Ở Lâm Thượng quê tôi ai cũng biết câu chuyện kể sau đây:
"Thuở ấy toàn là rừng. Rừng chạy từ núi Nung đến đất Lũng đất Cộ. Ông Rang có sức trói được cọp đuổi được voi phá hết rừng trồng lúa Lóc. Vụ mùa đầu, lúa chết ráo, ông Rang nghĩ mãi mới hiểu ra. Bèn xẻ mương Liên Trì, dẫn nước suối trên núi Nung về ruộng. Được mùa lúa Lóc đổ ngập đồng Lũng đồng Cộ. Từ đó dân quanh vùng gọi ông Rang là Vua Rang. Người đầu tiên đến xin Vua Rang làm tá điền là ông Một. Kế đến là ông Hai, ông Ba. Và sau rốt là ông Mười Ba. Con gái ông Một là cô Lệ phải lòng Vua Rang. Chẳng bao lâu hai người thành chồng vợ. Sắp đến mùa gặt lúa Lóc. Ông Mười Ba rỉ tai ông Mười Hai, ông Mười Hai rỉ tai ông Mười Một... Cuối cùng họ kéo hết đến nhà Vua Rang:
- Bọn tôi đổ mồ hôi nước mắt mới làm nên hạt lúa. Mùa này, người cày lĩnh chín phần, chứ không phải năm phần như trước.
Ông Rang đáp:
- Các ông đã muốn thế, tôi xin chịu.
Đến ngày gặt lúa, mười ba ông lại rỉ tai nhau. Rồi kéo hết đến nhà Vua Rang:
- Đất Lâm Thượng là đất của trời. Ai cày được thì ăn. Ai không cày thì khỏi. Ông Rang ngẫm nghĩ rồi đáp:
- Các ông đã muốn thế, tôi đành chịu.
Lúa Lóc đổ ngập lẫm ngập bồ nhà ông Một, ông Hai... Còn cô Lệ thì sinh con trai. Đứa con đầu lòng của Vua Rang.
Mười ba ông lại bàn nhau:
- Thằng con nó lớn sẽ trả thù cha. Bọn ta phải ra tay trước.
Rồi kéo hết đến nhà Vua Rang:
- Đất đai là của trời, ông lấy đất trời làm của riêng bao nhiêu năm. Tội ấy phải chết cả họ.
Cô Lệ khóc xin tha cho con. Nhưng từ ông Một đến ông Mười Ba đều nói:
- Nàng là họ khác, chẳng can chi. Nhưng con nàng thuộc dòng máu tội lỗi, không thể lưu lại đất này.
Ông Rang chợt ngửa mặt cười to, làm rung rinh ngôi nhà gỗ:
- Ngày trước ta nhổ được cây trắc, cây lim trên núi Nung về làm chỗ ở. Tháo được suối trên núi Nung về tưới đất Lũng đất Cộ. Nhưng giờ ý các người là thế. Ôi...
Mười ba ông đem chôn sống cha con Vua Rang ở chân núi Nung. Đè lên mộ là hai hòn đá núi to bằng hai bồ đựng lúa. Lúc ấy thì cô Lệ đã có mang với chồng được một đêm, tức vào đêm cuối đời của Vua Rang.
Ông Mười Ba trẻ nhất làng, phải đăng lính. Cái bào thai trong bụng cô Lệ mỗi ngày mỗi lớn. Còn cô Lệ thì mỗi ngày mỗi đẹp ra. Từ ông Hai đến ông Mười Hai đều đến rỉ tai ông Một rằng cái bào thai trong bụng cô Lệ là của mình. Con gái ông Một cứ im như thóc. Quan trên của ông Mười Ba bị ngã ngựa. Quan chẳng việc chi, nhưng con ngựa quí của quan bị dập dái. Thấy quan buồn rầu, ông Mười Ba xin lãnh việc chạy chữa cho ngựa. Mỗi ngày liếm mủ dái ngựa chín mười lượt, nên chỉ sau năm hôm ông Mười Ba đã chữa lành ngựa quan. Lại đến mùa gặt lúa Lóc. Cô Lệ lại sinh con trai. Ông Mười Ba trở về với ngựa xe võng lọng. Từ ông Một đến ông Mười Hai đều phải ra tận đầu làng cúi lạy quan trẻ.
- Trời cho ta tước lộc. Tức cho tất cả. Ông Mười Ba phán. Có nghĩa là từ mùa lúa Lóc đó, từ ông Một đến ông Mười Hai đều phải trở thành tá điền của ông Mười Ba. Và vợ Vua Rang ngày trước nay phải là vợ quan trẻ. Cô Lệ sớm hiểu ra điều này, nên đã nói thật với cha về đứa con mình, rồi trốn khỏi làng, đi biệt dạng. Đến mùa lúa sau, người ta thấy một cây đa tươi tốt mọc lên giữa hai hòn đá núi trên mộ Vua Rang."
Theo truyền thuyết, cô Lệ đã uống rễ bì rồi đến nằm trên mộ chồng mà chết. Rễ bì là rễ đắng, nhưng gặp thịt xương cô Lệ hóa ngọt, mọc thành cây đa. Đến mùa gặt lúa ở quê tôi, có loài chim về trú trên núi Nung, kêu nghe rất hay. Người ta dịch tiếng chim ra tiếng người là "Thương con xót ruột”. Nhưng ông Dỗi bảo loài chim ấy là vong hồn Vua Rang hiện về dạy bảo đám con cháu: "Trăm trâu khó cột". Đấy là cách giảng giải tiếng chim của ông Dỗi. Cũng theo truyền thuyết, lúc đầu ở Lâm Thượng chỉ có mỗi họ của ông Rang. Sau đó mới lần lượt thêm mười ba họ nữa. Ông Dỗi giỏi cả Hán lẫn Nôm, tra được gia phả, nên mới chắc mình là họ Phạm, tức cháu mấy chục đời Vua Rang. Còn tôi là họ Nguyễn, họ nhà tôi không có gia phả, nên chẳng biết mình cháu con ai trong số từ ông Một đến ông Mười Ba. Mấy chục đời nay ở Lâm Thượng, bà con sống với nhau rất hòa thuận. Đám con trai con gái họ Phạm về làm rể làm dâu các họ khác, và ngược lại. Từ trẻ tới già, hầu hết thuộc chuyện Vua Rang. Lúc rỗi ngồi kể chuyện Vua Rang như kể Tấm Cám hay kể Thạch Sanh. Nhưng đến mùa lúa Lóc ấy thì xảy ra sự việc thế này: Chặp gà gáy, lũ chim trăm trâu khó cột vẫn bay đậu ngọn đa chỗ mả Vua Rang mà kêu. Có một đêm tôi khó ngủ, trằn trọc mãi cho đến lúc nghe chim trăm trâu khó cột kêu. Nghe tiếng chim, tôi cứ nhái thầm trong trí là "Trăm trâu khó cột". Rồi bất chợt cảm thấy rợn người, vì dường lúc chúng đang gọi đích tên mình: Cháu con ông Một! Cháu con ông Một!
Mới mờ sáng tôi đã có mặt ở nhà ông Dỗi. Thấy tôi đột ngột đến sớm, ông hỏi liền:
- Chắc có điều chi?
Tôi cố giữ giọng:
- Dạ sáng nay bác có nghe chim trăm trâu khó cột kêu không?
- Có. Chỉ thế thôi sao?
- Mùa này, chim kêu hơi khác. Nên mới đến hỏi thử bác.
Ông Dỗi trừng tôi:
- Đã mấy chục đời nay, khác gì? Đừng nghĩ quấy.
Tôi không còn giữ được:
- Nhưng theo bác, thì vong hồn Vua Rang có còn oán hờn đám con cháu ông Một không?
Ông Dỗi cau mày:
- Việc đó chẳng can hệ đến bọn hậu sinh ta. Chỉ lo mỗi điều là căn bệnh tà huyết ngày ấy có còn lưu lại trên đất này không?
Hôm đó ông Dỗi có vẻ yếu lắm, tôi chẳng dám nán lại lâu. Định bữa khác sẽ đến hỏi ông cho rõ về căn bệnh nói trên. Song tôi chưa kịp thực hiện ý định thì ông đã mất. Năm đó ông Dỗi chẵn chín mươi.
Hơn hai chục năm qua, căn bệnh ông Dỗi nói vẫn ám ảnh tôi. Có nhiều nhà nghiên cứu đến Lâm Thượng. Người mang giống lúa Nhật ngắn ngày đến thay giống lúa Lóc mỗi năm chỉ thu một vụ. Người đem cây mía Đài Loan trồng thử trên đất Lũng đất Cộ. Nói chung, có nhiều nghiên cứu về mặt nông học. Nhưng chưa ai tìm hiểu những gì đã nằm yên dưới lòng đất Lâm Thượng. Ở đó có hài cốt lũ voi lũ cọp, hài cốt của Vua Rang cô Lệ, của những ông Một ông Hai. Điều tôi mong mỏi biết là căn bệnh ông Dỗi nói đã chôn vùi theo mớ xương tàn kia hay vẫn còn lưu lại trên mặt đất này.
Đất quê, tháng 8.1993
N.T.H
(TCSH60/02-1994)
Tải mã QRCode
NGUYÊN QUÂNNhững buổi chiều nắng ráo, gã thường ra ngồi ở đây, dọc theo hai triền sông, nở đầy những bông hoa dại - loài hoa vươn dài, xòe những chiếc lông màu tím như cái đuôi chồn. Trong bóng chiều dần dần ngả màu tối, gã vẫn ngồi ngắt từng cánh... từng cánh hoa ném xuống dòng sông.
VĂN ANMặt trời đã khuất sau rặng núi xa xa, bầu trời chỉ còn sót lại những vệt sáng yếu ớt như những chiếc nan quạt hắt lên từ phía chân trời.
NGUYỄN TRỌNG HUẤNBạn tôi là nhà thơ. Thơ anh hay, rất nổi tiếng, nhiều người ái mộ.Năm 1975, anh cùng đoàn quân chiến thắng tiến vào giải phóng Sài Gòn, trụ lại thành phố làm đại diện một tờ báo, chốt trực cơ quan. Ở rừng lâu, nằm lán, ngủ võng cũng quen, nay về phố thị, căn hộ hai ba phòng, tự nhiên thấy trống trải, trằn trọc. Hoà bình rồi, cần ổn định cuộc sống, việc đầu tiên là đón mẹ con nó vào.
ĐỖ KIM CUÔNGNấn ná mãi tôi mới quyết định đi thăm Hiền. Quãng đường hơn trăm cây số, vượt qua đèo Cả không có gì đáng ngại. Chỉ hơn ba giờ đồng hồ ngồi xe đò và hơn một giờ nữa trên chếc xe ngựa của ông Sáu cụt chân là tôi đã có thể tới làng Vĩnh Hiệp Nam, về ghềnh Đá Đỏ. Nhà cô giáo Hiền ở đó.
LÊ MAICơn mưa chiều sầm sập kéo tới, mưa đổ bì bộp xuống mái nhà; hạt mưa nặng đến nỗi Hoàng tưởng như những tấm tôn phải oằn rướn lên chống đỡ; nước từ các máng xối tuôn ra ào ạt kéo theo hàng đụn lá khô, cỏ rác tràn đầy cống ngoài đường. Mới có năm giờ chiều mà như tám giờ tối.
HƯỚNG DƯƠNGTruyện ngắnMùa đông năm ấy tôi phải đi công tác tại một thành phố nhỏ ven biển. Khách sạn tôi trú chân nằm trên một ngọn đồi, nó không sang trọng, bề thế như nhiều khách sạn khác. Nhưng bù lại, nó hướng mặt về phía đại dương. Địa điểm này thật sự lý tưởng cho khách du lịch vào mùa hè, còn mùa đông thì chỉ có những người đặc biệt hay những công việc đặc biệt người ta mới tìm đến đây nghỉ lại. Một người bạn thân đã cho tôi địa chỉ của nó. Tôi khá hài lòng nếu như bạn hàng của tôi không bắt tôi chờ bão tan rồi mới đáp máy bay đến ký hợp đồng.
THANH QUẾ(Chùm truyện mini)
TRẦN HẠ THÁP(thân tặng Ng.X.Hoàng)
TRẦN HẠ THÁP (tiếp theo)
VÕ THỊ ÁNH HỒNGTôi vừa chạy vừa gọi chị trong tiếng sóng rì rào và tiếng lao xao của dãy phi lao. Như không nghe thấy tiếng tôi, chị vẫn thẫn thờ nhìn về xa xăm, chờ đợi...
PHẠM NGỌC TÚYĐó là một cặp vợ chồng trông rất đẹp đôi và hạnh phúc. Chàng cao lớn, mặt vuông. Nàng mảnh khảnh, xinh xắn. Khi lấy nhau, họ ở nhà tập thể của cơ quan. Sau khi cơ quan dời đi chỗ khác, người được phân đất, kẻ được chia nhà, lần lượt dọn đi. Chỉ trừ chàng. Chàng vì cô mà ở lại.
PHẠM XUÂN PHỤNGXưa có một người nông dân chất phác cần cù, nhà ở gần bìa rừng, làm lụng đầu tắt mặt tối bao năm mới dựng được ngôi nhà tranh ba gian hai chái. Trước nhà có cái sân rộng dùng để phơi lạc, loại nông sản chuyên canh của dân trong vùng. Hai vợ chồng có mỗi mụn con trai nên thường chăm bẵm, những mong sau này có được dâu hiền, phúc nhà đến độ, may chăng cháu chắt đầy nhà là mãn nguyện.
NGUYỄN NGỌC LỢICây mai dáng trực đặt nơi khoảng sân lát gạch đỏ của toà nhà ấy đã làm xôn xao cả phố. Gốc cây mai to gộc, u bạnh của nó bám đầy địa y mốc xanh mốc trắng.
TRẦN THÙY MAIThấp thoáng trong văn Trần Thùy Mai là sự phô phang hình hài của linh tự. Những linh tự tủi buồn bởi hết thảy chúng đều được hoài thai từ “độ chênh” của những mối tình khó lần ra hồi kết. Điều đó khiến mỗi truyện ngắn của Mai như là một miếng hồng trần nhỏ nhắn - chị lặng lẽ vấy vá bằng sợi tầm ma trước mỗi rạng đông...
QUẾ HƯƠNGTôi băng qua đường để lên cầu Trường Tiền. Thằng Tí kéo tay tôi lại: “Cậu qua đường mần chi, xe cán chừ!”. Tôi cứ qua. Đám trẻ con đang chơi ở công viên trước mặt ném đá vào tôi. Tôi chạy lên cầu. Đám trẻ réo: “Ông điên! Ông điên!”. Tí chạy theo, vừa thở, vừa nắm tay tôi: “Ai bảo cậu qua bên ni, dắt cậu thiệt mệt!”.
NGUYỄN NGUYÊN PHƯỚC Vào một buổi tối mùa thu, Đinh Hoài Viễn, một nhà văn trẻ tuổi, một người hoàn toàn vô danh trong văn giới, trong khi bóc phong thư mới nhận được vào buổi sáng ngày hôm đó, đã phát hiện ra ở mặt sau cái phong bì rỗng ấy một văn bản kỳ lạ trong hình thức của một truyện ngắn không đề tên tác giả.
ĐỖ KIM CUÔNGQuán cà phê cây sứ của vợ chồng Tư Hiền nằm ngay mặt tiền con đường nhỏ dẫn ra biển. Quán không trang hoàng đèn xanh đèn đỏ, không quầy két, không người chạy bàn, chỉ dăm ba bộ bàn ghế nhựa rẻ tiền.
HƯƠNG LANNàng sống trong một ngôi nhà xưa, được xây cất từ đời ông cố của nàng, tính ngót nghét nó cũng hơn trăm tuổi. Ngôi nhà nằm giữa một khu vườn mênh mông.
LƯƠNG VĂN CHILGT: Nhà tù, nơi chưa mảy may cải hóa được người đàn ông từng trác táng trên nền đạo đức xã hội, nhưng... Truyện được thắt nút khi Thuần “lột trần” vẻ đẹp phồn sinh xuân thì để minh chứng cho những ham muốn nguyên khai của con người là có giới hạn. Không khiên cưỡng ở nhiều chi tiết nhạy cảm, không tục trần trên từng đường cong mỹ diệu... Kịch độc đã thật sự “tiêm” những rung cảm lạ lùng vào miền hoang mê của lương tri đồng loại.
GIAO CHỈ Bão tố thường nổi dậy từ biển khơi hùng vĩ và kể cả. Những hút gió sấn sổ táp xuống mặt đất bao la quăng dội, tàn sát điên cuồng cho hả những cơn giận dồn góp lâu dài.