Nhưng “Chỉ trong Kitô giáo và Phật giáo chúng ta mới lại thấy một sự gắng sức đầy dũng khí như vậy để khai hóa con người, ráng làm cho cái bản tính tàn bạo của con người hóa ra nhân từ thuần hậu. Ngày nay cũng như ngày xưa, cho thanh niên hấp thụ nhiều tư tưởng của Khổng học, là phương thức tốt nhất cho những dân tộc nào bị nhiễm cái hại của một nền giáo dục quá thiên về trí dục, luân lý suy đồi, từ cá nhân đến toàn thể dân tộc đều kém tư cách”.“Chúng ta ngạc nhiên rằng chỉ có một phần nhỏ trong đạo của ông là không hợp với khoa học, với sự biến đổi của thời gian...  và ta phải đồng ý với cháu nội của ông khi nhắc tới ông như một vị thánh” (Lịch sử văn minh Trung Hoa, tr. 88-89, NXB Văn hóa - Thông tin 2004).
Như vậy là cả ba học giả nổi tiếng trong và ngoài nước, trong các công trình nghiên cứu khoa học đều đánh giá rất cao tư tưởng của Khổng Tử, vậy mà GS Vũ Khiêu nói “Tư tưởng Khổng Tử thực sự là một tư tưởng bảo thủ” được sao? Đánh giá như thế nào về Khổng Tử là quyền của giáo sư, nhưng xin GS cẩn trọng.
3-2008

PHẠM THƯỜNG KHANH
(nguồn: TCSH số 231 - 05 - 2008)


-----------------
1. Lịch sử văn minh Trung Hoa - Will Durant - Nguyễn Hiến Lê dịch - NXB Văn hóa Thông tin, 2004.
2. Khổng Tử - Nguyễn Hiến Lê - NXB Văn hóa Thông tin, 2001.
3. Khổng Tử - Lý Tường Hải - NXB Văn hóa Thông tin, 2005.
4. Khổng Phu tử và Luận ngữ - Phạm Văn Khoái - NXB Chính trị quốc gia, 2004.
5. Bàn về chữ Nhân - Ông Văn Tùng - Văn Nghệ số 19 ngày 10-5-2003.


Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Phê bình thi pháp học đã mang đến sức sống mới cho phê bình văn học Việt Nam. Một số nhà nghiên cứu cho rằng thi pháp học là phương pháp minh chứng cho thành quả thay đổi hệ hình nghiên cứu trong phê bình văn học.

  • Hiện nay trên thế giới, quan niệm về Nghệ thuật tạo hình, Nghệ thuật thị giác và Mỹ thuật mang ý nghĩa gần giống nhau. Nó bao gồm: hội họa, đồ họa, kiến trúc, điêu khắc, trang trí ứng dụng, video clip, sắp đặt v.v..Loại hình nghệ thuật này luôn xuất hiện bằng những hình ảnh (image) thu hút mắt nhìn và ngày càng mở rộng quan niệm, phương thức biểu hiện cũng như khai thác chất liệu. Tuy nhiên, để hiểu thế nào là nghệ thuật trong tranh, hoặc vẻ đẹp của một công trình nghệ thuật còn là câu hỏi đặt ra với nhiều người.

  • HÀ VĂN LƯỠNGPuskin không chỉ là nhà thơ Nga vĩ đại, nhà viết kịch có tiếng mà còn là nhà cải cách văn học lớn. Là người “khởi đầu của mọi khởi đầu” (M. Gorki) Puskin bước vào lĩnh vực văn xuôi với tư cách là một người cách tân trong văn học Nga những năm đầu thế kỷ. Những tác phẩm văn xuôi của ông đã đặt cơ sở vững chắc cho văn xuôi hiện thực và sự ra đời của chủ nghĩa hiện thực phê phán Nga, góp phần khẳng định những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc.

  • ĐẶNG VIỆT BÍCHGần đây trên tuần báo Văn Nghệ đã có bài viết bàn về vấn đề đào tạo "Văn hóa học", nhân dịp Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra nghị quyết V về xây dựng một nền văn hóa, văn nghệ tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

  • PHAN TUẤN ANH “Cuộc nói chuyện của chúng ta đã cho tôi thấy rằng hết thảy những gì liên quan đến bản chất của ngôn ngữ mới ít được nghĩ đến làm sao”                                       (Martin Heidegger)

  • TRẦN ĐÌNH SỬVăn học sáng tác là nhằm để cho người đọc tiếp nhận. Nhưng thực tế là người đọc tiếp nhận rất khác nhau. Lý luận tiếp nhận truyền thống giải thích là do người đọc không sành.

  • NGUYỄN THANH HÙNGVăn học là cuộc sống. Quan niệm như vậy là chẳng cần phải nói gì thêm cho sâu sắc để rồi cứ sống, cứ viết, cứ đọc và xa dần mãi bản thân văn học.

  • LTS: Cuộc tranh luận giữa hai luồng ý kiến về nhân vật lịch sử Nguyễn Hiển Dĩnh, một mệnh quan triều đình Huế có công hay có tội vẫn chưa thuyết phục được nhau.Vấn đề này, Tòa soạn chúng tôi cũng chỉ biết... nhờ ông Khổng Tử "Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri giả" (biết thì nói biết, không biết thì nói không biết, ấy là biết). Vậy nên bài viết sau đây của nhà văn, nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa Nguyễn Đắc Xuân, chúng tôi xin đăng nguyên văn, tác giả phải gánh trọn trách nhiệm về độ chính xác, về tính khoa học của văn bản.Mong các nhà nghiên cứu, cùng bạn đọc quan tâm tham gia trao đổi tiếp.

  • NGUYỄN ĐẮC XUÂNNăm 1998, Thành phố Đà Nẵng dự định lấy tên nhà soạn tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh đặt cho con đường mới song song với đường 2 tháng 9 và đường Núi Thành. Nhưng sau đó qua một số tin bài của tôi đăng trên báo Lao Động nêu lên những điểm chưa rõ ràng trong tiểu sử của ông Nguyễn Hiển Dĩnh, UBND Thành phố Đà Nẵng thấy có một cái gì chưa ổn trong tiểu sử của Nguyễn Hiển Dĩnh nên đã thống nhất rút tên ông ra khỏi danh sách danh nhân dùng để đặt tên đường phố lần ấy. Như thế mọi việc đã tạm ổn.

  • Vừa qua nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân có viết một loạt bài về ông Nguyễn Hiển Dĩnh - một quan lại triều nguyễn, nhà soạn tuồng nổi tiếng Quảng Nam. Qua thư tịch, anh chứng minh Nguyễn Hiển Dĩnh tuy có đóng góp cho nghệ thuật tuồng cổ nhưng những hành vi tiếp tay cho Pháp đàn áp các phong trào yêu nước ở Quảng Nam quá nặng nề nên không thể tôn xưng Nguyễn Hiển Dĩnh là danh nhân văn hoá của việt Nam như Viện Sân khấu và ngành văn hoá ở Quảng Nam Đà Nẵng đã làm. Qua các bài viết của Nguyễn Đắc Xuân có những vấn đề lâu nay ngành văn hoá lịch sử chưa chú ý đến. nhà báo Bùi Ngọc Quỳnh đã có cuộc đối thoại lý thú với anh về những vấn đề nầy.

  • ĐỖ NGỌC YÊNVào những năm 70 của thế kỷ, ở nhiều nước phương Tây tràn ngập không khí của cuộc khủng hoảng gia đình, làm cho nhiều người rất lo ngại. Một số kẻ cực đoan chủ trương xóa bỏ hình mẫu gia đình truyền thống. Nhưng cái khó đối với họ không phải là việc từ bỏ hình mẫu gia đình cũ - mặc dù trên thực tế việc làm đó không phải dễ - mà vấn đề đâu là hình mẫu gia đình mới.

  • NGUYỄN ĐÌNH CHÍNH             Phóng sự điều tra

  • THỦY THANHLâu nay, "quả lắc" vì sự trong sáng tiếng Việt dường như đã trì vào điểm chết của dây dọi. Những mặc cảm, thành kiến hoặc dị ứng về sự "ga lăng ngôn ngữ" trước áp lực của thời đại tin học cũng chững lại như một thái độ thăm dò. Suy cho cùng thì ngôn ngữ cũng có đời sống riêng và nó bao gồm cả thể vía lẫn thể xác. Nó cũng "hữu sinh tất hữu diệt" trong luật tiến hóa và đào thải như nhiên. Ngôn ngữ nói chung là một phương pháp hệ thống hóa và tích lũy tri thức theo sự diễn tiến về mặt lịch đại và sự tiệm tiến về mặt đồng đại.

  • Các lý thuyết văn học tiếp cận văn chương theo những cách khác nhau và có thể được phân loại theo những tiêu chí khác nhau. Tuy nhiên, có một điểm chung tối quan trọng không thể chối cãi: tác phẩm văn học là một hiện tượng sử dụng ngôn ngữ trong đó không thể thiếu vai trò của tác giả, độc giả cũng như thực tại, cho dù mỗi yếu tố tham gia ở những mức độ khác nhau.

  • Viết là một công việc bất hạnh. Một trong những yếu tố gây khốn khổ cho nhà văn là cốt truyện. Cốt truyện là “ông ngoáo ộp” dọa dẫm người cầm bút và cũng là nguyên nhân chung dẫn đến sự bế tắc của họ trong quá trình triển khai tác phẩm.

  • Trên thế giới, ít có loài hoa nào ra đời sớm, phổ biến với nhiều biểu trưng cao quý như hoa sen. Dáng hình đẹp, màu sắc trang nhã, hương thơm thùy mị, thanh khiết, không nhiễm bẩn... chừng ấy đức tính tốt đẹp đã đưa hoa sen thành biểu trưng cao quý của đạo Phật.

  • TRẦN ĐƯƠNGGoethe (1749-1832) hoạt động trên rất nhiều lĩnh vực và ở lĩnh vực nào ông cũng thâu tóm những tri thức đồ sộ, cũng đạt được những thành tựu xuất sắc. Tên tuổi ông trở thành niềm tự hào của cả dân tộc, được Các Mác gọi là người Đức vĩ đại nhất”.

  • AN CHÍNHCó lẽ Hồng Nguyên là một trong những nhà thơ rất thành công về việc dùng "tiếng địa phương trong thơ của mình.

  • Flier Andrei Jakovlevich(Tiến sĩ triết học, nhà văn hóa học của Nga)

  • HOÀNG NGỌC HIẾN    (Đọc "Văn hóa chính trị - truyền thống và hiện đại" (1) của Nguyễn Hồng Phong)Đây là công trình nghiên cứu tổng kết có tính chất chiến lược Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX06 "Văn hóa, văn minh vì sự phát triển và tiến bộ xã hội" do cố giáo sư Nguyễn Hồng Phong làm chủ nhiệm(2). Lịch sử những quá trình hiện đại hóa ở Việt Nam từ cuối t.k.XIX đến nay là một chủ đề quan trọng của công trình.