NGUYỄN ĐỨC TÙNG
Nhiều năm trước, khi đi thực tập nội trú về cấp cứu trong một bệnh viện ở Mỹ, tôi ngạc nhiên thấy trên tường và sàn nhà khắc nhiều câu thơ của một tác giả xa lạ. Các sách giáo khoa mà tôi đã học không đề cập đến tên ông. Sau này tôi mới biết đó là một nhà thơ được nhiều người yêu mến.
William Stafford - Ảnh: wiki
![]() |
Ngày nay nếu cần chọn những bài thơ tiêu biểu cho nền thi ca Hoa Kỳ trong vòng mấy chục năm qua, có lẽ tôi sẽ chọn bài “Đi qua bóng tối” (Traveling through the dark), của William Stafford trong tập thơ cùng tên xuất bản năm 1962.
William Stafford thuộc thế hệ của John Berryman, Elizabeth Bishop và Robert Lowell, sinh năm 1914, mất năm 1993, lớn lên ở tiểu bang Kansas, học Đại học Kansas. Tại đây,ông bắt đầu chọn con đường viết văn, tham gia vào cuộc vận động của sinh viên chống phân biệt chủng tộc. Trong thời gian thế chiến thứ II, ông bị tập trung vào trại lao động vì phản đối chiến tranh, thời đó gọi là các conscientious objectors (người phản đối chiến tranh vì lương tâm). Ông lập gia đình trong thời gian này, được trả tự do vào năm 1946, và hoàn tất chương trình tiến sĩ năm 1954. Stafford làm nhiều công việc khác nhau, từ lao động trên các cánh đồng củ cải đường, nhà máy lọc dầu, công việc xây dựng, ngành rừng và cuối cùng là giáo sư Anh văn tại Portland, Oregon. Ngoài các tập thơ, W. Stafford còn viết nhiều truyện ngắn, tiểu luận.
Có vẻ như ông không có một cố gắng nào để nói về các đề tài lớn lao có tính xã hội; và hình như ông chỉ làm thơ để làm vui thú chính mình, mặc dù thế, người đọc bao giờ cũng bắt gặp trong những thơ ông một cuộc chiến đấu gian nan đẹp đẽ của một lương tâm bền bỉ, tuy dịu dàng nhưng cương quyết không thỏa hiệp, không ngừng tra vấn.
Đi qua bóng tối
Lái xe trong đêm tôi nhìn thấy con nai
chết nằm bên vệ đường
Tốt nhất là lăn nó xuống mương
Đường hẹp, tránh nhau thường nguy hiểm chết người.
Theo ánh sáng đuôi xe, tôi đi vòng lại.
Đứng bên cái chết còn mới nguyên
Mình con nai cứng lại, gần lạnh giá.
Tôi lật nó ra, da bụng phồng lên.
Khi chạm tay vào một bên tôi chợt hiểu
Da bụng ấm, báo hiệu bào thai còn sống
Còn đợi chờ, nhưng không thể sinh ra
Tôi đứng qua lề đường suy nghĩ ngẩn ngơ
Ngọn đèn chiếu thấp mờ dần phía trước;
Tiếng máy nổ rì rầm êm dịu dưới mui xe.
Tôi đứng im trong quầng lửa hồng đỏ rực;
Quanh lũ chúng tôi, thiên nhiên cùng thức lắng nghe.
Tôi suy nghĩ rất lung cũng vì tất cả chúng ta
Rồi đẩy nó qua bờ, lăn xuống bến sông xa.
(1)
Giọng thơ giản dị, có tính chất mô tả, ít ngôn ngữ mơ hồ như thường gặp trong nhiều bài khác của ông, mời người đọc đi vào cuộc đối thoại trực tiếp giữa họ và ông, giữa con người và thiên nhiên. Ngôn ngữ của Stafford hàm súc và mặc dù ông ít dùng các biểu tượng, thơ ông chất chứa sự đa nghĩa, không phải là sự đa tuyến của lối thơ hậu hiện đại, mà là sự đa nghĩa xuất phát trực tiếp từ một triết lý thâm trầm nằm dưới những hiện thực được ghi nhận bằng cặp mắt trong suốt.
Đây là một bài thơ tự sự tiêu biểu: một câu chuyện kể có đầu có đuôi. Ngoài đời, việc dừng lại bên một con nai hay hươu bị chết, có lẽ do bị xe cán, và lăn nó xuống hố không phải là một hành động ngoại lệ hiếm hoi. Nhiều người sẽ bỏ qua trường hợp này. Nhưng tác giả đã ngồi xuống, đặt tay lên bụng con nai, và vì vậy ông nhận ra hơi ấm, nhận ra sự sống. Bắt đầu từ đây có một mối xung đột khởi đi. Anh có muốn cứu con nai con trong bụng mẹ không?
Chúng ta phải làm gì trong trường hợp này?
Ai là người đưa ra quyết định cuối cùng? Càng suy nghĩ ta càng thấy rằng người tạo ra quyết định không phải chỉ là nhà thơ/nhân vật mà là “our group” (nhóm chúng tôi, lũ chúng tôi). Lũ chúng tôi tức là ai? Tại sao tác giả lại dùng đến nhiều câu như thế để miêu tả chiếc xe hơi đang rì rì nổ máy, như thể đó là một vật biết suy nghĩ và đang suy nghĩ? Nhóm của chúng tôi gồm có: người lái xe, con nai mẹ đã chết, con nai con hãy còn nằm trong bụng mẹ chờ sinh ra, chiếc xe hơi và cảnh vật xung quanh.
Tóm lại, một thế giới.
Bài thơ nói với chúng ta về sự phân vân của một người đi giữa cuộc đời, đang ở vào thế tiến thoái lưỡng nan. Nghĩ đến bài thơ, tôi yêu mến hơn phẩm chất cao đẹp của người trí thức: sự hoài nghi trước những quyết định cá nhân và lịch sử. Những người không có đức tính hoài nghi, tuyệt đối tin tưởng vào một thứ sự thật, một thứ chân lý duy nhất, là những kẻ đáng nghi ngờ về trí tuệ và phẩm cách cá nhân. Hơn thế nữa, đôi khi đó là những kẻ rất đáng sợ. William Stafford thường mở ra những cuộc đối thoại nhân sinh gay cấn như thế trong những bài thơ mang vẻ ngoài giản dị (deceptively simple), với giọng điệu từ tốn, dịu dàng của mình.
Hỏi tôi
Đôi khi dòng sông băng giá hỏi tôi
Những lỗi lầm mắc phải. Hỏi rằng có phải
Việc tôi làm là cuộc đời tôi. Những người
Hiện ra trong tâm trí tôi chậm rãi
Một số chở che, một số người mưu hại
Hỏi tôi thế nào là sự khác nhau
Gây nên bởi tình yêu, bởi căm hận thương đau
Bạn nói đi tôi sẵn sàng nghe
Bạn và tôi có thể quay đầu
Nhìn lại dòng sông im lìm, trôi đi, chờ đợi. Chúng mình
Hẳn biết dòng nước ngầm kia chảy xiết, và nó
Đã tới rồi đó đây, và trôi đi ngàn dặm
Giữ gương mặt dịu dàng phẳng lặng
Trước chúng ta, sông nói gì chăng, đó là điều tôi muốn nói ra
(2)
Bài thơ gồm có hai khổ. Khổ thơ trước bắt đầu với chữ đôi khi, với đời sống như thể là đã xuất hiện, đã qua trong quá khứ được chiếu ánh sáng soi rọi từ hiện tại, những kinh nghiệm, những thành công và thất bại, sự sáng suốt và lỗi lầm, trung thành và phản bội, sự thỏa mãn và lòng hối hận.
Khổ thơ thứ hai nói về sự lắng nghe, nhìn nhận lại sự vật từ góc nhìn của người khác. Bạn lắng nghe tiếng nói của người khác, lắng nghe tiếng nói của dòng sông, nhưng dòng sông không có tiếng nói. Nó im lặng. Nhưng đó là sự im lặng bên ngoài, sự vận động là bên trong. Hay ngược lại sự im lặng là hiện tại. Sự vận động là quá khứ. Hay khác hơn nữa sự im lặng của một người này là sự thay đổi của một người khác. Thơ Stafford thường là những câu hỏi không có câu trả lời. Tình trạng không có câu trả lời dẫn người đọc đến trạng thái dễ chấp nhận, và do đó dễ tha thứ, sự ước muốn được lắng nghe và chấp nhận những bí mật vĩnh viễn. Ngôn ngữ phóng khoáng nhẹ nhàng, giọng điệu lặng lẽ, là những tính cách đặc biệt của Stafford. Nhiều nhà thơ Hoa Kỳ nổi tiếng với cách tiếp cận từ các sự vật nhỏ bé, nhưng Stafford ở trong số những người lừng lẫy hơn cả. Khi ông nói về kiến, chúng ta không chỉ thấy sự quan sát, cũng không chỉ là triết lý, mà là sự hài hước toát ra của cuộc đời rất thực.
Những con kiến đi vội trên đường
Gặp nhau nhường lối tránh qua bên phải
(3)
Các bài thơ của ông thường có một hay vài chữ quan trọng. Âm điệu xô đẩy âm điệu, những chữ được sử dụng đi sử dụng lại với tác dụng khác nhau. Có một vài yếu tố siêu thực trong thơ ông nhưng không rõ ràng: đó có thể là sự phóng túng tràn bờ của các thi ẩn hơn là một lập trường thi pháp. Có một sự liên hệ, sự liên tưởng (association) rất khó giải thích giữa nhiều chữ và nhiều hình ảnh khác nhau. Stafford gần như có một tập hợp các từ vựng riêng, mặc dù ông không cố gắng làm cho chúng tối nghĩa lại. Việc sử dụng nhiều chữ lập đi lập lại như thế làm cho chúng biến thành một thứ biểu tượng, với ý nghĩa biểu tượng (symbolic meaning). Tuy vậy người đọc không nên để các ý nghĩa biểu tượng này hay các ý nghĩa của ẩn dụ che mờ mắt, thu hẹp lối nhìn, đóng khung các ý nghĩa, vốn là cách mà Stafford quyết liệt chống lại.
Có một cố gắng đều đặn trong ông để trở đi trở lại với khu vườn cũ, căn nhà xưa, mối tình đầu, gõ cánh cửa thời gian, chiến đấu với sự mất mát. Quá khứ chỉ tồn tại trong ký ức, thời gian chỉ tồn tại khi có quá khứ. Thời gian là một dòng chảy đều đặn chuyên chở những sự kiện của đời sống, muốn chặng đứng thời gian lại nhà thơ phải dựa vào ký ức, dựa vào những phút giây thức tỉnh của ký ức, như một hoạt động đầy ý thức. Có thể thấy thơ Stafford không đặt nặng lắm vào việc sắp xếp vần điệu, ông sử dụng nhiều hơn các loại vần lỏng lẻo và vần gián tiếp. Trong cuốn sách You Must Revise Your Life, Bạn phải tu sửa cuộc đời mình, nhà thơ nhấn mạnh đến việc sửa thơ như một quá trình căn bản nhất của sáng tạo. Stafford cho rằng không có một hình thức căn bản nào dành cho thơ, không tin tưởng vào một thể thơ cụ thể nào, và các câu thơ cũng như các khổ thơ chỉ là một đơn vị của xúc cảm và tư tưởng không phải là một đơn vị có tính kỹ thuật. Sự ngắt dòng trong thơ Stafford cũng không quá bất ngờ và phức tạp, tuy vậy vẻ giản dị của chúng vẫn đầy bí ẩn.
Đây là sự ngắt câu tiêu biểu của Stafford, tinh tế, tự nhiên, nhưng ẩn chứa nhiều sức mạnh:
Lái xe trong đêm tôi nhìn thấy một con nai
chết (trên vệ đường…)
(4)
Sự chuyển tiếp, sự ngắt đoạn, sự ngắt câu trong thơ Stafford, đối với tôi không còn là một thứ kỹ thuật thuần túy (craft) thậm chí không còn là một thứ nghệ thuật (art), mà là một luồng chảy triết học, một ý tưởng xao xuyến chảy đi giữa hai bờ ý thức và tiềm thức, nói cách khác là động lực của sáng tạo.
Tự do không chảy theo dòng sông
Nhưng tự do sẽ chảy theo dòng
(5)
Và chú thích:
Dù vậy, nếu như bạn muốn.
(6)
Trong thời đại của Stafford nền phê bình ở Mỹ có nhiều chuyển biến, ví dụ trường phái phê bình mới, sự trỗi dậy của chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hậu hiện đại, và giải cấu trúc, ảnh hưởng của Jaques Derrida. Các nhà phê bình thời đó không chú ý nhiều đến Stafford, vì thơ ông không thích hợp dễ dàng cho các phương pháp phê bình của họ. Sự tiếp cận giản dị về ngôn ngữ, sự thư thả thậm chí buông thả dẫn đến sự đọc không đầy đủ. Stafford quan tâm hơn đến đông đảo độc giả, cố tránh để làm thơ theo lối khó hiểu. Ông nổi tiếng là người không chịu biên tập lại các bài thơ khi đã viết xong. Đó là những bài thơ về sự sống sót trong một xã hội tan rã và một thiên nhiên đầy đe dọa. Năm 1947 ông xuất bản tập hồi ký đầu tiên, Trong trái tim tôi, Down In My Heart, nói về thời kỳ ông ở trong trại giam, thời kỳ Đệ nhị Thế chiến. Tập thơ đầu tiên xuất bản mười ba năm sau đó, 1960, tập Phương Tây của thành phố, West of Your City. Vào tuổi bốn mươi sáu, Stafford bắt đầu sự nghiệp thơ ca một cách muộn màng. Quê hương, nơi chốn, căn nhà, cố xứ, huyền thoại trở thành chủ đề của tập thơ và về sau chủ đề ấy thường trở đi trở lại.
Thế giới xuất hiện một đôi
Lần đầu như ta nhìn thấy
Lần thứ hai nó để lại vậy
Chuyện truyền kỳ theo cách của nó thôi
(7)
Sự vật như nó là và sự vật như chúng ta thấy là. Càng đọc nhiều thơ Stafford càng nhận ra rằng có những giây phút trong cuộc đời ở đó một số sự thật xuất hiện, nhưng đó không phải là sự mặc khải dành cho một số người có khả năng đặc biệt.
Trễ quá rồi bạn ơi tìm lại ngày xưa
Chờ ta, vài con đường khác nữa
Nhưng chỉ một mà thôi - đầu hàng, tan rữa
(8)
Có một sự bất ngờ thú vị khi thấy trong thơ Stafford sự trộn lẫn giữa ngôn ngữ quan phương và ngôn ngữ bình dân, lối kết hợp vần điệu chặt chẽ và sự buông thả bất ngờ. Có một sự do dự thường trở đi trở lại, từ chối các phán đoán, các lời tuyên bố, sự định vị. Stafford quan tâm rất nhiều đến các vấn đề thời sự chính trị. Thật ra cái nhìn của ông đối với chiến tranh và các vấn đề tương tự cũng không ra ngoài thông lệ của các trí thức ủng hộ dân chủ và tự do nhưng sống trong một xã hội thịnh vượng, chưa có dịp nhìn ra mặt trái của các phong trào chiến tranh, lật đổ, cách mạng, bạo loạn, được che giấu đẹp đẽ bởi các danh từ hoa mỹ. Mặc dù vậy với sự mẫn cảm của một nhà thơ tài năng, thơ ông là tiếng nói của lương tâm, tự nó không thể sai lầm, trong chừng mực mà nó không phục vụ cho các mục đích cụ thể.
Hãy nhìn xem: không ai hứa
Chúng ta rồi sẽ hát. Vì vậy thôi dành
Thời gian than khóc nữa
(9)
Thơ là ẩn dụ nhưng không phải là ngụ ngôn. Sự thật trong bài thơ có khi là việc đã xảy ra, đúng như thế, chúng xuất hiện như những sự kiện. Càng đọc thơ Stafford tôi càng tin rằng nhà thơ phải đuổi theo các sự kiện, và đến lượt chúng các sự kiện phải đuổi theo vần điệu của ngôn ngữ.
Đi được nửa đường, cha tôi chết
Ông ngước mắt nhìn tôi. Rồi nhắm lại
Thế giới lặng tờ. Mãi đến hôm nay tôi vẫn giữ
Trong lòng những gì cha tôi nói, đời sống các con -
Bất cứ ánh sáng nào. Ôi, bất cứ ánh sáng nào
(10)
Nhiều năm dạy học, Stafford thường để lại những lời khuyên quý giá cho việc đọc và sáng tạo.
Và nghệ thuật sống. Khi còn cắp sách tới trường, những ngày học hành thi cử lo toan đời sống khó khăn nhất, tôi nhớ:
Any light
Ôi bất cứ ánh sáng nào cũng tốt
Ông làm nhiều thơ về nghệ thuật làm thơ. Đây là lối làm việc theo thói quen kỷ luật:
Mỗi sáng tôi đều dậy sớm, mở cửa ra ngoài
Trước khi trời rạng, chạy dọc con đường
Mờ sương, mặc bàn chân tìm ra nhịp điệu
Dịu dàng mang bước tôi đi. Nào ai đâu hiểu
Một mình con đường dài, khởi đầu ngày mai
(11)
(Run Before Dawn)
Và đây là niềm cảm hứng, hoặc chống lại cảm hứng:
Tôi bỏ đi một ngày, để mặc người đàn bà
Bị cột vào đường rây xe lửa.
Nhưng điều gì xảy ra sau đó nữa?
(12)
Vì người đàn bà bị bỏ lại trên đường rây xe lửa, nên bài thơ phải trở lại như một nỗi ám ảnh, và vì thế người đàn bà phải trở đi trở lại trong bài thơ như một hình ảnh. Nếu có một lời khuyên nào của ông mà tôi nhớ nhất, đó là lời khuyên sau đây, và không chỉ trong thơ mà cả trong đời sống và công việc, nghĩa vụ và tình yêu.
Chỉ có thế giới này hướng dẫn tôi.
Thời tiết đẩy xô, hay những lúc
Nó cuốn tôi đi, tôi liền chạy tới
Từ trường chạm vào mình khi tôi đang bước
Thong thả trong rừng chẳng chút nghĩ suy
(13)
Càng về sau nhà thơ càng có khuynh hướng đi tìm những mối liên hệ nhân quả, hay sự liên kết lạ lùng giữa các sự vật, không phải chỉ vì để giải thích mà còn xuất phát từ một ấn tượng mơ hồ về tính toàn vẹn và tính tổng thể của tồn tại.
Ở xứ sở kia, một giọt mưa tình cờ
Làm vỡ một cái đập to
(14)
Nổi tiếng với thói quen dậy sớm, làm thơ đều đặn, giờ sớm tinh sương là phút sáng tạo, ông đi tìm sự cô đơn như một người bạn, săn đuổi chúng hệt như tìm kiếm một tấm gương, như một người nhìn vào gương để soi sáng sự trung thực của mình.
Mặc dù từ ngữ trong thơ là những chữ giản dị, cấu trúc văn phạm của chúng thì không. Stafford thường viết những câu thơ, dựng nên những hình ảnh đứt quãng, gãy đổ lác đác.
Some time when the river is ice ask me (Đôi lúc khi mà dòng sông đóng băng cật vấn tôi)
Khi sự liên kết giữa các chữ không tuân theo các nguyên tắc về ngữ pháp, trật tự của chúng, trước sau, gần nhau hay xa nhau có những ý nghĩa khiêu gợi, mở ra, thay đổi cách nhìn đối với hiện thực, làm tính chất phân vân lưỡng cực thêm chập chùng. Trong một chừng mực nào đó Stafford là một nhà thơ thể nghiệm. Những bài thơ hay bao giờ cũng bao gồm một thứ ngôn ngữ có liên hệ mật thiết đến hiện thực và thể nghiệm, tức là sự tỉnh thức.
Giờ đây trên tay tôi chiếc xẻng còn rung cảm giác
Dội từ đất, đá, sỏi, cát
(15)
Mỗi ngày ông đều dậy sớm, viết một bài thơ trước lúc rạng đông, kể từ lúc thanh niên cho đến cuối đời, đều đặn. Thật là một tấm gương cần mẫn. Có nhà báo thắc mắc hỏi ông làm cách nào mà ông làm được thơ mỗi ngày, và nếu gặp những ngày không có cảm hứng, chỉ làm ra toàn những bài thơ dở thì sao? Stafford trả lời: “lúc đó tôi liền hạ tiêu chuẩn của tôi xuống”. Tôi hình dung khi nói thế, ông đang tủm tỉm cười. Nhưng thật ra những tiêu chuẩn đã hạ xuống ấy vẫn còn quá cao so với nhiều người khác.
Mặc dù là một người làm việc chuyên cần, Stafford không phải là một người khuyến khích sự làm việc căng thẳng, sự cố gắng tận thiện tận mỹ, trái lại lối sống và cách viết của ông phảng phất đạo lý phương đông, dìu dặt, thư thả, không tìm kiếm một điều gì như sự thành công, tiền bạc, danh vọng, sự công nhận của dư luận, mà chỉ nhằm thỏa mãn những nhu cầu nội tại. Có lẽ vì vậy mà thơ ông đầy riêng tư, tính ngẫm nghĩ, lối tư lự, như con đường mòn đi qua cỏ dại, bào nhẵn bởi bước chân của một người bộ hành. Trước khi mất vào ngày 28 tháng 8 năm 1993, Stafford viết bài thơ cuối cùng của đời mình. Một ngày trước đó, một nhân viên hãng bảo hiểm gọi điện thoại cho nhà thơ, tìm một người tên là William Stafford, sau đó mới nhận ra rằng chỉ là sự trùng tên tình cờ. Bài thơ cuối cùng ấy mở đầu như sau:
“Có phải William Stafford là ông?”
“Thưa đúng, ồ nhưng không”
(16)
Ai đã gọi nhà thơ? Thần chết chăng. Hay một thiên thần, hay một sức mạnh? Bài thơ của Stafford muốn nói điều gì, hay chẳng nói điều gì cả.
Sống một cuộc đời lặng lẽ nhưng vui tươi giữa bạn bè, vợ con thương mến, thơ ông ám ảnh bởi sự cô độc, nhưng đó là sự cô độc chọn lựa, không dễ dàng.
Bạn không một mình đâu nếu bạn lắng nghe sâu
Tiếng động mùa thu im lặng bước ban đầu
(17)
Có một sự liên kết mãnh liệt giữa cá nhân và cộng đồng, giữa con người và thiên nhiên, giữa hạnh phúc cá thể và vô thức cộng đồng, tóm lại một thứ tình thương yêu rộng lớn, gần như vị tha, một sự khiêm tốn lãng mạn, sự lãng mạn ấy không thể có trong một xã hội độc tài tan rã, mỗi khi tôi nghĩ về ông như người dẫn đường, hay hơn thế nữa, người bạn đường. William Stafford thức dậy sớm, trời mờ sương, pha cà phê, nhìn qua cửa sổ, khiêm tốn, riêng tư, nhưng như một thí dụ, như một gợi ý, như một tín hiệu. Có lúc dừng lại, chậm lại, phân vân, ngẫm nghĩ, chờ đợi một giải thích, một nhấn mạnh, một khúc quanh, hay sự chấm hết giản dị.
Khi tôi chết, lòng tôi muốn ra đi
Trong chiều xuống
(18)
Thơ Stafford không làm người đọc ngạc nhiên hay sợ hãi, trái lại chúng kéo dài, triển hạn đời sống của chúng ta, như phong tục kỵ giỗ của người Việt Nam làm nối dài những số phận cá nhân trong tấm lưới cộng đồng của gia tộc và làng xóm. Có lẽ vì thế mà ông cho tôi cảm giác về một người thân gia đình. Tôi tưởng tượng ông vừa viết xong những câu thơ trên đây bên cửa sổ căn nhà thôn quê yên tĩnh, lắng nghe ngoài sân vẳng lại tiếng cười đùa trẻ con trong buổi chiều ấm áp, khói lam lên, rồi sắp xếp lại giấy tờ trên bàn, chuẩn bị bước ra đường.
N.Đ.T
(TCSH337/03-2017)

-------------
(1)
Traveling Through The Dark
Traveling through the dark I found a deer
dead on the edge of the Wilson River road.
It is usually best to roll them into the canyon:
that road is narrow; to swerve might make more dead.
By glow of the tail-light I stumbled black of the car
and stood by the heap, a doe, a recent killing;
she had stiffened already, almost cold.
I dragged her off; she was large in the belly.
My fingers touching her side brought me the reason -
her side was warm; her fawn lay there waiting,
alive, still, never to be born.
Beside that mountain road I hesitated.
The car aimed ahead its lowered parking lights;
under the hood purred the steady engine.
I stood in the glare of the warm exhausted turning red;
around our group I could hear the wilderness listen.
I thought hard for us all - my only swerving -,
then pushed her over the edge into the river.
(2)
Ask Me
Some time when the river is ice ask me
Mistakes I have made. Ask me whether
What I have done is my life. Others
Have come in their slow way into
My thought, and some have tried to help
Or to hurt: ask me what difference
Their strongest love or hate has made.
I will listen to what you say
You and I can turn and look
At the silent river and wait. We know
The current is there, hidden; and there
Are comings and goings from miles away
That hold the stillness exactly before us
What the river says, that is what I say.
(3)
Ants, when they meet each other,
Usually pass on the right
(4)
Traveling through the dark I found a deer
dead (on the edge…)
(5)
Freedom is not following a river
Freedom is following a river
(6)
Though, if you want to.
(7)
So, the world happens twice
Once what we see it as;
Second it legends itself
Deep, the way it is.
(8)
It is too late now for earlier ways
Now there are only some other ways
And only one way to find them – fail
(9)
Look: No one ever promised for sure
That we would sing. We have decided
To moan.
(10)
Halfway to here, my father died.
He looked at me. He closed his eyes.
The world stayed still. Today, I hold in mind
The things he said, my children’s lives –
Any light. Oh, any light.
(11)
Most mornings I get away, slip out
The door before light, set forth on the dim, gray
Road, letting my feet find a cadence
That softly carries me on. Nobody
Is up – all alone my journey begins.
(12)
I gave out one day and left a woman
Tied to a railroad track.
And what happened next?
(13)
Only the world guides me
Weather pushes, or when it entices
I follow. Some kind of magnetism
Turns me when I am walking
In the woods with no intentions.
(14)
In the backcountry a random raindrop
Has broken a dam
(15)
Even now in my hands the feel of the shovel comes back,
The shock of the gravel or sand.
(16)
“Are you Mr. William Stafford?”
“Yes, but…”
(17)
You will never be alone, you hear so deep
A sound when autumn comes.
(18)
If I ever die, I’d like it to be
In the evening
Tải mã QRCode
THANH TÙNG Ghi chépRa giêng Canh Dần, tết nhất vừa xong, tình cờ lướt mạng thấy Vitours đang mời đối tác tham gia famtrip Khám phá Cố đô Vương quốc Thái Lan và Tam giác Vàng. Tôi đăng ký ngay, dù chỉ còn 3 ngày nữa là khởi hành.
THU TRANG (Pháp)Vài tháng nay ở Pháp đã rộn ràng xảy ra nhiều chuyện đáng để chúng ta suy nghĩ. Có lẽ trước hết là việc chiếc tàu Erika chở dầu đã bị vỡ hầm chứa ngoài khơi, biển Bretagne vùng Tây nước Pháp. Một đại nạn! Dầu đã bị sóng đưa vào bờ làm đen bẩn hầu hết các bờ biển, bãi tắm nổi tiếng.
NGUYỄN VĂN DŨNGSakuya là vị nữ thần cực kỳ xinh đẹp của xứ mặt trời mọc. Nàng là người đầu tiên tự tay gieo hạt giống cây anh đào trên núi Phú Sĩ. Mùa xuân hoa anh đào nở, đẹp cái đẹp lộng lẫy mê hồn của nàng. Bởi thế, người Nhật gọi hoa anh đào là Sakura - đọc trại từ Sakuya. Ngày nay, hoa anh đào đã có nhiều loại và mọc nhiều nơi, nhưng không nơi đâu đẹp bằng hoa anh đào ở núi Phú Sĩ.
VŨ LÊ THÁI HOÀNGTrong ánh nắng vàng rực tuyệt đẹp, giữa một New York hối hả, tấp nập, tua tủa nhà chọc trời, kiêu hãnh hiện ra bóng hình một phụ nữ khổng lồ tay cầm ngọn đuốc cháy sáng soi đường vào Tân Thế Giới.
ĐẶNG THỊ HẠNHMùa rét năm ấy ở Paris đã không có tuyết. "Một điều rất đặc biệt", ông Xuân Thủy nói với tôi như vậy khi tôi đi dạo với ông trong khu vườn bao quanh một cơ quan của Đảng Cộng sản Pháp dành riêng cho phái đoàn thương lượng của ta ở Paris .
HÀ PHẠM PHÚTôi chọn cái tựa trên cho bài viết một phần vì tôi bị ám ảnh bởi bộ tiểu thuyết Thiên long bát bộ của Kim Dung và bài của Quách Phong, một nhà nghiên cứu trẻ công tác tại đài phát thanh truyền hình châu Đại Lý - viết về chuyến thăm Đại Lý của nhà văn rất nổi tiếng này.
VÕ QUANG YẾNNúi cao cũng có đường trèo,Đường đi hiểm nghèo cũng có lối di. Ca dao
VÕ QUANG YẾNNguyễn Hải Đang, 20 tuổi xuân xanh, xúng xính trong bộ y phục mới tinh trường Bách Khoa Ecole Polytechnique, thường được gọi tắt là X.
NGUYỄN VĂN DŨNGKathmandu là kinh đô của vương quốc Nepal, nằm dưới chân Hy mã Lạp sơn. Là thành phố của tôn giáo và nghệ thuật, của nghi thức và lễ hội, của cổ kính và hiện đại, của thánh thiện và tâm linh, của suy tư và khát vọng, của du lịch và mộng mơ, của nắng gió và tuyết. Ngày nay, Kathmandu còn là thành phố của thanh bình và chiến tranh.
PHẠM THỊ ANH NGABài này nhằm giới thiệu một vài nét về diện mạo thi ca Pháp và một số hoạt động liên quan đến thơ trong xã hội Pháp những năm gần đây.
ĐINH CƯỜNGViện Bảo tàng Mỹ thuật Luxembourg, Paris vừa chấm dứt cuộc triển lãm qui mô, hàng trăm bức tranh của một họa sĩ lẫy lừng, bi thảm nhất thế kỷ hai mươi: Amedeo Modigliani.
ĐẶNG TIẾNNước Pháp có những thành phố nhỏ, lừng danh nhờ một sinh hoạt văn hoá. Ví dụ như Cannes, Deauville với những Đại Hội Điện Ảnh. Hay Angoulême nổi tiếng từ 30 năm nay với truyền thống Festival Quốc Tế Truyện Tranh BD, do chữ Bande Dessinée viết tắt, có nghĩa là băng hoạt họa (strip cartoon). Thành phố lịch sử với năm vạn dân, cách Paris hơn 400 km về phía Tây Nam, từ ngày 23 đến 26 tháng 1-2003, trở thành trung tâm thế giới về nghệ thuật Truyện Tranh BD, lần thứ 30.
NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP Ghi chépMột chiều cuối đông năm ngoái tại góc Quán Cũ 25 Phan Đình Phùng, khi biết chúng tôi chuẩn bị chuyến khảo sát văn hóa tại Nhật Bản, giáo sư Đại học ngoại ngữ Tokyo Kawaguchi đề nghị chúng tôi nên bố trí kế hoạch đến Nhật vào mùa xuân để còn kịp ngắm hoa anh đào. Y lời, đúng ngày mở đầu tháng Tư năm nay, PGS.TS Phan Trọng Thưởng, Viện trưởng Viện Văn học và tôi lên đường công du sang Nhật khi biết chắc hoa anh đào đã nở.
TRẦN THỊ TRƯỜNG Ghi chép Truyền thống trong hội nhập...Rời xe bus số 64 chúng tôi rảo bộ trên con đường lát đá tảng của phố Della Concilia Zionli giữa hai hàng cột đá trông như những ngọn nến khổng lồ để đến với nơi mà bất kỳ người dân công giáo nào cũng hằng mơ ước.
NGUYỄN VĂN DŨNG KýSau gần nửa tháng rong chơi suốt hai đầu thượng hạ Ai Cập, tôi trở lại Paris chuẩn bị chuyến du hành sang Hy Lạp. Bỗng được tin của Văn Cầm Hải từ quê nhà: “Thầy về gấp. Đi Tây Tạng ngày 15/9”. Tôi quyết định ngay. Lúc ấy tôi không hiểu vì sao. Bây giờ thì tôi đã hiểu vì sao.
NGUYỄN VĂN DŨNGTôi mới có ý định leo núi Phú Sĩ trên đường từ Tokyo về cố đô Kyoto. Chiếc tàu siêu tốc chạy ngang qua vùng núi Fuji. Bên ngoài, trông Fuji hùng vĩ và đẹp hơn trong ảnh nhiều. Trên nền xanh thẳm của Công viên Quốc gia Fuji-Hakone-Izu, hai cánh núi từ tít tắp hai đầu Bắc Nam như đôi tình nhân thiên thu gặp lại, tràn về phía nhau. Và khi gặp nhau, cả hai hoà thành một, rồi bay vút lên trời, xuyên qua mấy tầng mây, để lộ giữa thinh không cao ngút cái chỏm mĩ miều như đầu ngọn bút lông.
TRẦN LỘC HÙNG1. Bạn bè tôi thường nói: “Không hiểu nước Nga nuôi mày kiểu gì mà tới bây giờ mày vẫn yêu nước Nga”. Vợ con tôi cũng vậy. Nước Nga dưới con mắt của những người thân của tôi hoàn toàn khác tôi. Đơn giản vì tôi đã tới nước Nga từ những năm tôi mới 17 tuổi, hơn nữa tôi đã sống, học tập và làm việc ở nước NGA ngót nghét 10 năm.
NGUYỄN VĂN DŨNG Bút kýChuyện kể rằng, vào một ngày tuyết trắng Tây kinh, Võ Tắc Thiên bỗng cao hứng lệnh cho tất cả loài hoa, nội trong một đêm phải nở hết. Sáng hôm sau, tuy giữa mùa đông giá lạnh, các loài hoa đều ríu rít nở, trừ... mẫu đơn. Võ Tắc Thiên giận lắm, bèn phán đày mẫu đơn xuống Lạc Dương cho khuất mắt. Từ đó, Lạc Dương trở thành quê hương của hoa mẫu đơn.
LÊ BÁ THỰ Bút kýNhận lời mời của Bộ Văn hoá và Viện sách Ba Lan, tôi đi dự Đại hội Dịch giả Văn học Ba Lan toàn thế giới lần thứ nhất. Sau khi đến Vacsava, sáng 11 tháng 5 tôi đáp xe lửa xuống Krakow , thành phố cách thủ đô Vacsava trên 300 cây số. Ngồi bên cửa sổ con tàu, tôi ngắm cảnh mùa xuân hai bên đường: những rừng thông tươi tốt, những cánh đồng lúa mì xanh xanh trải dài tít tận chân trời.
VI THÙY LINH Tuỳ bútNgười Trung Quốc (TQ) có câu: “Trên trời có thiên đàng, dưới có Tô Châu, Hàng Châu”. Chỉ thoạt nghe, đã thấy người ta thật tự hào, về cảnh đẹp thành phố (TP) này đến thế nào, trên đất Đại lục dày đặc thắng cảnh, di tích, kỳ quan của Trung Hoa cẩm tú.