Hơn 10 năm qua, duyên nợ giữa anh với mảnh đất thần kinh là có thật. Và em, một hoài niệm anh chưa kịp đặt tên cũng góp thêm chút dư âm để rồi anh day dứt khôn nguôi mỗi khi nhớ về.
Đó là tựa của một bài thơ anh đã viết tặng em vào lần gặp mặt thứ hai tại mảnh đất cố đô nhiều duyên nợ. Đó cũng là lần đầu tiên anh chép tay một bài thơ tình tặng một người con gái. Phút chia tay sau lần tái ngộ ngắn ngủi, anh nhét vội vào túi xách của em rồi quay đi cùng lời nhắn nhủ: “Về nhà hãy đọc em nhé”. Cũng từ giây phút đó, anh biết trái tim mình khóa gần 5 năm ròng sau khi giã biệt mối tình đầu khờ khạo, lại thổn thức rung lên những nhịp đập bồi hồi, tươi mới như buổi đầu chạm ngõ yêu thương.
Mình đã gặp nhau tình cờ như thế để rồi anh bắt đầu những cung bậc cảm xúc của mình, đến nỗi anh lạ lẫm với cả bản thân, không hiểu nổi mình. Chỉ có thể là tình yêu, khi ai cũng có quyền bào chữa cho mình, không nề hà xa xôi, không so đo suy nghĩ, không do dự tính toán và thậm chí không cần cả những dự định tương lai dẫu biết tình cảm vừa mới nhen lên trong buổi ban sơ ấy rất đỗi mơ hồ. Anh chẳng quan tâm tất thảy những điều cho là tầm thường và thực dụng đó, chỉ biết rằng từ đây anh hạnh phúc vì bên cuộc đời mình, mỗi sáng, mỗi chiều, mỗi tối luôn hiển hiện hình ảnh của một người con gái.
Anh ôm ấp, vỗ về cái cảm xúc bâng quơ, mang theo nó vào từng giấc ngủ muộn. Cứ thế, anh thèm được trò chuyện với em từng phút giây. Thông thường, anh ít sử dụng điện thoại và mang nó thường trực bên mình, vậy mà từ ngày có em, cái cầu nối ấy nghiễm nhiên mê hoặc anh, là vật bất ly thân với anh ngay cả những buổi đi công tác xa với núi công việc bộn bề, ngay cả khi anh say sưa giảng bài trên lớp. Tiếng chuông rung lên bất cứ thời điểm nào anh đều xốn xang, hồi hộp và mơ hồ nghĩ rằng cuộc gọi đến từ em.
4 tháng lẻ 3 ngày, với anh đó là quãng thời gian đẹp nhất đời mình, anh sẽ trả lời như vậy nếu có ai hỏi anh yêu khoảng trời nào nhất. Không yêu sao được khi tất cả mệt mỏi, áp lực của cuộc sống cơm áo xô bồ bỗng dưng tan biến, trả anh về ấm áp và bình yên sau mỗi lần được nghe em cười nói, em tinh nghịch và hồn nhiên kể chuyện trên trời dưới biển bằng cái chất giọng miền Trung rất đỗi hồn hậu, đáng yêu.
Tình yêu anh được ủ thầm, lên men rồi lớn dậy mỗi ngày, khi anh thấy cuộc sống của mình sẽ thật vô nghĩa nếu thiếu em, đến nỗi anh từng hơn một lần nói sẽ đánh đổi tất cả để có em, để được gần bên em. Giá như… anh chỉ biết kêu lên như thế! Giá như em cứ mãi vô tư, trong trẻo, đẹp và lãng mạn như những vần thơ anh chong đèn mỗi đêm, gửi gắm biết bao yêu thương, nhung nhớ. Giá như em chỉ kiêu hãnh như từng câu thơ anh viết, để anh tôn thờ em mãi mãi. Và giá như anh ước mình là kẻ nhu nhược, lòng tự trọng không thắng nổi những hoài nghi tầm thường. Giá như anh là người vĩ đại, chỉ biết bao dung, tha thứ, không biết giận hờn, ích kỷ, biết nuông chiều cái đỏng đảnh, trẻ con đến lơ đễnh, hời hợt của em - cô gái 24 tuổi. Giá như…
Huế muôn đời vẫn vậy. Hơn 10 năm gắn bó với mảnh đất ẩm ương, thất thường này, bấm đốt ngón tay anh cũng biết được bây giờ mưa hay nắng. Để rồi lạ lạ, quen quen, nỗi nhớ cứ giục anh tìm về mỗi lần có dịp, dù chỉ là vài ngày nghỉ cuối tuần ngắn ngủi. Hẳn em còn nhớ, có lần anh đã chia sẻ cùng em, không hiểu sao từ ngày rời đất cố đô vào Nam lập nghiệp, mỗi dịp đi về, khi chiếc xe lăn ngang qua chốn này, trời lại đổ mưa. Trong một bài thơ anh viết vội vào bao thuốc lá ở một lần về ngang trên chuyến xe, anh đã kịp gói ghém điều này: “Anh biết sẽ gặp một cơn mưa. Bởi bao lần Huế từng đón anh như thế…”. Cắc cớ là thế, nợ duyên là thế, nên chỉ biết tạm gọi rằng: Với anh, Huế là định mệnh!
Bạn bè anh, những người một thuở chung sách vở, chung ghế giảng đường mỗi khi có dịp gặp lại nhau, bao giờ cũng lấy Huế làm quà cho câu chuyện hội ngộ. Phần anh đã nói quá nhiều, chiêm nghiệm đủ nên chỉ góp vào mấy bài thơ như mấy dòng kỷ niệm với xứ sở mộng mơ, ở thì buồn, xa thì thương, đi lâu quay quắt nhớ… Cũng vì lẽ đó, lũ bạn thời đại học thường đùa vui và phong anh là “Nhà hoài niệm học”, người đa mang, nặng lòng với Huế.
Anh cũng không có lý do gì để phủ nhận điều này, bởi hơn 10 năm qua, duyên nợ giữa anh với mảnh đất thần kinh là có thật. Với Huế, anh là kẻ lãng du, rong chơi không biết mỏi, bởi chưa một lần đi về, anh không ghé thăm, dù bộn bề công việc.
Vậy nên, anh có sai không em nhỉ khi bài thơ viết vội trong một buổi chiều nắng mưa đỏng đảnh ngày gặp em, anh đã đề thêm mấy dòng với tâm tư cháy bỏng, như muốn nuôi nấng mãi mãi cuộc tình này với Huế, với em: “Em có tin, trên đời này tồn tại cái gọi là duyên nợ? Riêng anh, gặp em chính là định mệnh của cuộc đời”.
Huế vậy đó. Em vậy đó. Và anh, kẻ đa cảm, tham lam, muốn giữ Huế, giữ em cho riêng mình, một ngày cũng rút ruột viết nên những dòng như vậy. Bài thơ kỷ niệm, bài thơ tinh khôi ngày nào, biết em còn lưu giữ?
4 tháng trời có lẻ, hẳn là quá ngắn ngủi cho một cuộc tình như người ta vẫn nói. Vậy mà với anh thế cũng là quá đủ để định nghĩa yêu thương, trọn vẹn cho những chân thành cần gửi gắm. 30 tuổi đời, anh không phải là kẻ nông nổi để không thể phân biệt một cách rạch ròi cái gọi là cảm xúc bâng quơ và tình yêu. Ngày thứ 123, sau những đắng cay, bẽ bàng em trả về cho anh trong một buổi tối đầy bàng hoàng và mộng mị, anh nguyện viết bài thơ cuối cùng - bài thơ thứ 21 cho em, để từ giây phút đó, anh xếp em vào ngăn tủ cuộc tình mình vĩnh viễn. Ấy vậy mà, anh không đủ mạnh mẽ, không đủ sĩ diện để làm điều đó.
Em càng hờ hững với những lý do không đầu, không cuối, anh càng tổn thương, càng đau đớn, lại nhớ em quay quắt. Mỗi ngày, anh lại chắp bút cho những vần thơ bay lên. Chỉ khác một điều, từ bài thơ thứ 22, anh sẽ không viết lời đề tặng và gửi cho em nữa, vì dự cảm được một thực tế nghiệt ngã: Em đã thực sự rời gót khỏi cuộc đời anh. Những câu thơ, cảm xúc nồng nàn từ một nơi xa ngái không còn đủ dịu dàng để vỗ về, nâng niu em, không đủ sang trọng để cảm hóa sự yếu mềm của một người con gái.
Tạm biệt em - mối tình thơ mộng, à không, chút tình chứ vì anh và em đã viết nên câu chuyện lứa đôi bao giờ đâu. Bây giờ Huế mùa đông, lòng anh đông cũng đang về, run run giá buốt. Anh không lạnh vì những đợt heo may cuối mùa lả lướt trên từng nẻo đường lại qua, đang quay quắt nhớ, quặn lòng đau bởi tình yêu thêm một lần dang dở, bởi câu thơ không nối được nhịp cầu đón bước em qua. Anh lại sẽ tự sưởi ấm lòng mình bằng những vần thơ. Có lẽ đó là niềm an ủi lớn nhất để anh dỗ dành mình lúc này.
Anh sẽ vẫn viết về Huế, viết cho em, dù Huế và em bây giờ xa xôi lắm. Và dẫu em có gieo vào tim anh ngàn lần đớn đau hơn thế, nếu được lựa chọn lại thêm một lần nữa, anh vẫn chọn em, đơn giản thôi vì đó là tình yêu - bài học em chưa từng thuộc. Bài thơ trao vội hôm nào biết em còn nhớ lời anh nhắn nhủ: “Vu vơ với Huế nửa đời. Vẫn mơ lần nữa một lời yêu em…”.
Thế Lâm
Tải mã QRCode
Là món ăn có cái tên khiến nhiều người phải ngẩn ra vì nghe quá lạ, canh chột nưa chinh phục thực khách bởi hương vị đậm chất quê và cái tình của người dân Huế.
SHO - Sáng ngày 21/2 (14 Tháng Giêng năm Bính Thân), Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế đã tổ chức chuyến đi Viếng mộ thi nhân tại các nghĩa trang trên địa bàn thành phố Huế tưởng nhớ các văn nghệ sĩ đã khuất . Đây là năm thứ tám văn nghệ sĩ Cố đô Huế tổ chức đi viếng mộ thi nhân vào dịp Tết Nguyên tiêu.
Không biết có tự bao giờ mà hoa tre là lễ vật không thể thiếu trong lễ "cúng bổn mạng" đầu năm của mỗi gia đình xứ Huế. Nội tôi kể rằng: Thuở xưa khi chưa có "ông tổ" khai sinh ra loại hoa tre thì người ta "cúng bổn mạng" bằng hoa thọ. Hoa thọ mang ý nghĩa trường tồn, cầu mong được sống lâu để sum vầy cùng con cháu.
Là kinh đô xưa cổ còn được lưu giữ gần như toàn vẹn nhất cho đến bây giờ, Tết ở Huế tượng trưng cho sợi dây liên kết giữa quá khứ và hiện tại.
Cặp rắn này chỉ xuất hiện tại chùa vào các ngày sóc vọng (các ngày 1, 15, 30 hàng tháng) và trú lại qua đêm trong hang cây da cổ thụ rồi lặng lẽ bỏ đi. Thấy chuyện lạ, một số người cho rằng đây là đôi rắn “có chân tu” nên mới về chùa để “nghe giảng giải kinh Phật”...
Bấy lâu nay, nhiều người dân, du khách vẫn thường nhắc đến con rùa khổng lồ thi thoảng xuất hiện trên dòng sông Hương, đoạn trước mặt điện Hòn Chén (thuộc thôn Ngọc Hồ, phường Hương Hồ, thị xã Hương Trà, Thừa Thiên – Huế). Người dân địa phương gọi đó là “rùa thần”.
Có thể nói, trong số hàng trăm sản phẩm bằng tre của các nghệ nhân làng Bao La (xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế) tạo nên, chúng tôi ấn tượng nhất là đèn lồng các loại. Từ đèn ú, đèn lục giác, bát giác… Tuy khác nhau về mẫu mã, hình dáng nhưng tất cả đều chan chứa tâm tình, gửi gắm “cái hồn” của làng nghề nơi đây.
Bên cạnh lớp nghệ nhân "vàng", lớp những nghệ sỹ "măng non" - nghệ sỹ trẻ là thế hệ mới sẽ đồng hành cùng nghệ thuật Ca Huế trên con đường phát huy giá trị di sản này ra cộng đồng, tiến tới hội nhập di sản quốc tế. Do đó, việc làm sao để truyền lại vẹn nguyên bản sắc, đúng cái "chất" của Ca Huế cho lớp nghệ sỹ trẻ kế tục cũng đang là vấn đề được các ban, ngành quan tâm.
Chuyên đề trọng điểm của số báo này, dành nhiều trang về Hoàng Phủ Ngọc Tường - nhà văn, nhà văn hóa Huế. Những trang văn của ông, như chiếc đũa thần, thức dậy những vỉa tầng văn hóa Huế. Một điều khác, ông cùng bạn bè thuở ấy, với một hệ mỹ cảm khác biệt, đã tạc vào văn nghệ Huế, Việt Nam những giá trị trường cửu.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Tại Huế, toàn bộ các ấn quý bằng vàng, bạc, ngọc hay còn gọi là Kim Ngọc Bảo Tỷ đến nay không còn một chiếc nào. Có lẽ thật sự đây là điều đáng tiếc nhất khi xuất xứ những chiếc ấn quý đó đều từ Huế mà ra.
Những biến cố của lịch sử đã khiến cho một lượng cổ vật lớn và quý hiếm đã “biến mất” khỏi cố đô Huế. Hãy cùng lật lại những điểm mốc ấy.
Triều đại phong kiến vua Nguyễn cuối cùng tại Huế đã trải qua với bao biến cố lịch sử. Hàng vạn cổ vật quý hiếm đi cùng triều đại này hiện đã mất mát quá nhiều, không còn “ở lại” được trên mảnh đất nó đã từng tồn tại.
Hai đồng tiền cổ quý hiếm là loại tiền dùng để ban thưởng chứ không dùng để trao đổi, mua bán có tên là “Gia Long thông bảo” và “Minh Mạng thông bảo” với kích thước rất lớn vừa được một người dân ở Quảng Bình lần đầu phát hiện.
Với một di sản văn hoá vật thể và tinh thần mang ý nghĩa quốc hồn quốc tuý của dân tộc, Huế là một hiện tượng văn hoá độc đáo của Việt Nam và thế giới.
Huế từ lâu đã là một trung tâm văn hóa, du lịch của cả nước. Festival văn hóa nghệ thuật kết hợp với du lịch đã tạo cú hích cho thế mạnh đặc thù của quần thể di tích cố đô Huế - được công nhận là di sản thế giới vào năm 1993, từ đó tạo diện mạo cho Huế có sự phát triển mới, mạnh mẽ hơn.
Lọng là sản phẩm độc đáo được dùng để tôn vinh sự trang trọng, quý phái trong các nghi lễ của triều đình xưa, cũng như trong các lễ nghi cúng tế mang đậm tín ngưỡng dân gian. Từ đám rước thần linh, đám tang, lễ cưới, hỏi… đều có sự hiện diện của chiếc lọng.
Trong kiến trúc xưa, có lẽ không nơi nào có nhiều bức bình phong như ở Huế. Khắp các cung đình, phủ đệ, đến các đền chùa, am miếu, đình làng, nhà thờ họ và nhà thường dân…đều hiện hữu những bức bình phong.
Võ tướng Nguyễn Tri Phương đã dành cả đời ông trong công cuộc giữ yên bờ cõi và chống ngoại xâm trải qua ba đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Khi Hà thành thất thủ vào tay quân Pháp, ông đã nhịn đói cho đến chết.