GS. VŨ KHIÊU
Lần này Vạn Lộc cho in trên 72 bài thơ Đường luật. Đối với Vạn Lộc, đây là một sự táo bạo và cũng là một thử thách với chính tài năng của mình.
Vạn Lộc làm thơ khi còn ngồi ghế nhà trường, cho đến nay đã xuất bản và tái bản nhiều tập thơ như Chút riêng tư (năm 1997 và tái bản năm 2000), Vòng tay mẹ (năm 2000), Nắng chiều (năm 2002), Hạt bụi (năm 2004), Gió thổi từ Đông Yên (xuất bản năm 2011 và tái bản năm 2011). Tất cả những bài thơ trong đó đều viết theo thể mới hoặc theo thể lục bát. Thành công nhất của Vạn Lộc là tập thơ Hạt bụi xuất bản năm 2004, Gió thổi từ Đông Yên xuất bản năm 2011. Lời thơ trong sáng và rất giản dị đã chứa đựng những cảm xúc sâu sắc, những suy tư thầm kín. Lần này cảm xúc và suy tư của Vạn Lộc lại được thể hiện trong một thể thơ, gò bó trong một khung 8 câu 7 chữ như trong một “nhà tù”.
Những quy tắc về đối, về vần, về niêm luật lại như giam cầm và trói buộc nhà thơ.
Vạn Lộc đã từng nghĩ rằng qua 1000 năm văn hiến bắt đầu từ Chiếu dời đô của Lý Thái Tổ, hàng ngàn bài thơ của ông cha ta đã vượt qua khung cảnh “ngục tù” của thơ Đường luật ấy và hồn thơ đã bay bổng lên mây xanh và kết tinh lại ở những câu chữ đẹp như những viên ngọc sáng. Truyền thống thơ ca này cũng kết tinh lại trong thơ Đường luật của Vạn Lộc.
Trong những thập kỷ gần đây, thể thơ Đường luật như lại hồi sinh. Trên khắp mọi miền đất nước rất nhiều người sáng tác thơ theo thể Đường luật. Tiếc rằng những bài hay còn rất ít so với những bài chưa hay, nghĩa là những bài cầu kỳ, sáo rỗng, lặp đi lặp lại nhiều lời cũ, ý cũ...
Thơ Vạn Lộc thì có khác. Đọc thơ, người ta thấy ngòi bút của tác giả vừa phóng khoáng về tư tưởng và cảm xúc, vừa không vi phạm một chút nào đối với những yêu cầu quá khe khắt về hình thức của thơ Đường luật.
Tôi không trích ra đây những bài thơ hay và những câu chữ tài tình, bởi bạn đọc sẽ tự mình làm việc này, tự mình nhặt ra những câu hay và cả những câu chữ chưa được hay. Tôi không dám ngạo mạn là một người dẫn đường cho độc giả mà nêu lên những điều mà chính độc giả sẽ thấy. Tôi chỉ biết đánh giá cao tập thơ này của Vạn Lộc. Tôi lại tin rằng sau sự táo bạo và thử thách này, Vạn Lộc sẽ trở lại phong cách thơ quen thuộc của mình. Đó là thể hiện đại với phong cách hiện đại. Cuối cùng, để ghi nhận những cảm xúc sau khi đọc thơ Đường Luật của Vạn Lộc và cũng là sự đánh giá của tôi đối với tập thơ này, tôi xin tặng Vạn Lộc mấy vần cảm khái chép sau đây:
Vì sao
Tu mi không lẽ phụ quần thoa
Mây thuận vì chưng gió chẳng hòa?
Trăm nhớ ngàn thương đành nén lại
Năm chìm bảy nổi đã trôi qua
Câu thơ cổ nguyệt môi còn đắng
Giọt lệ tân thanh mắt vẫn nhòa
Đêm lạnh trăng khuya thầm hỏi lá
Vì sao thương nhớ nở thành hoa?
GS. V.K
(SH286/12-12)
Tải mã QRCode
NGUYỄN ĐỨC TÙNG
Trong thơ trữ tình, lịch sử không tồn tại. Trường ca làm chúng tồn tại.
(Ý kiến của Nguyễn Văn Bổng, Xuân Cang, Nguyễn Kiên, Hà Minh Đức, Hoàng Ngọc Hiến)
Sách chuyên khảo “Sự ra đời của đế chế Nguyễn” của A.Riabinin tiến sĩ sử học Xô Viết nghiên cứu lịch sử xã hội - chính trị của Việt Nam vào đầu thế kỷ XIX.
LÊ MINH PHONG
(Nhân đọc: Rừng khô, suối cạn, biển độc… và văn chương của Nguyễn Thị Tịnh Thy, Nxb. Khoa học xã hội, 2017).
TRẦN VIẾT ĐIỀN
Trong sách “Nhìn lại lịch sử”, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2003, tác giả Phan Duy Kha viết bài “Một bài thơ liên quan đến lăng mộ vua Quang Trung”.
BÙI KIM CHI
“Tháng Tám năm Ất Dậu (1945)… Là công dân Việt Nam nên tôi đã tham gia phong trào chống xâm lăng…”. (Truyện ngắn Mũi Tổ).
TRƯƠNG THỊ TƯỜNG THI
Thuật ngữ triết luận gắn với tính trí tuệ hay tính triết lý trong văn học nói chung và trong thơ ca nói riêng xuất hiện từ rất sớm.
NGUYỄN THẾ QUANG
Nói đến nhà văn Nguyễn Khắc Phê thì không gì bằng đọc cuốn tự tuyện của anh. Số phận không định trước(*) đưa ta đi suốt cuộc hành trình sáng tạo nghệ thuật bền bỉ quyết liệt suốt năm chục năm qua của anh.
NGUYỄN HỮU SƠN
Thiền sư Vạn Hạnh (?-1018) gốc họ Nguyễn, người hương Cổ Pháp (nay thuộc phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh), thuộc thế hệ thứ mười hai dòng Thiền Nam phương Tì Ni Đa Lưu Chi.
NGUYÊN QUÂN
Một cảm nhận thật mơ hồ khi cầm trên tay tập sách, vừa tản văn vừa tiểu luận của nhà văn Triệu Từ Truyền gởi tặng. Sự mơ hồ từ một cái tựa rất mơ hồ bởi lẽ chữ là một thực thể hữu hiện và chiếc cầu tâm linh chính lại là một ảo ảnh rất dị biệt với thực thể hữu hạn của những con chữ.
TUỆ AN
Đọc “Ảo giác mù”, tập truyện ngắn của Tru Sa (Nxb. Hội Nhà văn, 2016)
TRẦN VIẾT ĐIỀN
Ngô Thì Nhậm viết bài thơ Cảm hoài cách đây 223 năm, nhân đi sứ báo tang Tiên hoàng Quang Trung băng hà và cầu phong An Nam quốc vương cho vua Cảnh Thịnh.
NGUYỄN THỊ THANH LƯU
Đã từ rất lâu rồi, tôi hài lòng với việc đọc thơ trong màu xám của một nỗi tuyệt vọng - nỗi tuyệt vọng không bao giờ phân tách nổi trắng đen giữa đám sương mù xám đặc dường như chỉ có dấu hiệu đậm dần lên trong những lớp lang chữ nghĩa, trong cách ngắt nhịp, buông vần.
MAI VĂN HOAN
Lẽ ra tôi không viết bài này. Thiết nghĩ văn chương thiên biến, vạn hóa, mỗi người hiểu một cách là chuyện bình thường. Tốt nhất là nên tôn trọng cách nghĩ, cách cảm thụ của người khác.
TRIỀU NGUYÊN
1. Đặt vấn đề
Nói lái được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp thông thường, và trong văn chương (một lối giao tiếp đặc biệt). Để tiện nắm bắt vấn đề, cũng cần trình bày ở đây hai nội dung, là các hình thức nói lái ở tiếng Việt, và việc sử dụng chúng trong văn chương.
NGUYỄN KHẮC PHÊ
(Đọc tiểu thuyết “Huế ngày ấy” của Lê Khánh Căn, Nxb. Quân đội nhân dân, 2006).
HỒ ĐĂNG THANH NGỌC
(Đọc “Song Tử” của Như Quỳnh de Prelle)
VŨ TRỌNG QUANG
Trần Thiên Thị viết tắt TTT hay đọc là 3 Tê, tôi liên tưởng đến những T thơ ca:
GIÁNG VÂN
Tôi gọi chị là “ Người truyền lửa”.
LGT: Trong khi giở lại tài liệu cũ, tình cờ chuỗi thơ xuân năm Ất Dậu 2005 của Thầy Trần Văn Khê xướng họa với chị Tôn Nữ Hỷ Khương và anh Đỗ Hồng Ngọc rơi vào mắt.