Vu lan & triết lý Nhân quả

09:36 01/09/2020

Sau khi đắc quả A-la-hán, Tôn giả Mục-kiền-liên vận thần thông đi khắp các cõi tìm người mẹ đã khuất. Thấy mẹ đang chịu đói khát khổ sở trong kiếp ngạ quỷ, Ngài đau lòng vô cùng, vội dâng lên mẹ bát cơm. Lòng bỏn sẻn tham lam chưa dứt, bà sợ chúng ma cướp giật nên đưa tay che bát cơm. Nhưng cơm đã hóa thành lửa đỏ!

Có nhân mới có quả - Ảnh minh họa

Vị đại đệ tử thần thông đệ nhất của Đức Phật không thể cứu mẹ thoát kiếp ngạ quỷ, cũng không giúp mẹ được một bữa no lòng. Ngài vừa khóc vừa quay về cầu cứu Bổn Sư. Pháp cứu tế nhân đây được Phật thuyết giảng, trở thành một phương pháp cầu siêu cho những người đã khuất; và ngày rằm tháng Bảy trở thành ngày hội cho những người con hiếu thảo.
 
Nhưng ở đây, chúng ta có thể đặt vấn đề: Nếu nhờ chư Tăng chú nguyện mà bà mẹ Ngài Mục-kiền-liên thoát khỏi cảnh đọa lạc, thì hóa ra lý Nhân quả cũng có trường hợp ngoại lệ? Và Phật tử chúng ta chỉ cần nương nhờ thần lực của chư Phật cùng Thánh chúng, dù có tạo nghiệp ác cũng không sợ sa vào khổ xứ? Quả thật như thế, thì tinh thần “ai ăn nấy no, ai tu nấy chứng” còn có ý nghĩa gì? Thật ra, tuy lý Nhân quả có tính phổ thông, nhưng muốn quán triệt đạo lý này, chúng ta phải nghiền ngẫm tư duy thật sâu sắc; và sau đó, nhờ công phu chuyển hóa tự thân, tịnh tu ba nghiệp, ta mới có thể thẩm thấu ý nghĩa uyên áo của nó.

Nhân là nguyên nhân, nguồn gốc, mầm mống; Quả là kết quả, thành tựu, báo ứng. Tất cả mọi sự vật hiện tượng trên đời, không vật gì do ngẫu nhiên tạo ra, mà phải có nguyên nhân từ trước. Ngược lại, một nguyên nhân muốn có kết quả, cũng phải có sự hỗ trợ của nhiều yếu tố gọi là Duyên. Lý Nhân quả, hay nói đầy đủ là Nhân - Duyên - Quả, chi phối toàn thể vũ trụ vạn loại, là nguyên lý tuyệt đối. Đức Phật không phải là người khai sinh ra đạo lý này, nhưng Ngài đã thấu hiểu nó đến tột cùng và trao truyền cho các môn đệ.
 
Đối với khoa học, Nhân quả là sự chuyển biến tự nhiên của nhân sinh và vũ trụ. Các nhà nghiên cứu đã áp dụng Nhân quả, phối hợp những Duyên thích ứng để có nhiều thành tựu đáng kể phục vụ đời sống con người. Ngay cả phát minh được xem như “đoạt quyền tạo hóa” là tạo ra một động vật hay một phôi người bằng phương pháp sinh sản vô tính, cũng phải theo tiến trình Nhân - Duyên - Quả. “Nhân” ở đây là nhiễm sắc thể của tế bào một sinh vật giống đực kết hợp với noãn bào của một sinh vật cái khác; “Duyên” là môi trường cấy, nhiệt độ thích hợp, trí tuệ của nhà bác học… Nhân và Duyên đầy đủ mới có kết quả là những con cừu, bê, heo và thai nhi, đã được báo cáo và cả tranh cãi gay gắt trong giới khoa học và đạo đức học trong những năm gần đây.
 
Chủ trương của đạo Phật có khác, không chỉ chú trọng đến sự hòa hợp giữa con người và môi trường sống, giữa cá nhân và tập thể, giữa nhân sinh và vũ trụ, mà còn áp dụng lý Nhân quả để nâng cao đời sống tinh thần, để suy tiến đạo đức. Nhà Phật thường đề cập đến nguyên nhân hơn là kết quả, đến bản chất hơn là hiện tượng. Giáo dục của đạo Phật là giáo dục ngay từ nguồn cội, từ trước lúc tội lỗi xảy ra, nên có tính cách phòng ngừa hơn là chữa trị. Những người con Phật có chánh kiến Nhân quả không làm điều gì tổn hại đến mình và người; và mỗi ngôi chùa là trường học dạy đạo lý làm người, dạy cách đối nhân xử thế trước khi dạy cách tu làm Phật.
 
Tổ Bá Trượng một hôm thuyết pháp xong, đại chúng giải tán hết, chỉ còn một ông già ở lại. Tổ hỏi thì ông thưa:
 
- Thời Đức Phật Ca-diếp, con là Tăng sĩ ở núi này. Do học trò hỏi “Người đại tu hành có rơi vào nhân quả không?”. Con đáp “Bất đọa nhân quả” (không rơi vào nhân quả). Vì câu đáp ấy, con bị đọa làm thân chồn đến nay đã 500 kiếp. Cúi xin Hòa thượng từ bi dạy cho con một câu để con được hóa kiếp.
 
Tổ bảo:
 
- Ông cứ hỏi đi.
 
Ông già hỏi:
 
- Người tu hành có rơi vào nhân quả không?
 
Tổ đáp:
 
- Bất muội nhân quả (không lầm nhân quả).
 
Ngay đây ông già giác ngộ, làm lễ và thưa:
 
- Con đã thoát thân chồn, hiện con ở sau núi, dám xin Hòa thượng lấy theo lễ Tăng tống táng giúp con.
 
Tổ cùng đại chúng ra hang núi phía sau, quả nhiên thấy xác một con chồn, bèn làm lễ thiêu như một vị Tăng.
 
Ông già chỉ sai một chữ mà bị đọa làm chồn 500 kiếp. Người đại tu hành mở sáng mắt trí tuệ, thấy tột cùng và không lầm lẫn nhân quả chứ không thể tránh nhân quả. Do nghiệp nhân từ trước, các ngài dù đã đạt đạo nhưng vẫn thọ quả báo. Có điều, tuy thọ quả nhưng các ngài vẫn an nhiên tự tại, vì biết tự tánh của nghiệp chướng vốn là không. Thiền sư Huyền Giác viết:
 
“Liễu tức nghiệp chướng bổn lai không
Vị liễu ưng tu hoàn túc trái”.
 
Khi đã liễu ngộ, rõ ràng nghiệp chướng xưa nay vốn không; nhưng nếu chưa liễu, thì mọi oan trái đã gây đều phải đền trả. Chúng ta không thể dùng tài biện luận để cãi chối, không thể dùng phương tiện khéo léo nào để trốn tránh nhân quả, như vẫn thường làm ở thế gian. Ngoài đời có luật pháp, có tòa án, nhưng nhiều khi xử lầm hoặc kết oan người vô tội; còn tòa án lương tâm và luật Nhân  quả - Nghiệp báo thì không hề bỏ sót một ai.
 
Nhà Phật có bài kệ nổi tiếng về nhân quả ba đời:
 
Dục tri tiền thế nhân
Kim sanh thọ giả thị.
Dục tri lai thế quả
Kim sanh tác giả thị.
 
Muốn biết nhân đời trước, phải nhìn sự lãnh thọ ở đời này. Hoàn cảnh chánh báo và y báo đời này tốt đẹp là do đời trước tạo nghiệp nhân thiện lành; nếu đời này ta gặp nhiều chuyện không như ý, đó là vì đời trước đã gây nhân xấu ác. Lại nữa, muốn biết đời sau cuộc sống mình thế nào, cứ nhìn sự tạo tác đời này sẽ rõ. Khổng tử nói “Nhất ẩm nhất trác giai do tiền định”, một miếng nước uống hay một miếng cơm ăn đều đã được định trước. Sự định đoạt này không phải do Thượng đế hay một đấng quyền năng nào, mà do nghiệp tạo ra từ thân - miệng - ý của chính mỗi người.
 
Trong thực tế, có nhiều người xấu ác nhưng vẫn sống hạnh phúc giàu sang, lại có người chuyên làm việc thiện mà vẫn khó khăn bất hạnh mọi bề. Đó là quả của việc làm kiếp này chưa trổ ra, còn đời sống hiện tại là do nhân duyên kiếp trước. Đức Phật dạy, quả báo có ba loại: Hiện báo là khi nhân gây ra, quả đến ngay trong hiện kiếp; Sanh báo là nhân gây trong kiếp này, quả đến kiếp sau mới trổ; Hậu báo là quả đến rất muộn sau nhiều kiếp. Hiểu tường tận điều này, chúng ta không chút nghi ngờ về tính bình đẳng và tuyệt đối của lý Nhân quả. Chính mình là Thượng đế tự vẽ ra chánh báo và y báo cho mình, chính mình phải chịu trách nhiệm về mọi tạo tác do mình gây ra, dù vô tình hay cố ý.
 
Một điều cần nhấn mạnh, sự tương tác giữa nhân và quả không phải đơn giản theo tinh thần “Nhân nào quả nấy”. Một nhân muốn trổ thành quả phải có sự tác động của nhiều yếu tố trung gian gọi là Duyên. Một hạt xoài (nhân) cần có nhiều duyên như đất, nước, ánh sáng mặt trời, công người trồng…, sau một thời gian mới thành cây xoài, kết quả. Trường hợp của con người lại càng phức tạp, không những tiến trình Nhân - Duyên - Quả chịu sự ảnh hưởng của Duyên, mà chủ thể còn có thể chủ động thay đổi Nghiệp duyên cũng như tạo thêm nghiệp nhân mới để cho một kết quả hoàn toàn khác. Nhà Phật gọi đó là sự chuyển nghiệp, cũng chính là ý nghĩa của sự tu hành.
 
Chúng ta đã biết, Nghiệp phát sinh từ thân, miệng và ý, trong đó tâm ý dẫn đầu. Ý suy nghĩ mới phát ra lời nói và hành động, nên ý là chủ tạo nghiệp. Vì tâm ý là chủ tạo nghiệp, nên muốn chuyển đổi nghiệp ác thành hiền thiện, con người phải tu ngay tâm, sám hối ngay tại tâm mình. Trường hợp của mẹ ngài Mục-kiền-liên được lý giải theo tinh thần này. Do tâm bỏn sẻn trong tiền kiếp, bà phải chịu quả báo làm thân ngạ quỷ, khổ sở đói khát, đến nỗi bát cơm của con dâng lên cũng không có cơ hội được ăn. Nhờ chư Hiền thánh Tăng chú nguyện, kết hợp lòng thành của ngài Mục-kiền-liên cũng là một vị A-la-hán, nên chuyển đổi được tâm bà từ xấu ác thành thiện lành. Tâm chuyển nên nhân duyên chuyển - do tạo thêm nhân lành và duyên tốt, đưa đến quả tốt, bà vãng sanh lên cõi Trời. Như thế, lý Nhân quả luôn luôn đúng trong mọi trường hợp, nhưng nhờ tu hành chuyển hóa tâm ý trở nên tốt đẹp, có thể thay đổi được kết quả xấu vốn phải thọ lãnh trong tương lai.
 
Tuy nhiên, vì sao ở đây nói Nhân sanh diệt đưa đến quả sanh diệt? Bởi vì thông thường, làm bất cứ việc gì chúng ta đều có ngã tướng. Khi làm là thấy có ta làm, có việc làm và có đối tượng của việc làm ấy. Chúng ta tu năm giới hay thập thiện là mong hưởng phước báo nhân thiên, hoặc làm người đầy đủ phước đức, hoặc sanh lên cõi Trời với mọi điều sung sướng. Do ý thức chấp ngã nên còn lẩn quẩn trong luân hồi, vì thế gọi là nhân và quả sanh diệt. Ngày xưa, các vị tu tiên cầu thần thông và sống lâu, vẫn có tâm bám chặt vào ngã tướng. Nhiều khi thần thông càng cao, cái ngã càng lớn nên không dứt được phiền não.
 
Kinh Kim cang nói: Dù bố thí bảy báu nhiều vô lượng trong suốt bao nhiêu kiếp, cũng không bằng trì bốn câu kệ trong kinh Kim cang. Bố thí càng nhiều thì càng phải qua nhiều lần sanh tử để hưởng phước, còn trì 4 câu kệ là sống với bản tâm chân thật, đoạn dứt sanh tử. Lại nữa, trong dòng luân hồi, nhiều khi có quyền thế lại dễ hại người, tạo thêm điều ác, cứ thế mà lên xuống mãi trong ba cõi sáu đường.
 
Trong kinh Viên giác, ngài Văn Thù thưa hỏi Đức Phật dùng nhân ban đầu là gì để tu mà ngày nay thành Phật. Đức Phật trả lời, phải y nơi tánh viên giác thanh tịnh, nghĩa là thể tánh chân thật bất sanh bất diệt làm nhân tu hành, mới đắc quả Phật thường trụ.
 
Vì sao thể tánh chân thật là bất sanh bất diệt? - Mọi sự vật trên thế gian hễ có hình tướng ắt có hoại, có sanh ắt có diệt. Thông thường khi ta nhìn phải có đối tượng cho cái nhìn của ta (sắc); lúc nghe phải có đối tượng của sự nghe (tiếng). Tương tự cho các căn khác, khi hoạt động đều cần đối tượng là các trần cảnh bên ngoài, từ đó khởi lên ý thức phân biệt hay dở, đẹp xấu… Những niệm phân biệt ấy nương theo hình tướng của trần cảnh, lúc sinh lúc diệt, lúc đến lúc đi, vì thế Đức Phật bảo, đó là cái biết theo duyên, cái biết lệ thuộc vào đối tượng. Ngược lại, khi tiếp xúc với trần cảnh nhưng không dính mắc chạy đuổi theo chúng, cũng không khởi niệm phân tích chia chẻ - kể cả niệm “ta đang biết”, thì lúc ấy, ta vẫn thấy nghe hay biết rõ ràng. Cái biết ấy không lệ thuộc vào đối tượng, cái biết không duyên nên không có hình tướng, không có sanh diệt, chẳng đến chẳng đi, không bao giờ vắng thiếu. Đó là cái biết chân thật hay bản tánh bất sanh, nhà Thiền gọi tên “Bản lai diện mục” - bộ mặt thật xưa nay. Nhận ra bản tánh ấy làm chánh nhân tu hành, chắc chắn nên quả Phật thường trụ.
 
Nhưng làm thế nào tìm được bản tánh?
 
Nhiều người nghe nói, nhà Thiền chủ trương “Kiến tánh thành Phật”, hoặc “chưa nhận ra bản tâm chân thật thì chưa bước vào cửa nhà Thiền”, nên rất mong muốn tìm thấy tánh. Tuy nhiên, ngay từ ý niệm “tìm kiếm”, chúng ta đã xa tánh nghìn trùng. Lại nữa, có người đọc lịch sử Đức Phật và chư Tổ tu hành và thành đạo trong rừng núi, nên tưởng phải ở ẩn một mình nơi thâm sơn cùng cốc mới có thể ngộ đạo. Thật ra, bản tánh thanh tịnh hằng tri ấy chính là mình. Không phải tìm cầu bên ngoài, cũng không cần xa lánh thế gian. Lục tổ Huệ Năng dạy:
 
Phật pháp tại thế gian
Bất ly thế gian giác.
Ly thế mích Bồ-đề
Kháp như tầm thố giác.
 
Phật pháp ở ngay tại thế gian, không phải xa lánh thế gian mà giác ngộ. Nếu lìa bỏ thế gian tìm cầu Bồ-đề, thì chẳng khác nào đi tìm sừng thỏ. Ngay sóng đã là nước, ngay thân sinh diệt đã có bản tánh bất sanh, ngay dòng sông vô thường động chuyển đã có cái chân thường bất biến. Khi tâm ta hoàn toàn thanh tịnh, rỗng rang, bặt mọi vọng tưởng điên đảo phân biệt mà vẫn rõ ràng thường biết, ta mới hay Đạo tại nhãn tiền, hoa sen nở trong lò lửa mà sắc vẫn thường tươi nhuận.
 
Nhận ra bản tâm thanh tịnh hằng hữu, ta đã có chánh nhân tu hành. Đây mới là bước đầu khởi tu, cần phải mất bao nhiêu công phu bào mòn tập khí, phải miên mật từng phút giây hằng sống với bản tâm và thể nhập trọn vẹn vào đó. Đường tu rất dài và rất gian nan chứ không dễ dàng như một số người lầm tưởng. Hiểu là một chuyện, thực hành và thể nhập tự tánh lại là chuyện khác, xa nhau như trời vực. Nhưng khi đã nhận ra tự tánh tức gieo nhân vô sanh, ắt có ngày ta sẽ viên thành Phật quả.
 
Đức Phật dạy, con người có bốn hạng:
 
1- Từ tối đến tối: Người sanh trong gia đình nghèo khổ, không có văn hóa đạo đức, kiếp này lại không biết tu hành, mãi tạo nghiệp bất thiện. Kiếp sau chắc chắn bị đọa lạc.
 
2- Từ tối đến sáng: Người có hoàn cảnh xấu về nhân thân và gia đình, nhưng kiếp này có duyên gặp Chánh pháp, tinh tấn tu hành, tịnh tu ba nghiệp. Kiếp sau tái sanh vào các cõi lành, tiếp tục đi trên con đường đạo, chuyển được nghiệp xấu ác thành hiền thiện.
 
3- Từ sáng đến tối: Do nghiệp lành đời trước, kiếp này được sanh vào gia đình giàu sang, có văn hóa đạo đức. Nhưng người này không biết tu hành, vô tình tạo nhiều nghiệp bất thiện, kiếp sau sẽ bị đọa vào các đường dữ.
 
4- Từ sáng đến sáng: Đây là trường hợp tối ưu. Người có duyên nhiều đời với Chánh pháp, kiếp trước gieo nhân lành nên trong kiếp này, hoàn cảnh chánh báo và y báo đều tốt đẹp. Người ấy lại tinh tấn tu hành, vun bồi phước đức. Đời sau chắc chắn sanh vào các cõi lành, tiếp tục đi theo Chánh pháp, ngày càng thăng tiến đời sống tâm linh.
 
Như vậy, hoàn cảnh sống của ta là do ta tạo ra, không ai làm thay cho mình, và mình cũng không thể tu thay cho người khác. Vì tâm chuyển biến từ trạng thái này sang trạng thái khác, và nghiệp cũng theo tâm mà thay đổi nên chúng ta cần y cứ nơi tâm mà sám hối và tu hành. Nghèo không bi quan oán trời trách người, giàu không cống cao ngã mạn. Chúng ta luôn tránh nghĩ điều xằng bậy xấu ác mà suy tiến những ý tưởng thiện lành. Từ suy nghĩ lành dẫn đến lời nói và việc làm tốt đẹp, chúng ta dần dần chuyển hóa nhân cách mình theo chiều hướng thượng. Cá nhân có đạo đức ảnh hưởng tốt đến gia đình và xã hội được êm ấm an vui. Đây là bước đầu tiên áp dụng lý Nhân quả vào đời sống.
 
Tiến thêm bước nữa, người hiểu kỹ lý Nhân quả để công phu đoạn trừ phiền não. Vì vô minh chấp thân tâm này là mình nên sinh lòng tham, muốn gom góp mọi thứ vật chất và tinh thần cho bản thân. Ta thương yêu người khác cũng vì mình, nên tình thương luôn có tính chiếm hữu, đây là một biến chất của lòng tham. Chiếm được, lòng tham càng tăng trưởng; chiếm không được, sanh tâm sân hận. Chính ba độc tham-sân-si là ngục tù giam hãm con người, không có ngày thoát khỏi. Người hiểu lý Nhân quả biết tránh những điều bất lợi cho người, không khởi lòng tham cầu ngũ dục mà tranh đoạt của người khác, biết tỉnh giác nhận diện những ý niệm sân hận mới manh nha để hóa giải kịp thời. Khi gặp nghịch cảnh chướng duyên, chúng ta không buồn khổ vì biết là hậu quả của nhân bất thiện đời trước, vững bước vượt qua trở ngại và càng tinh tấn tu hành để chuyển nghiệp.
 
Lúc được hoàn cảnh thuận lợi, mọi người quý kính, chúng ta biết mình đã tạo nhân tốt, càng cố gắng vun bồi phước đức, gây nhiều nghiệp lành. Nhờ vậy, cuộc đời ta ngày càng đẹp đẽ hạnh phúc, không mong cầu mà phước báo vẫn đến. Nhưng hiểu lý Nhân quả cho thấu đáo, chúng ta thấy nhân quả ngay trong một niệm. Vừa động niệm là đã tạo nghiệp, từ đó mầm mống của quả có cơ hội phát sinh. Dù nghiệp thiện hay ác, con người vẫn còn chịu trầm luân trong sanh tử.
 
Toàn thể vũ trụ luôn vận hành không dừng nghỉ theo tiến trình Nhân quả. Bản thân mỗi người cũng biến đổi trong từng sát-na. Không một hoạt động vật lý, sinh lý hay tâm lý nào không chịu sự chi phối âm thầm mà chặt chẽ của lý Nhân quả. Bằng trí tuệ siêu xuất, Đức Phật đã triển khai lý Nhân quả thật tường tận từ cạn đến sâu để dạy chúng ta hướng về đời sống đạo đức, thăng tiến tâm linh, bỏ ác về thiện và cuối cùng siêu vượt cả thiện ác.
 
Nền văn minh thế giới ngày càng tiến triển, con người càng được thụ hưởng những thành tựu kỳ diệu của khoa học. Tuy vậy, giá trị tinh thần không nâng cao theo tỷ lệ thuận với sự sung mãn về vật chất. Con người đang phải đối mặt với những vấn nạn đạo đức, lối sống và cách cư xử với nhau; vì càng quay cuồng theo vật chất, phiền não tham sân si càng lẫy lừng. “Khoa học không có lương tâm chỉ là sự hủy hoại linh hồn”, nhân loại đang cần - và phải cần có nền văn minh tâm linh, từ đó mới có thể tạo dựng hạnh phúc đích thực trên trái đất này.
 
Lý Nhân quả thật sự không phải đơn giản và chỉ cần cho người sơ cơ, mà tất cả chúng ta đều phải hiểu tường tận để có chánh kiến và lòng tin sâu sắc về đạo lý này. Có Chánh kiến nhân quả, chúng ta luôn thận trọng trong từng ý nghĩ, lời nói và việc làm để không tổn hại cho mình và cho người; chúng ta có đời sống xả kỷ, hòa điệu với vũ trụ vạn loại. Có thể nói, điều kiện đầu tiên của người tu là phải tin sâu nhân quả; nếu không, buông lung phóng dật mà cho là sự tự tại phóng khoáng của người đạt đạo, thì không những công phu không kết quả mà khó tránh đọa tam đồ.

Nguồn: Thích Thông Huệ - GNO

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • “Cảnh báo của các nhà khoa học về dự án Bôxít ở Tây Nguyên đang dần đúng. Dự án vẫn được thải bằng công nghệ rẻ tiền, nhiều rủi ro... Nếu làm đến cùng thì bôxít sẽ trở thành gánh nặng kinh tế!”.

  • AN ĐÔNG  

    Khi những hạt mưa cuối cùng của mùa đông đã ngớt trên mặt sông sóng sánh và những vạt nắng đã bắt đầu tràn đến trên đám lá cỏ tơ non, người ta biết từ đâu đó, mùa xuân đã nhẹ nhàng gõ cửa.

  • Đô thị Việt Nam vốn yếu kém về quy hoạch, kiến trúc, chắp vá, lộn xộn, những tưởng những tượng đài sẽ góp phần cải thiện môi trường văn hoá, môi trường đô thị thì ngược lại những tượng đài to, xấu và lệch chuẩn càng góp phần làm cho bộ mặt đô thị trở nên tồi tệ hơn và chắc chắn nó để lại lâu dài nhiều hậu quả xấu về thẩm mỹ, xã hội cho con em, thế hệ trẻ.

  • Vừa qua, ngày 7/1/2013, tại TP. Huế đã diễn ra Hội thảo Quốc gia về “Dạy học Ngữ văn ở Trường phổ thông Việt Nam”. Sau đấy 3 ngày, 10/1/2013, tại Hà Nội, Bộ Giáo dục & Đào tạo và Hội Nhà văn Việt Nam đã ký kết văn bản hợp tác giữa hai cơ quan này về “Phát triển văn học trong nhà trường và nhà trường với văn học giai đoạn 2013-2020”.

  • Sự ra đời của Gangnam style đánh dấu thời điểm mà thị giác nghe nhìn của công chúng nói chung đã có những sự sa sút, mệt mỏi về mặt thẩm mỹ nghệ thuật.

  • Trong 10 năm gần đây, giáo dục Việt Nam có gì đổi mới? Đây là câu hỏi nhức nhối dành cho những nhà làm giáo dục, bao gồm cả những nhà giáo dục uyên thâm, đã từng đăng đàn đề nghị chấn hưng giáo dục.

  • Trong kháng chiến chống Mỹ, cùng với những thắng lợi trên chiến trường miền Nam, miền Bắc không chỉ làm tốt nhịêm vụ hậu phương lớn của cả nước, mà còn đánh bại hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của quân đội Mỹ.

  • PHẠM HỮU THU  

    Ngày 22/12/2010, nhân kỷ niệm 66 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam, ông Lê Trường Lưu, Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch tỉnh Thừa Thiên - Huế đã trân trọng trao tấm bằng công nhận Di tích lịch sử cách mạng cho địa điểm Trường Thanh niên Tiền tuyến Huế - 1945 tại 118 đường Lê Duẩn, Huế. Người nhận là ông Đặng Văn Việt, cựu sinh viên của ngôi trường độc đáo này.

  • Hội Nhà báo Thừa Thiên Huế sắp tiến hành Đại hội Hội Nhà báo lần thứ V, nhiệm kỳ 2012 - 2017. Đây là lúc toàn thể các hội viên nhà báo đang tác nghiệp ở Thừa Thiên Huế nhìn lại một chặng đường đã qua, để cùng xác định những việc cần làm trong thời gian đến.

  • Báo chí Thừa Thiên Huế: Nâng cao bản lĩnh chính trị, chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ mới

    Th.S. PHAN CÔNG TUYÊN
    UVTV, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế

  • MINH KHUÊ - BẢO HÂN

    Sáng ngày 5/9, đại diện các cơ quan báo chí đóng trên địa bàn đã có dịp chia vui với Bệnh viện Trung ương Huế (BVTƯ Huế) và gia đình bệnh nhân Hứa Cẩm Tú, người mà sau 10 lần mổ đến nỗi “người chị Tú không còn máu của chị Tú nữa” xuất viện. Thêm một thành tựu y học đã được xác lập và trở thành một y văn của Việt Nam và thế giới về ghép thận.

  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG

    "Nói đùa thì nói, nhưng có lẽ sẽ phải mở những loại trường đặc biệt, không hạn chế tuổi cho những người đến nay chưa học được gì ngoài việc "lãnh đạo", để cho bây giờ dù đã tứ tuần, họ vẫn có thể học được một nghề có ích. Phải tổ chức việc đó trên qui mô lớn trong phạm vi cả nước".

  • MINH KHUÊ

    Thời gian gần đây đã xuất hiện tin đồn: Carlsberg đã bán Công ty Bia Huế cho đối tác Trung Quốc, hình tượng 5 ngôi sao trên vỏ lon bia Huda mới giống biểu tượng cờ Trung Quốc và do Trung Quốc sở hữu Bia Huế nên họ đã dùng chất chống say; có chất tiêu diệt tinh trùng, gây hại cho sức khỏe... Thông tin sai lệch này đã gây tâm lý bất an trong xã hội, ảnh hưởng đến sản xuất đến sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH Bia Huế.

  • Tham luận phát biểu của một số tác giả quen biết trong tỉnh tiến tới "Hội nghị thơ miền Trung" do Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên tổ chức năm 1986.

  • NHÂN TÀI, TẢN MẠN NHÌN TỪ HUẾ

    HỒ TRƯỜNG AN

  • ĐỖ KIM CUÔNG 

    1.
    44 năm trước khi mới chỉ là chàng trai 17 tuổi, sốt rét quặt quẹo, nằm trong căn hầm dã chiến thuộc trạm xá tiền phương sư đoàn 324, đặt dưới chân điểm cao 360, bên sông Bồ chịu trận với hàng trăm quả pháo và từng đợt máy bay B57 của không quân Mỹ phá nát rừng Hương Trà, chưa bao giờ trong tôi nẩy ra ý nghĩ một ngày kia mình sẽ viết văn.

  • HỮU THỈNH  

    Đã có lần tôi nói, mỗi lần về Huế, luôn có cảm giác đi dưới bóng mát của các tên tuổi. Đó không phải là câu nói lấy lòng, mà thực sự là một cảm nhận văn hóa.

  • PHAN CÔNG TUYÊN

    Văn học, nghệ thuật là một bộ phận quan trọng của nền văn hóa Việt Nam, có vai trò quan trọng trong việc “xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”.

  • LTS: Như tin đã đưa, đầu tháng 4/2012 vừa qua, Liên hiệp các Hội VHNT Thừa Thiên Huế đã tổ chức hội thảo “Văn học nghệ thuật Huế trong dòng chảy văn hóa Huế” ngay tại xứ sở thi ca. Để bạn đọc tiếp cận được tinh thần hội thảo, Sông Hương giới thiệu bài tổng thuật của PV và tham luận trình bày tại hội thảo của nhà thơ Hữu Thỉnh - Chủ tịnh UBTQ LHCH VHNT Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam và của đồng chí Phan Công Tuyên, UVTV - Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy TT Huế.

  • LÊ CUNG

    Kỷ niệm 55 năm thành lập Đại học Huế (1957 - 2012)