Xin được nói về Hoàng Phủ Ngọc Tường như một thi sĩ của thiên nhiên

15:15 28/08/2008
LÊ THỊ HƯỜNG1. Yêu con người Hoàng Phủ Ngọc Tường trong thơ, quý con người Hoàng Phủ trong văn, tôi đã nhiều lần trăn trở tìm một từ, một khái niệm thật chính xác để đặt tên cho phong cách Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Tài hoa ư? Thì chính nhà văn thi sĩ đã tự ý thức để vận vào mình nỗi cô đơn dài dặc của cả một đời phù du "tôi sẽ tìm em giữa mịt mờ vô tận, dù một ngày còn đập cánh tài hoa". Độc đáo ư? Thì những vần thơ, những trang ký, ngay cả những lúc "nhàn đàm", nghĩa là những lúc mình là mình nhất, không còn phụ thuộc vào những khuôn mẫu nào, những lúc "kiến thị cuộc đời như một trò chơi và tự xem mình cũng là một trong số những người ham chơi" (Người ham chơi) Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng đã nói lên điều đó. Đa dạng ư? Lẽ nào lại quy vào một từ đơn giản thế, dẫu thế giới nghệ thuật của anh tự nó đã là một minh chứng xác thực cho điều này. Nhân hậu ư? Thì hơn ai hết Hoàng Phủ Ngọc Tường là người đồng cảm với lời hát của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn – một mảnh hồn đồng dạng với anh: "Sống trong đời sống cần có một tấm lòng, để làm gì, em biết không? – Để gió cuốn đi". Cái tâm ấy lấp lánh trên từng trang viết của một con người suốt một đời rong ruổi trong những năm tháng chiến tranh, trong những ngày tháng hòa bình. Dường như khó "sắp xếp" một chỗ cho Hoàng Phủ Ngọc Tường, dù chỉ bằng ngôn từ lý luận. Cảm nhận văn thơ anh Tường là cảm nhận tự trái tim, với cả vốn liếng văn hóa có sẵn ở mỗi người.
Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường đã đem đến cho người đọc một cái nhìn toàn diện về nghiệp văn và cả nghiệp đời của một tác giả. Hoàng Phủ Ngọc Tường thuộc loại tác giả mà những trang viết cũng chính là những trang đời chắt lọc. Cũng hiếm có một tác giả nào thể hiện hết mình một cái tôi vừa đa dạng vừa thống nhất trong những thể loại mà mình sáng tác như Hoàng Phủ Ngọc Tường. Nếu đọc ký Hoàng Phủ Ngọc Tường, chúng ta đối diện với một cái tôi trầm tư về lẽ đời, lẽ người thì dường như trong thơ anh có một con người khác – một cái tôi trầm lặng trong nỗi buồn đơn độc. Và nếu trong thơ, cái tôi luôn tự mình đối diện với bóng mình, một cái tôi ngồi tỉ mẩn lượm nhặt, ghép lắp những – mảnh – mình – rơi – vãi (dáng ai như tôi đi qua cánh đồng, thu nhặt lại mình trên ngọn gió, giống như con chim sẻ nọ, thu về từng cọng vàng khô) thì đọc ký và "nhàn đàm" của anh, người đọc lúc nào cũng tưởng tượng rằng, có một người nghệ sĩ, một kẻ lãng du, rong ruổi hoài giữa khói và mây, "giữa không gian mù sương giăng đầy tơ trời của mùa thu"; giữa tiếng ve ran giấu trong những hàng phượng đỏ mùa hè; hay trong cái tím ngát của buổi chiều, hoặc giữa đêm khuya, khi "những cây ngọc lan nhả vào không trung một mùi hương sâu thẳm và bí ẩn". Dẫu viết về đời hay viết cho mình, dẫu có lúc lặng buồn có lúc bông đùa, riết róng hoặc có khi lên giọng sử thi, lúc nào Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng thể hiện mình như một "thi sĩ của thiên nhiên".
Lần dở từng trang viết của anh, theo sau những bước lãng du, những phút "nhàn đàm", hay đồng điệu với những vần thơ mang tính chất tự bạch của Hoàng Phủ Ngọc Tường, nét đọng lại ở người đọc vẫn là hình ảnh một con người hòa nhập với thiên nhiên. Ngay ở nhan đề những tập sách của anh cũng đã thể hiện được ấn tượng này. Từ Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu, Ai đã đặt tên cho dòng sông, Bản di chúc cỏ lau, đến Hoa trái quanh tôi, Thành phố và chim, Ngọn núi ảo ảnh, Người hái phù dung v.v... những tín hiệu thẩm mỹ ấy đã ngầm bộc lộ con người và nét đặc sắc của văn thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường. Phải chăng một con người biết say đắm một chòm mây, một dáng núi, một bóng trăng là con người biết sống và sống đẹp. Là thi sĩ của thiên nhiên, Hoàng Phủ Ngọc Tường nhạy cảm với cỏ, hoa, ngàn thông, chim sẻ. Trong thơ anh xuất hiện nhiều hình ảnh hoa dại, cỏ gai, chim trời... như là biểu tượng của thiên nhiên trong trẻo, thuần khiết. Là thi sĩ của thiên nhiên, những trang ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường mang đến cho người đọc những miền không gian xanh thẳm, ẩn chìm những vết trầm tích văn hóa từ thiên nhiên.
2. Hoàng Phủ Ngọc Tường viết nhiều thể loại nhưng ở đây chúng tôi chỉ đề cập đến những trang ký viết về thiên nhiên Huế của nhà văn. Với thể ký anh đã khẳng định rõ phong cách riêng và góp phần "bản sắc hoá" văn học một vùng đất. Chính những trang ký này đã thực sự làm nên một Hoàng Phủ Ngọc Tường của Huế, để tác phẩm của anh không biết tự lúc nào đã trở thành một phần máu thịt của văn hóa và văn học Huế. Đọc những trang ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường cảm nhận về thể ký có sự đổi thay thú vị. Thể loại chuyên ghi chép các sự kiện sôi bỏng, có thực này qua ngòi bút Hoàng Phủ Ngọc Tường lại thấm đẫm chất trầm tư, trữ tình. Rất nhiều ánh lửa, Ai đã đặt tên cho dòng sông, Hoa trái quanh tôi... chính là sản phẩm của một phong cách ký độc đáo đến duy nhất, với những trang viết vừa trí tuệ, vừa nặng trĩu trầm tư. Ký Hoàng Phủ Ngọc Tường giàu lượng thông tin. Tác giả tỏ ra am hiểu đến lọc lõi những gì mình viết.
Những trang kí viết về Huế là những trang thơ văn xuôi, góp phần khẳng định sự thành công của anh về thể ký, đồng thời bộc lộ rõ một phong cách riêng. Đó là "chất Huế" bàng bạc khắp những trang viết của anh. Hoàng Phủ Ngọc Tường là cây bút ký gắn bó với cội nguồn, truyền thống văn hóa Huế. Trong bảng màu đa dạng của loại ký thiên về văn hóa, ký Hoàng Phủ Ngọc Tường tập trung về thiên nhiên và văn hóa vườn.
Vườn là một không gian văn hóa đặc trưng của Huế. Hệ thống vườn nhà, vườn lăng, vườn chùa, vườn trường làm tôn tạo sắc xanh và trữ tình cho Huế. Nhạy bén với ưu đãi của thiên nhiên dành cho vùng đất kinh kỳ cũ, bằng những trang ký trữ tình, với văn phong mềm mại, hấp dẫn, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã khắc họa đậm nét yếu tố văn hóa đặc trưng này. Trong Hoa trái quanh tôi, nhà văn viết: "Có lẽ thiên nhiên đã giữ một vai trò nào đó, thực quan trọng, trong sự tổng hợp nên cái mà người ta có thể gọi là "bản sắc Huế". Từ cái nhìn đó, Hoàng Phủ Ngọc Tường say sưa viết về những khu vườn Huế. Không có sự am tường về văn hóa vườn, khó có thể viết được những trang thú vị về vườn Huế như thế.
Những bức tranh thiên nhiên trong bút ký Hoàng Phủ Ngọc Tường mang một nét Huế riêng, nhà văn rất có ý thức làm rõ nét đặc thù của không gian xanh sâu của Huế. Viết về Thành phố và chim, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã từng kêu lên như thảng thốt ngạc nhiên "Chưa cần đến âm nhạc, Huế từ trong tâm hồn nó đã mang sẵn một mêlôđy của riêng mình. Là thành phố vườn, Huế tràn đầy âm do thiên nhiên ban cho: dàn đồng ca của ve sầu mùa hè, tiếng hát trong và cao vút của ve kim như tiếng đàn viôlông mùa thu, lời nỉ non của côn trùng trong những khu vườn mùa đông, và cả bốn mùa, ôi Huế bốn mùa đầy tiếng chim". Trong mẩu bút ký Khói và mây, Hoàng Phủ Ngọc Tường kỳ công tả một tiếng ve, một thứ âm thanh có lẽ trở thành của Huế mỗi lúc mùa hạ trở về: "Khu vườn Nhà Chung trước mặt nhà tôi đầy tiếng ve. Ve sầu kêu rất đúng giờ, cứ cách nhau vài tiếng thì lại dấy lên cùng một lúc như một dàn nhạc giao hưởng, khiến cho mùa hè ở Huế có một âm thanh riêng. Đến già nửa mùa hè thì ve sầu im tiếng nhường chỗ cho tiếng ve kim. Ve kim kêu li ri như tiếng vĩ cầm, báo hiệu mùa thu sắp đến". Nhà văn khẳng định: "Thật hiếm có thành phố nào mà tiếng ve lại xen lẫn với tiếng xe cộ như ở Huế. Rõ ràng Huế là một thành phố vườn. Tôi có cái thú lên chơi ở những khu vườn ngoại ô vào dịp đầu thu. Ở đó trong ngọn gió heo may lành lạnh, tôi còn bắt gặp trên những thân cây trong vườn những chiếc vỏ khô của con ve sầu. Mùa hè đã đi qua song trời đất còn để lại một chút dấu tích trên những xác ve sầu".
Huế là một thành phố xanh, người Huế sống gần gũi, gắn liền với thiên nhiên nên môi trường xanh ấy có tầm quan trọng đặc biệt trong việc tìm hiểu tính cách con người của vùng đất kinh kỳ cũ. Văn hóa vườn tiềm ẩn trong cách sống, cách ăn uống và cả cách ứng xử của người Huế. Nét văn hóa ứng xử đó đã được Hoàng Phủ Ngọc Tường thể hiện tinh tế qua một thể loại ngỡ chỉ là ghi chép sự kiện. Nét văn hóa Huế in sâu trong những dòng chữ, câu văn khi anh tìm thấy sự tương giao giữa người Huế và thiên nhiên. Theo Hoàng Phủ Ngọc Tường: "Tưởng không cần nhiều hơn để nhận ra rằng có bao nhiêu điều trong đời sống nội tâm của người Huế đã hình thành qua tình bạn lâu dài với chim đến nỗi người ta đã mang theo tiếng chim vào âm nhạc để cố gắng đạt tới nỗi lòng, như trong bài Lý qua đèo".
Viết về mối quan hệ thân thiết giữa thiên nhiên và con người, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã đơn cử một cách ứng xử đầy nghĩa tình của người Huế với cây xanh. Theo anh: "Cho đến nay, người Huế vẫn còn duy trì một phong tục cổ xưa về tình bạn cao quý đó. Khi người chủ vườn qua đời thì những người già đem buộc băng tang vào những cây quý trong vườn để cây khỏi tàn lụi theo, vì người ta tin rằng cây cũng vui buồn cùng với con người". Người Huế chăm chút vườn "với tất cả ý thức văn hóa và đã nhận lại từ cây cối những lời ngụ ngôn thầm lặng" (Hoa trái quanh tôi)..
Trong văn hóa ứng xử của người Huế có một tục tạ ơn đầy chất nhân văn – đó là tục tạ ơn cây của những người làm vườn xưa. Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường cung cấp cho người đọc một phong tục nhân hậu, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa vườn cây và con người (Hoa trái quanh tôi). Nhân vật bà Lan Hữu trong mẩu ký đã nhỏ nhẹ tâm sự: "Người làm vườn xưa có tục tạ ơn cây. Cuối năm có cái lễ nhỏ, có hột nổ, pháo và ít giấy vàng bạc dán vào gốc cây. Không phải thờ cúng thần thánh chỉ là mình đã nhận của nó nhiều thì trả lại cho nó chút ít. Cô không làm như người ta, nhưng con người biết ơn cây là phải". Có thể nói đó là cách ứng xử rất Huế.
Như tất cả những ai quan tâm đến môi trường thiên nhiên xứ Huế, lại là nhà văn nhạy cảm với mối quan hệ giữa con người và môi trường, Hoàng Phủ Ngọc Tường nhiều lần lên tiếng báo động về sự hủy hoại thiên nhiên trong lành của Huế. Trong mẩu ký Thành phố và chim, Hoàng Phủ Ngọc Tường day dứt: "Bây giờ thì tất cả đã bay về phương trời nào không biết... Bây giờ thành phố vắng bóng chim, hầu như chim chóc đã bỏ Huế mà đi. Nguồn cơn ấy bởi vì đâu? ". Bằng nỗi trầm tư đầy tâm huyết người thi sĩ thiên nhiên ấy đã lên tiếng đánh động về sự hủy hoại môi trường của vùng đất kinh kỳ cũ và tìm giải pháp nhằm bảo vệ thiên nhiên vườn Huế, để một ngày nắng ấm những cánh chim lại bay về – "những đàn còn hoàng hôn, lũ quạ mùa mít chín, con chim ca cút kêu đò, con chim khách lẫn vườn cau, con chim chèo bẻo lẫn cây măng vòi, và sau cùng, cả con chim bói cá sặc sỡ bay vù qua ký ức tuổi thơ của tôi, mê hoặc như ảo ảnh" (Thành phố và chim).
Huế trong những trang văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường mang âm hưởng huyền hoặc của những thành quách rêu phong, những khu vườn trầm mặc, cổ kính, những rừng thông u tịch, nét trữ tình của núi Ngự sông Hương. Đã từ lâu sông Hương núi Ngự đã trở thành biểu tượng gắn kết trong thơ văn. Trong đời sống văn hóa tinh thần của cư dân Huế, sông Hương núi Ngự mang vẻ đẹp cân xứng, hài hòa. Nhà văn đã tìm thấy trong vẻ đẹp sơn thủy hữu tình này một sự hòa nhập "văn hóa dòng sông", và "văn hóa núi". Sông Hương đã trở thành đối tượng thẩm mỹ của thơ ca nhạc họa, nhưng chỉ dưới ngòi bút của Hoàng Phủ Ngọc Tường, dòng sông thi ca này mới được soi chiếu từ nhiều phía. Dòng Hương chảy tràn trên những trang ký của anh, nhiều dáng vẻ. Có khi sông Hương là "một cô gái di-gan phóng khoáng và man dại, có khi là "mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở", có lúc sông Hương trở thành "một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya". Đến với những trang ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường, người đọc có dịp hiểu rõ thêm về cội nguồn sông Hương và văn hóa Huế. Sông Hương và "văn hóa sông ngòi" ấy dường như được Hoàng Phủ Ngọc Tường thu tóm lại trong một mẩu huyền thoại đẹp khép lại những trang ký bộc lộ một cái tôi trầm tư và nồng cháy suy tư: "Ai đã đặt tên cho dòng sông? Có nhiều cách trả lời cho câu hỏi ấy. Trong đó, tôi thích nhất một huyền thoại kể rằng vì yêu quý con sông xinh đẹp của quê hương, con người ở hai bờ đã nấu nước trăm loài hoa đổ xuống lòng sông, để làn nước thơm tho mãi mãi. Tôi lĩnh hội ý của truyền thuyết ấy như thế này: con người đã đặt tên cho dòng sông như nhà thơ chọn bút hiệu của mình, gửi gắm vào đấy tất cả ước vọng muốn đem cái Đẹp và tiếng Thơm để xây đắp văn hóa và lịch sử".
Không thể kể ra hết những câu, những chữ, những lóng lánh tài hoa trên những trang ký viết về sông nước thiên nhiên của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Không thể trích dẫn hết những câu vào loại "tuyệt bút" của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Văn phong Hoàng Phủ Ngọc Tường có những câu đẹp như không phải là viết mà như trào ra từ đầu ngọn bút trong một "phút linh" không trở lại. Và tôi chợt hiểu vì sao nhà văn Tô Hoài, một trong những bậc thầy về nghệ thuật ngôn từ, khi giới thiệu tập ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường đã không viết gì thêm ngoài chính những dòng văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường, để rồi cuối cùng bật thốt lên: " Hoàng Phủ Ngọc Tường đã trằm cả tâm hồn trong khuôn mặt cuộc đời cùng với đất trời, sông nước của Huế". Trong mọi không gian và thời gian, dưới ngòi bút tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường, Huế hiện ra quen thuộc mà lạ lẫm đến bất ngờ. Bằng những con chữ có hồn anh đã góp phần làm nổi rõ bản sắc của thiên nhiên Huế và con người Huế. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã góp cho ký Việt một tiếng nói riêng của một nhà văn rất Huế.
3. Sinh thời nhà văn Nguyễn Tuân nhận định: "Ký Hoàng Phủ Ngọc Tường có rất nhiều ánh lửa". Hẳn rằng Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tiếp nhận rất nhiều ánh lửa của đời sống và luôn giữ cho tâm hồn mình nồng ấm. Chất lửa ấy là một phần tâm hồn của nhà văn. Niềm tin về cuộc sống của nhà văn thật lớn lao. Giữa bao nhiêu thăng trầm cuộc sống, anh tin rằng "chim phượng hoàng sẽ bay về núi cũ, bầy ong mật sẽ sống lại trên những hoa rừng nở đầy thung lũng". Niềm tin ấy đã giúp anh vượt qua hết mọi trắc trở kiếp người, để hôm nay Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường như một món quà tinh thần to lớn anh dành cho cuộc đời.
Một nhà văn lớn phải là một nhà văn vượt ra khỏi giới hạn của văn học vùng, văn học địa phương để trở thành nhà văn dân tộc và vươn đến ngưỡng cửa thế giới. Tôi tin rằng Hoàng Phủ Ngọc Tường đã đạt được điều đó. Nhưng dẫu sao vẫn cứ muốn dành Hoàng Phủ Ngọc Tường cho Huế, bởi từ lâu anh đã làm một mảnh hồn thân thuộc của Huế rồi. Xin được mượn những câu thơ của Nguyễn Trọng Tạo để hiểu thêm về "người thi sĩ thiên nhiên":
Sao thèm một điệu gì xưa lắm
Thèm đọc một đoạn văn Hoàng Phủ Ngọc Tường
Có ai đó rót chiều vào chén ngọc
Huế dịu dàng xây bằng khói và sương
.
Huế, tháng 5/2002
L.T.H

(nguồn: TCSH số 161 - 07 - 2002)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN TRƯƠNG ĐÀNĐã nhiều sử liệu viết về cuộc xử án vua Duy Tân và các lãnh tụ khởi xướng cuộc khởi nghĩa bất thành tháng 5-1916, mà trong đó hai chí sĩ Thái Phiên - Trần Cao Vân là hai vị đứng đầu. Tất cả các sử liệu đều cho rằng, việc hành hình đối với Thái Phiên, Trần Cao Vân, Tôn Thất Đề, Nguyễn Quang Siêu diễn ra vào sáng ngày 17-5-1916. Ngay cả trong họ tộc hai nhà chí sĩ, việc ghi nhớ để cúng kỵ, hoặc tổ chức kỷ niệm cũng được tính theo ngày như thế.

  • PHONG LÊBây giờ, sau 60 năm - với bao là biến động, phát triển theo gia tốc lớn của lịch sử trong thế kỷ XX - từ một nước còn bị nô lệ, rên xiết dưới hai tầng xiềng xích Pháp-Nhật đã vùng dậy làm một cuộc Cách mạng tháng Tám vĩ đại, rồi tiến hành hai cuộc kháng chiến trong suốt 30 năm, đi tới thống nhất và phát triển đất nước theo định hướng mới của chủ nghĩa xã hội, và đang triển khai một cuộc hội nhập lớn với nhân loại; - bây giờ, sau bao biến thiên ấy mà nhìn lại Đề cương về văn hoá Việt Nam năm 1943(1), quả không khó khăn, thậm chí là dễ thấy những mặt bất cập của Đề cương... trong nhìn nhận và đánh giá lịch sử dân tộc và văn hoá dân tộc, từ quá khứ đến hiện tại (ở thời điểm 1943); và nhìn rộng ra thế giới, trong cục diện sự phát triển của chủ nghĩa tư bản hiện đại; và gắn với nó, văn hoá, văn chương - học thuật cũng đang chuyển sang giai đoạn Hiện đại và Hậu hiện đại...

  • TƯƠNG LAITrung thực là phẩm chất hàng đầu của một người dám tự nhận mình là nhà khoa học. Mà thật ra, đâu chỉ nhà khoa học mới cần đến phẩm chất ấy, nhà chính trị, nhà kinh tế, nhà văn hoá... và bất cứ là "nhà" gì đi chăng nữa, trước hết phải là một con người biết tự trọng để không làm những việc khuất tất, không nói dối để cho mình phải hổ thẹn với chính mình. Đấy là trường hợp được vận dụng cho những người chưa bị đứt "dây thần kinh xấu hổ", chứ khi đã đứt mất cái đó rồi, thì sự cắn rứt lương tâm cũng không còn, lấy đâu ra sự tự phản tỉnh để mà còn biết xấu hổ. Mà trò đời, "đã trót thì phải trét", đã nói dối thì rồi cứ phải nói dối quanh, vì "dại rồi còn biết khôn làm sao đây".

  • MÃ GIANG LÂNVăn học tồn tại được nhiều khi phụ thuộc vào độc giả. Độc giả tiếp nhận tác phẩm như thế nào? Tiếp nhận và truyền đạt cho người khác. Có khi tiếp nhận rồi nhưng lại rất khó truyền đạt. Trường hợp này thường diễn ra với tác phẩm thơ. Thực ra tiếp nhận là một quá trình. Mỗi lần đọc là một lần tiếp nhận, phát hiện.

  • HÀ VĂN LƯỠNGTrong dòng chảy của văn học Nga thế kỷ XX, bộ phận văn học Nga ở hải ngoại chiếm một vị trí nhất định, tạo nên sự thống nhất, đa dạng của thế kỷ văn học này (bao gồm các mảng: văn học đầu thế kỷ, văn học thời kỳ Xô Viết, văn học Nga ở hải ngoại và văn học Nga hậu Xô Viết). Nhưng việc nhận chân những giá trị của mảng văn học này với tư cách là một bộ phận của văn học Nga thế kỷ XX thì dường như diễn ra quá chậm (mãi đến những thập niên 70, 80 trở đi của thế kỷ XX) và phức tạp, thậm chí có ý kiến đối lập nhau.

  • TRẦN THANH MẠILTS: Nhà văn Trần Thanh Mại (1908-1965) là người con xứ Huế. Tên ông đã được đặt cho một con đường ở đây và một con đường ở thành phố Hồ Chí Minh. Trần Thanh Mại toàn tập (ba tập) cũng đã được Nhà xuất bản Văn học phát hành năm 2004.Vừa rồi, nhà văn Hồng Diệu, trong dịp vào thành phố Hồ Chí Minh dự lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Trần Thanh Mại, đã tìm thấy trang di cảo lưu tại gia đình. Bài nghiên cứu dưới đây, do chính nhà văn Trần Thanh Mại viết tay, có nhiều chỗ cắt dán, thêm bớt, hoặc mờ. Nhà văn Hồng Diệu đã khôi phục lại bài viết, và gửi cho Sông Hương. Chúng tôi xin cám ơn nhà văn Hồng Diệu và trân trọng giới thiệu bài này cùng bạn đọc.S.H

  • TRẦN HUYỀN SÂMLý luận văn học và phê bình văn học là những khái niệm đã được xác định. Đó là hai thuật ngữ chỉ hai phân môn trong Khoa nghiên cứu văn học. Mỗi khi khái niệm đã được xác định, tức là chúng đã có đặc trưng riêng, phạm trù riêng. Và vì thế, mục đích và ý nghĩa của nó cũng rất riêng.

  • TRẦN THÁI HỌCCó lẽ chưa bao giờ các vấn đề cơ bản của lý luận văn nghệ lại được đưa lên diễn đàn một cách công khai và dân chủ như khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới. Vấn đề tuyên truyền trong nghệ thuật tuy chưa nêu thành một mục riêng để thảo luận, nhưng ở nhiều bài viết và hội nghị, chúng ta thấy vẫn thường được nhắc tới.

  • NGUYỄN TRỌNG TẠO...Một câu ngạn ngữ Pháp nói rằng: “Khen đúng là bạn, chê đúng là thầy”. Câu ngạn ngữ này đúng trong mọi trường hợp, và riêng với văn học, Hoài Thanh còn vận thêm rằng: “Khen đúng là bạn của nhà văn, chê đúng là thầy của nhà văn”...

  • BẢO CHI                 (lược thuật)Từ chiều 13 đến chiều 15-8-2003, Hội nghị Lý luận – Phê bình văn học (LL-PBVH) toàn quốc do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức đã diễn ra tại khu nghỉ mát Tam Đảo có độ cao 1.000 mét và nhiệt độ lý tưởng 23oc. Đây là hội nghị nhìn lại công tác LL-PBVH 28 năm qua kể từ ngày đất nước thống nhất và sau 54 năm Hội nghị tranh luận Văn nghệ tại Việt Bắc (1949). Gần 200 nhà LL-PB, nhà văn, nhà thơ, nhà báo và khách mời họp mặt ở đây đã làm nóng lên chút đỉnh không khí ôn hoà của xứ lạnh triền miên...

  • ĐỖ LAI THÚY                Văn là người                                  (Buffon)Cuốn sách thứ hai của phê bình văn học Việt Nam, sau Phê bình và cảo luận (1933) của Thiếu Sơn, thuộc về Trần Thanh Mại (1911 - 1965): Trông dòng sông Vị (1936). Và, mặc dù đứng thứ hai, nhưng cuốn sách lại mở đầu cho một phương pháp phê bình văn học mới: phê bình tiểu sử học.

  • ĐẶNG TIẾNThuật ngữ Thi Học dùng ở đây để biểu đạt những kiến thức, suy nghĩ về Thơ, qua nhiều dạng thức và trong quá trình của nó. Chữ Pháp là Poétique, hiểu theo nghĩa hẹp và cổ điển, áp dụng chủ yếu vào văn vần. Dùng theo nghĩa rộng và hiện đại, theo quan điểm của Valéry, được Jakobson phát triển về sau, từ Poétique được dịch là Thi Pháp, chỉ chức năng thẩm mỹ của ngôn từ, và nới rộng ra những hệ thống ký hiệu khác, là lý thuyết về tính nghệ thuật nói chung. Thi Học, giới hạn trong phạm vi thi ca, là một bộ phận nhỏ của Thi Pháp.

  • TRẦN CAO SƠNTriều Nguyễn tồn tại gần 150 năm, kể từ khi Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế với niên hiệu Gia Long - năm1802, tạo dựng một đế chế tập quyền trên toàn bộ lãnh thổ mà trước đó chưa hề có. Trải qua một thế kỷ rưỡi tồn tại, vinh hoa và tủi nhục, Triều đại Nguyễn là một thực thể cấu thành trong lịch sử Đại Việt. Những cái do triều đình Nhà Nguyễn mang lại cũng rất có ý nghĩa, đó là chấm dứt cuộc nội chiến, tranh giành quyền lực, xương trắng máu đào liên miên mấy thế kỷ, kiến tạo bộ máy quản lý hành chính trung ương tập quyền thống nhất mà Quang Trung - Nguyễn Huệ đã dày công vun đắp gây dựng trước đó. Dân tộc đã phải trải qua những năm tháng bi hùng với nhiều điều nuối tiếc, đáng bàn đáng nói ngay ở chính hôm nay. Song lịch sử là lịch sử, đó là một hiện thực khách quan.

  • TRẦN HUYỀN SÂMNếu nghệ thuật là một sự ngạc nhiên thì chính tiểu thuyết Thập giá giữa rừng sâu là sự minh định rõ nhất cho điều này. Tôi bàng hoàng nhận ra rằng, luận thuyết: con người cao quý và có tình hơn động vật đã không hoàn toàn đúng như lâu nay chúng ta vẫn tin tưởng một cách hồn nhiên. Con người có nguy cơ sa xuống hàng thú vật, thậm chí không bằng thú vật, nếu không ý thức được giá trị đích thực của Con Người với cái tên viết hoa của nó. Phải chăng, đây chính là lời nói tối hậu với con người, về con người của tác phẩm này?

  • HOÀNG NGỌC HIẾN           ...Từ những nguồn khác nhau: đạo đức học, mỹ học, triết học xã hội-chính trị, triết học xã hội-văn hoá... cảm hứng triết luận trong nghiên cứu, phê bình văn học là nỗ lực vượt lên trên những thành kiến và định kiến hẹp hòi trong sinh hoạt cũng như trong học thuật. Những thành kiến, định kiến này có khi lại được xem như những điều hiển nhiên. Mà đã là “hiển nhiên” thì khỏi phải bàn. Đây cũng là một thói quen khá phổ biến trong nhân loại. Cảm hứng triết luận trong nghiên cứu, phê bình có khi bắt nguồn từ suy nghĩ về chính những điều “hiển nhiên” như vậy...

  • THÁI DOÃN HIỂUVào đời, Lưu Quang Vũ bắt đầu làm thơ, viết truyện, rồi dừng lại nơi kịch. Ở thể loại nào, tài năng của Vũ cũng in dấu ấn đậm đà làm cho bạn đọc cả nước đi từ ngạc nhiên đến sửng sốt. Thơ Lưu Quang Vũ một thời được lớp trẻ say sưa chép và thuộc. Kịch Lưu Quang Vũ một thời gần như thống trị sân khấu cả nước.

  • TRẦN THANH ĐẠMTrong lịch sử nước ta cũng như nhiều nước khác, thời cổ - trung đại cũng như thời cận - hiện đại, mỗi khi một quốc gia, dân tộc bị xâm lược và chinh phục bởi các thế lực bên ngoài thì trong nước bao giờ cũng phát sinh hai lực lượng: một lực lượng tìm cách kháng cự lại nạn ngoại xâm và một lực lượng khác đứng ra hợp tác với kẻ ngoại xâm.

  • ĐỖ LAI THUÝLTS: Trong số tháng 5-2003, Sông Hương đã dành một số trang để anh em văn nghệ sĩ Huế "tưởng niệm" nhà văn Nguyễn Đình Thi vừa qua đời. Song, đấy chỉ mới là việc nghĩa.Là một cây đại thụ của nền văn nghệ cách mạng Việt Nam, Nguyễn Đình Thi toả bóng trên nhiều lĩnh vực nghệ thuật. Bằng chứng qua các bài viết về ông sau đây, Sông Hương xin trân trọng dành thêm trang để giới thiệu sâu hơn, có hệ thống hơn về Nguyễn Đình Thi cùng bạn đọc.

  • ĐẶNG TIẾN…Nguyễn Đình Thi quê quán Hà Nội, nhưng sinh tại Luang Prabang, Lào, ngày 20/12/1924. Từ 1931 theo gia đình về nước, học tại Hải Phòng, Hà Nội. Năm 1941 tham gia Thanh Niên cưú quốc, 1943 tham gia Văn hóa cứu quốc, bị Pháp bắt nhiều lần. Năm 1945, tham dự Quốc Dân Đại hội Tân Trào, vào Ủy ban Giải phóng Dân tộc. Năm 1946, là đại biểu Quốc hội trẻ nhất, làm Ủy viên Thường trực Quốc hội, khóa I…

  • HỒ THẾ HÀ          Hai mươi lăm năm thơ Huế (1975 - 2000) là một chặng đường không dài, nhưng nó diễn ra trong một bối cảnh lịch sử - thi ca đầy phức tạp. Cuộc sống hàng ngày đặt ra cho thể loại những yêu cầu mới, mà thơ ca phải làm tròn sứ mệnh cao cả với tư cách là một hoạt động nhận thức nhạy bén nhất. Những khó khăn là chuyện đương nhiên, nhưng cũng phải thấy rằng bí quyết sinh tồn của chính thể loại cũng không chịu bó tay. Hơn nữa, đã đặt ra yêu cầu thì chính cuộc sống cũng đã chuẩn bị những tiền đề để thực hiện. Nếu không, mối quan hệ này bị phá vỡ.