VIRGINIA WOOLF
Vườn Kew
Từ luống hoa hình oval, có lẽ, hàng trăm cuống lá vươn tới lưng chừng những chiếc lá hình lưỡi và hình tim và tới đầu những cánh hoa vàng hay xanh hay đỏ được đánh dấu bởi những vệt màu được chiếu lên trên bề mặt; và từ bóng tối vàng, xanh, đỏ của khúc sông nổi lên một cồn cát phẳng, mấp mô bụi vàng và hơi có hình dùi cui ở đuôi. Những cánh hoa đủ lớn để cựa mình bởi cơn gió mùa hè, và khi chúng chuyển động, những ánh sáng vàng, xanh và đỏ cái này băng qua cái kia rồi vượt qua cái còn lại, nhuộm tấc đất nâu phía dưới bằng một vệt màu rối mù nhất. Ánh sáng hoặc đổ lên tấm lưng nâu nhẵn của một hòn sỏi, hoặc vỏ con ốc sên có những vằn tròn nâu, hoặc rơi vào một hạt mưa trải rộng, bằng cường độ như thế của sắc đỏ, xanh và vàng, những bức tường nước mỏng mà người ta chờ đợi sẽ vỡ tung và biến mất. Thay vào đó, giọt nước bị bỏ lại trên màu xám bạc thứ hai một lần nữa, và ánh sáng giờ đây đậu trên mặt chiếc lá, để lộ ra những đường gân dưới mặt lá, và một lần nữa nó chuyển động và trải rộng ánh sáng trong những không gian xanh rộng lớn bên dưới vòm những chiếc lá hình lưỡi và hình tim. Rồi cơn gió lay động mạnh hơn chút nữa ở trên đầu và ánh sáng ấy lóe sáng vào không trung, vào đôi mắt của những người đàn ông và đàn bà tản bộ trong Vườn Kew vào tháng Bảy.
Hình dáng của những người đàn ông và đàn bà này lẻ tẻ ngang qua luống hoa bằng cử động không đồng đều kỳ lạ, không giống cử động của những con bướm xanh và trắng bay ngang qua thảm cỏ theo hình chữ chi từ luống hoa này sang luống hoa kia. Người đàn ông cao khoảng sáu inch đi trước người phụ nữ, một cách lơ là, trong khi cô có chủ đích hơn, chỉ quay đầu thi thoảng để biết những đứa con không đi sau quá xa. Người đàn ông cố ý giữ khoảng cách này đằng trước người phụ nữ, mặc dù có lẽ không ý thức, vì anh mong tiếp tục những ý nghĩ của mình.
Cách đây mười lăm năm mình đã đến đây với Lily, anh nghĩ. Chúng mình ngồi đâu đó đằng kia cạnh hồ, và mình cầu hôn cô ấy suốt cả buổi chiều nóng nực. Con chuồn chuồn cứ lượn vòng quanh chúng mình ra sao: mình nhìn thấy rõ con chuồn chuồn và chiếc giày của cô ấy có cái khóa bạc vuông ở mũi như thế nào. Toàn bộ thời gian mình nói mình đều nhìn vào chiếc giày của cô ấy và khi nó di chuyển một cách nôn nóng mình biết mà không nhìn lên lời cô ấy đang nói: toàn bộ con người cô ấy dường như nằm trong chiếc giày. Và tình yêu của mình, khát khao của mình, nằm trong con chuồn chuồn ấy; vì một vài lý do mình nghĩ rằng nếu nó đậu ở đó, trên chiếc lá kia, chiếc lá rộng có bông hoa màu đỏ chính giữa nếu con chuồn chuồn đậu trên chiếc lá cô ấy sẽ nói “đồng ý” ngay lập tức. Nhưng con chuồn chuồn cứ lượn vòng quanh: nó không bao giờ đậu ở bất cứ đâu, tất nhiên [cô ấy không nói đồng ý], hạnh phúc là cô ấy đã không nói đồng ý, không thì mình sẽ không đi dạo ở đây với Eleanor và bọn trẻ. Nói cho anh biết, Eleanor. Em có từng nghĩ về quá khứ không?
Sao anh lại hỏi, Simon?
Bởi vì anh đang nghĩ về quá khứ. Anh đang nghĩ về Lily, người phụ nữ anh đáng lẽ đã cưới. Ồ, sao em im lặng? Em có phiền với suy nghĩ về quá khứ của anh?
Sao em phải phiền lòng, Simon? Chẳng phải người ta luôn nghĩ về quá khứ trong một khu vườn có những người đàn ông và đàn bà nằm dưới những rặng cây? Chẳng phải chúng là quá khứ của người ta, toàn bộ chúng là những gì còn lại của nó, những người đàn ông và đàn bà này, những hồn ma này nằm dưới những rặng cây, niềm hạnh phúc của người ta, hiện thực của người ta?
Với anh, một cái khóa giày vuông mạ bạc và một con chuồn chuồn.
Với em, một cái hôn. Tưởng tượng sáu bé gái ngồi trước giá vẽ cách đây hai mươi năm, bên bờ hồ, vẽ những bông hoa súng, những bông súng đỏ đầu tiên em nhìn thấy. Và đột ngột một cái hôn, đặt lên gáy. Và tay em run rẩy cả buổi chiều thế nên em không thể vẽ. Em lấy đồng hồ ra và đánh dấu cái giờ em cho phép mình nghĩ về cái hôn ấy chỉ trong năm phút, nó quá quý giá, nụ hôn của người phụ nữ tóc hoa râm lớn tuổi có cái mụn cóc trên mũi, mẹ đẻ của tất cả những chiếc hôn suốt đời em. Lại đây Caroline, lại đây Hubert.
![]() |
| Minh họa: HIỀN LÊ |
Họ đi tiếp qua luống hoa, bây giờ đang sánh vai dạo bước, và nhanh chóng bé lại giữa những cái cây và trông gần như trong suốt khi ánh sáng mặt trời và bóng râm phủ lên lưng họ trong những khoảnh đất không đều, rộng rãi, rung động.
Trong luống hoa hình oval con ốc sên, mà cái vỏ đã nhuộm đỏ, xanh, vàng một khoảng tầm hai phút, bây giờ hình như chuyển động chút xíu trong vỏ của nó, và kế đó bắt đầu dồn sức vào những mẩu đất tơi xốp mà sẽ bể vỡ và lăn tròn xuống khi nó bò qua. Dường như có một cái đích xác định đằng trước nó, về mặt này, nó khác với con côn trùng màu xanh gầy nhẳng cao kều, kẻ đã thử vượt qua nó, và đã đợi một giây với cái râu rung rung như thể có cân nhắc, và rồi bước ra khỏi cũng nhanh chóng và lạ lùng theo hướng ngược lại. Những vách đá nâu với những con hồ xanh sâu thẳm trong những thung lũng lòng chảo, những cái cây hình lưỡi kiếm bằng phẳng rung động từ rễ tới ngọn, những tảng đá nâu tròn, những bề mặt rộng lớn sần sùi có một lớp mặt mỏng rạn nứt, tất cả những vật thể này nằm vắt ngang hành trình tiến lên của ốc sên giữa cuống lá này và cuống lá khác tới đích của cậu chàng. Trước khi cậu ta quyết định đi vòng qua mái lều uốn cong của một cái lá úa hoặc đi xuyên qua nó thì đi qua luống hoa là bước chân của những con người khác.
Lần này họ đều là đàn ông. Người trẻ hơn mang vẻ mặt có lẽ bình tĩnh một cách không tự nhiên; anh ta ngước mắt và chăm chú nhìn về phía trước trong khi bạn đồng hành của mình nói chuyện, và ngay khi người bạn đồng hành nói xong anh ta lại chăm chú nhìn mặt đất và đôi khi mở miệng chỉ sau một quãng ngưng dài và đôi khi không hề mở miệng. Người đàn ông lớn tuổi hơn có cách đi run rẩy và thất thường một cách kỳ lạ, thình lình vung tay lên và hất đầu lên một cách bất ngờ, đúng hơn theo cung cách của một con ngựa kéo xe mệt mỏi vì đợi ở ngoài nhà; nhưng ở người đàn ông này những cử chỉ ấy do dự và lạc lõng. Ông ấy nói gần như không ngừng: ông mỉm cười với mình và lại bắt đầu nói, như thể nụ cười ấy là một câu trả lời. Ông đang nói về những linh hồn, linh hồn của người chết, người, theo ông, thậm chí bây giờ đang nói cho ông đủ thể loại chuyện kỳ quặc về những kinh nghiệm của họ ở Thiên đường.
Thiên đường quen thuộc với những người cổ đại như Thessaly, William, và bây giờ, với cuộc chiến này, vấn đề linh hồn đang rền vang giữa những ngọn đồi như tiếng sấm. Ông ngừng lại, dường như để lắng nghe, mỉm cười, thình lình hất đầu lên và tiếp tục.
Cậu có một cục pin điện nhỏ và một mẩu cao su để cách ly dây kim loại, cách điện? Cách ly? Ồ, chúng ta sẽ bỏ qua những chi tiết, không hay ho khi đi vào những chi tiết sẽ không được hiểu và nói ngắn gọn là cái máy nhỏ đứng ở bất cứ vị trí nào thuận lợi cạnh đầu giường, chúng ta sẽ nói, trên một cái bệ màu nâu ánh đồng gọn gàng. Tất cả sự lắp đặt được những người thợ sắp xếp đúng nơi đúng chỗ dưới sự chỉ dẫn của tôi, người góa phụ đeo vào tai và gọi hồn bằng những dấu hiệu như là đã đồng ý. Những phụ nữ! Những góa phụ! Những phụ nữ mặc đồ đen.
Ở đây ông hình như nhìn thấy chiếc váy của một phụ nữ ở đằng xa, trong bóng râm trông như là màu tím đậm. Ông cởi mũ, đặt tay lên trái tim, và vội vã tiến về phía cô lầm bầm và khoa chân múa tay một cách luống cuống. Nhưng William đã níu lấy tay áo của ông và chạm vào một bông hoa bằng đầu chiếc gậy đi dạo của mình để đánh lạc hướng chú ý của người đàn ông già. Sau khi nhìn nó chốc lát hơi hoài nghi người đàn ông già nghiêng tai xuống bên và dường như trả lời một giọng nói đang phát ra từ nó, vì ông bắt đầu nói về những cánh rừng Uruguay mà ông đã tới cách đây hàng trăm năm cùng với người phụ nữ đẹp nhất châu Âu. Ông có thể nghe thấy tiếng rì rầm về những cánh rừng Uruguay bao phủ bởi những cánh hoa hồng phủ sáp, những con chim sơn ca, những bờ biển, những nàng tiên cá, và những phụ nữ chết đuối dưới biển, khi ông để William kéo đi, trên gương mặt anh vẻ kiên nhẫn khắc kỷ dần dần đậm nét hơn.
Theo bước ông gần đến mức hơi bị bối rối bởi những cử chỉ của ông là hai phụ nữ lớn tuổi hơn thuộc tầng lớp hạ trung lưu, một người mập mạp và chậm chạp, người kia má đỏ hồng hào và lanh lẹ. Như hầu hết những người ở địa vị mình, họ bị mê hoặc một cách không che giấu bởi bất cứ dấu hiệu lập dị nào báo hiệu một đầu óc rối loạn, đặc biệt ở những người giàu có; nhưng họ đứng quá xa để chắc chắn những cử chỉ này chỉ là kỳ cục hay thực sự mất trí. Sau khi họ nhìn chằm chằm vào lưng của người đàn ông già trong im lặng chốc lát và trao nhau cái nhìn kỳ quặc, tinh quái, họ tiếp tục hăng hái chắp lại với nhau trong chính cuộc đối thoại rắc rối của mình:
Nert, Bert, Lot, Cess, Phil, Pa, anh ta nói, tôi nói, cô ấy nói, tôi nói, tôi nói, tôi nói.
Bert của tôi, Sis, Bill, Ông, người đàn ông già, đường… Đường, bột, cá hun khói, rau… Đường, đường, đường.
Người phụ nữ chậm chạp nhìn kỹ khuôn hình của những từ đang rơi xuống luống hoa, đứng trầm tĩnh, vững chắc, và thẳng đứng trên mặt đất, với vẻ mặt tò mò. Bà ta nhìn chúng như một người đang ngủ thức dậy từ giấc ngủ nặng nề, nhìn cái giá đỡ nến bằng đồng thau phản chiếu ánh sáng theo một cách kỳ lạ, và nhắm đôi mắt và mở ra, và lại nhìn cái giá đỡ nến bằng đồng thau lần nữa, cuối cùng bắt đầu tỉnh giấc và nhìn chằm chằm vào cái giá đỡ nến bằng tất cả khả năng của mình. Bởi vậy người đàn bà nặng nề dừng lại đối diện luống hoa hình oval, và thậm chí thôi giả bộ lắng nghe điều người đàn bà kia đang nói. Bà đứng đó để những từ rơi qua mình, lắc lư phần đầu thân thể mình chầm chậm phía sau và phía trước, ngắm những bông hoa. Rồi bà đề nghị họ nên tìm một cái ghế và uống trà.
Con ốc sên bây giờ xem xét mọi cách có thể để tới đích mà không đi vòng qua cái lá úa hay trèo qua nó. Không kể đến nỗ lực cần cho việc leo lên chiếc lá, cậu chàng hoài nghi bề mặt mỏng rung lắc với tiếng vỡ lách tách gây hoang mang như thế khi bị chạm vào thậm chí bởi đầu những chiếc râu liệu có thể chịu được sức nặng của mình hay không; và điều này thôi thúc cậu cuối cùng bò bên dưới cái lá, vì có một điểm chiếc lá cong đủ cao cho cậu bò qua. Cậu chỉ mới chui đầu vào gầm cái lá và đang kiểm tra kỹ lưỡng tình hình cái mái lá cao màu nâu và bắt đầu quen với ánh sáng nâu mát mẻ thì những người khác đi qua trên thảm cỏ. Lần này họ là hai người trẻ, một cô, một cậu. Họ cả hai đều trong độ xuân thì, hoặc thậm chí trong thời gian trước xuân thì, thời gian trước khi những nếp gấp hồng mềm mịn của bông hoa làm nứt vỡ cái vỏ dinh dính của chúng, khi những đôi cánh bướm, dù đã phát triển toàn vẹn, bất động dưới ánh mặt trời.
May là không phải thứ Sáu, cậu trai nhận xét.
Tại sao? Anh tin vào sự may mắn ư?
Họ bắt em trả sáu xu vào thứ Sáu.
Dù sao đi nữa, sáu xu là thế nào? Không đáng sáu xu ư?
Ý em là gì?
Ồ bất cứ điều gì em muốn nói anh đều biết em muốn nói gì.
Những đoạn ngắt quãng dài xen vào mỗi nhận xét của họ; được nói bằng giọng đơn điệu và buồn tẻ. Cặp đôi đứng yên bên cạnh luống hoa, và cùng nhau ấn cán ô sâu xuống mặt đất mềm. Hành động đó và thực tế tay anh đặt trên mu bàn tay cô bộc lộ cảm xúc của họ theo một cách kỳ lạ, vì những từ vô nghĩa ngắn củn này cũng bộc lộ điều gì đó, những từ có những đôi cánh ngắn củn, đối với thân thể nặng nề của ý nghĩa, không đủ để mang chúng đi xa và bởi vậy đậu xuống một cách vụng về trên những đồ vật rất tầm thường xung quanh họ, và phù hợp với sự đụng chạm tí ti của họ; nhưng ai biết (bởi vậy họ nghĩ khi họ ấn cái ô xuống đất) vách đá nào không được giấu trong họ, hay sườn dốc nào của tảng băng không chiếu sáng, trong ánh mặt trời, mặt còn lại? Ai biết? Ai từng nhìn thấy điều này trước đây? Thậm chí khi cô phân vân loại trà nào họ phục vụ ở Kew, anh cảm thấy thứ gì đó như một cái bóng lờ mờ đằng sau những ngôn từ của cô, và đứng một cách đồ sộ và vững chắc đằng sau chúng; và màn sương mù ấy rất chậm chạp nhô lên và lộ diện. Lạy Chúa, những hình dáng này là gì? Những cái bàn trắng con con, và những cô phục vụ bàn, mà trước tiên nhìn cô rồi nhìn anh; và có một hóa đơn anh sẽ trả bằng hai đồng xu có thực, và nó là thực, hoàn toàn thực, anh tự đảm bảo, sờ mó đồng tiền trong túi, có thực với mọi người trừ anh và cô; thậm chí với anh nó bắt đầu dường như là thực; và rồi quá phấn khích đến không thể đứng và nghĩ thêm nữa, và anh lôi cái ô lên khỏi mặt đất bằng một cú giật mạnh bất thình lình và nôn nóng tìm một nơi người ta uống trà với những người khác, giống như những người khác.
Nhanh lên, Trissie; đến lúc uống trà rồi.
Ở đâu người ta uống trà của người ta? Cô hỏi bằng giọng run rẩy kỳ quặc nhất, nhìn lơ đãng xung quanh và để mình đi tới bãi cỏ, kéo lê cái ô, nghiêng đầu sang bên này bên kia, quên mất cốc trà của mình, muốn đi xuống đó và rồi ngồi xuống đó, nhớ về những cây phong lan và những con sếu giữa những bông hoa dại, một ngôi chùa Trung Hoa và một con chim mào đỏ thẫm; nhưng cậu ấy đã đi về phía cô.
Và như thế một cặp đôi sau cặp đôi khác với cùng những động tác vu vơ và không đồng đều đi ngang luống hoa và bị bao phủ trong tầng tầng lớp lớp hơi nước xanh lam, ở đó lúc đầu thân thể họ còn có hình dạng và một vệt màu, nhưng sau đó cả hình dạng và màu sắc hòa tan vào không khí màu lam. Nóng làm sao! Quá nóng đến mức ngay cả con chim hét quyết định nhún nhảy, giống như một con chim chạy bằng máy, trong bóng râm của những cây hoa, bằng những đoạn ngắt quãng dài từ bước nhảy này sang bước nhảy khác; thay vì dạo chơi một cách lơ đãng những con bướm trắng bay chấp chới, tạo nên bằng những mảnh cánh trắng chuyển động, đường nét của cây cột cẩm thạch vỡ vụn phía trên những cây hoa cao nhất; những vòm mái bằng thủy tinh của nhà cọ tỏa sáng như thể cả một cái chợ đầy những cái ô xanh bóng mở ra dưới ánh mặt trời; và trong tiếng rền của chiếc tàu bay bầu trời mùa hạ lên tiếng than phiền về tâm hồn sục sôi của mình. Vàng và đen, hồng và trắng tuyết, những hình dạng của những màu sắc này, đàn ông, đàn bà và trẻ em lốm đốm chốc lát trên đường chân trời, và rồi, nhìn thấy ánh nắng trải dài trên thảm cỏ, họ lưỡng lự và tìm bóng râm dưới những tán cây, hòa tan như những giọt nước vào không khí vàng xanh, nhuộm lên không khí ấy chút đỏ và xanh mờ nhạt. Dường như thể toàn bộ những thân thể phì nộn và nặng nề chìm xuống bất động trong cái nóng và túm tụm trên mặt đất, nhưng tiếng nói của họ lập lòe phát ra từ họ như thể chúng là những ngọn lửa rủ xuống từ những thân sáp mềm oặt của những cây nến. Những tiếng nói. Đúng, những tiếng nói. Những tiếng nói không lời lẽ, đột ngột phá vỡ sự im lặng bằng sự sâu thẳm như thế của nỗi thỏa mãn, sự mạnh mẽ như thế của khao khát, nếu không, bằng tiếng nói của những đứa trẻ, sự tươi mát như thế của nỗi ngạc nhiên; phá vỡ im lặng? Nhưng không có sự im lặng; lúc nào những chiếc xe buýt cũng đang chuyển bánh và sang số; giống như bộ hộp to đùng xếp chồng vào nhau, làm bằng thép tinh luyện của người Trung Hoa, cái này quay trong cái kia không ngừng, thành phố lầm bầm; trên đỉnh ngọn của nó những tiếng nói ầm ĩ và những cánh hoa của vô số bông hoa lóe sáng những sắc màu của chúng vào không trung.
V.W
(TCSH438/08-2025)
Tải mã QRCode
LTS: Mario Bendetti sinh tại Paso de los Toros (Tacuarembó ) ngày 14 tháng 9 năm 1920. Ông theo học tại trường tiểu học tiếng Đức ở Montevideo và trường trung học Miranda, đã từng làm nhiều nghề như nhân viên bán hàng, tốc kí, kế toán, viên chức nhà nước và phóng viên. Từ năm 1938 đến 1941 ông sống chủ yếu ở Buenos Aires . Năm 1945, khi trở về Montevideo, ông viết bài cho tuần báo nổi tiếng Marcha, qua đó trở thành phóng viên bên cạnh Carlos Quijano và rồi trở thành một thành viên trong ê-kíp của ông này cho tới tận năm 1974 khi tuần báo ngừng xuất bản.Năm 1973, vì lí do chính trị, ông phải rời bỏ tổ quốc,bắt đầu cuộc sống lưu vong kéo dài mười hai năm ở những quốc gia: Ác-hen-ti- na và Tây Ban Nha. Quãng thời gian này đã để lại những dấu ấn vô cùng sâu sắc trong cuộc đời ông cũng như trong văn nghiệp.
YUKIO MISHIMA (Nhật Bản)YUKIO MISHIMA tên thật là HIRAOKA KIMITAKE (1925-1970). Sinh tại Tokyo.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Tokyo . Nhà văn, kịch tác gia, đạo diễn sân khấu và điện ảnh, diễn viên.Năm 16 tuổi đã xuất bản truyện vừa lãng mạn Khu rừng nở hoa. Tiểu thuyết Lời thú tội của chiếc mặt nạ ra năm 1949 đã khẳng định tên tuổi của nhà văn trẻ tài năng và trở thành tác phẩm được đánh giá là kinh điển của nền văn học Nhật Bản.
KOMASHU SAKIO (Nhật Bản)Sinh 28/1/1931 tại Osaka (Nhật Bản). Nhà văn chuyên viết truyện khoa học giả tưởng nổi tiếng của Nhật Bản.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Kyoto , chuyên ngành Văn học Italia.Từ năm 1957 là phóng viên Đài Phát thanh Osaka và viết cho một số các báo. Năm 1961 chiến thắng trong cuộc thi truyện ngắn giả tưởng xuất sắc do tạp chí "SF Magasines" tổ chức.Tác phẩm của Komatsu đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới.
S. MROZEK (Ba Lan)Có lần tôi bắt gặp một con chó ác bụng đang rượt đuổi một con mèo. Bởi tôi là người yêu động vật nên tôi bèn vớ ngay một cục đá to sụ quẳng vào con chó khiến nó ngã lăn quay, nằm đứ đừ một hồi lâu. Chú mèo nhỏ không nhà, con vật bé xíu nom mệt phờ râu. Không chút do dự - tôi cho nó nương nhờ. Đây quả là một con mèo đẹp mã, lông mịn màng, mắt long lanh. Tôi đem nhốt nó vào trong nhà, đoạn bỏ đi chơi bời trác táng.
KITA MORIO (Nhật Bản)Kita Morio (sinh năm 1927) là nhà văn thuộc thế hệ hậu chiến của Nhật Bản. Tốt nghiệp Đại học Y. Năm 1960 được trao giải thưởng mang tên Akutagawa với truyện ngắn Trong bóng tối đêm, cốt truyện xảy ra trong một bệnh viện tâm thần ở Đức thời kì Chiến Tranh Thế Giới thứ II. Nổi tiếng với các tác phẩm giả tưởng khoa học và chống chiến tranh.
SINCLAIR LEWISLGT: SINCLAIR LEWIS (1885 - 1951, giải thưởng Nobel 1930)Ông là tiểu thuyết gia, người viết truyện ngắn có tiếng và nhà viết phê bình có uy tín ở Mỹ.
BRUNO LESSINGLGT: Bruno Lessing (1870-1940) sinh tại New York, Mỹ. Tên thật của ông là Rudolp Block nhưng ông nổi tiếng với tư cách là nhà văn chuyên viết truyện ngắn dưới bút danh Bruno Lessing. Ông là phóng viên và sau đó là biên tập viên cho nhiều tờ báo. Mô tả của Lessing về cuộc sống của người Do Thái ở New York được đánh giá cao. Truyện dưới đây được dẫn dắt một cách hấp dẫn, lý thú, làm nổi bật mối quan hệ giữa hai thế hệ: cha và con, vấn đề nhập cư, đồng hóa hay giữ bản sắc văn hóa với một giọng điệu dí dỏm.
JUAN JOSÉ ARREOLA (Sinh 1918, Nhà văn Mêhicô)LGT: Arreola là một nhà cách tân lớn về truyện kể. Là một người tự học tài năng, ông sở đắc một nền văn hoá rộng lớn, cũng như trải qua nhiều nghề khác nhau để kiếm sống. Arreola chủ yếu sáng tác những truyện kể ngắn, cô đúc, mỉa mai, hay bí ẩn, ưa thích cái nghịch lý và ông là một trong những bậc thầy của hình thức truyện ngắn này. Ba tuyển tập truyện ngắn của ông là Varia Invencion (1049), Confabulario (1952), Confabulario Définitivo (1087).
KAWABATA YASUNARI LGT: KAWABATA YASUNARI (1899 - 1972) là nhà văn đầu tiên của Nhật Bản đoạt giải thưởng Nobel văn chương (1968). Ông nổi tiếng thế giới với những tiểu thuyết như: Xứ Tuyết (1935 - 1947), Ngàn cánh hạc (1949), Tiếng rền của núi (1950), Người đẹp say ngủ (1961), Cố đô (1962)...
MATVEEVA ANNALGT: MATVEEVA ANNA (Sinh 1975) là một nhà văn nữ trẻ của văn học Nga đương đại tài năng đầy hứa hẹn. Đã xuất bản một số tập truyện ngắn. Truyện ngắn của cô đã được đăng trong các tạp chí lớn của Nga như Thế giới mới, Tháng Mười. Văn xuôi của cô hóm hỉnh, thể hiện sự tò mò sắc sảo trước cuộc sống và con người. Tác phẩm của cô được xem như thể hiện một số sắc thái và đặc điểm của văn xuôi hậu hiện đại Nga hiện nay. Xin trân trọng giới thiệu truyện ngắn “Con chó” dưới đây của nữ văn sĩ qua bản dịch của nữ dịch giả Đào Tuấn Ảnh.
YVELINE FÉRAYLTS: Monsieur le paresseux là cuốn tiểu thuyết lịch sử dày gần 300 trang của nữ văn sỹ Pháp Yveline Féray viết về Đại danh y Việt Nam Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, do Nhà xuất bản Robert Laffont ở Paris ấn hành năm 2000. Trước đó, năm 1989 nữ văn sỹ này đã cho xuất bản ở Pháp cuốn tiểu thuyết dày 1000 trang Dix mille printemps, viết về Nguyễn Trãi - nhà chính trị, quân sự lỗi lạc; nhà thơ lớn của Việt Nam ở thế kỷ XV.
MARSEL SALIMOV (LB NGA)Đất nước ta quá giàu! Vì thế tôi nảy ra ý định muốn cuỗm một thứ gì đó. Những tên kẻ cắp ngày nay chả giống như trước đây. Chúng không thèm để mắt đến những thứ lặt vặt. Cả một đoàn tàu bỗng dưng biến mất tăm! Những nhà máy không thể di dời được, thế nhưng người ta lại nghĩ ra kế chiếm đoạt chúng. Nghe đồn nay mai người ta sẽ bắt đầu chia chác cả đất lẫn nước!
AKILE CAMPANILE(Nhà văn Italia)LTS: Số Tết này, TCSH chọn một truyện ngắn hài hước của một nhà văn Ý, có nhan đề “Ngón nghề kinh doanh”, qua bản dịch của dịch giả nổi tiếng Lê Sơn, để bạn đọc có dịp thư giãn trong dịp đầu Xuân.
HERMANN HESSE Tương truyền thi nhân người Tàu tên Han Fook thuở thiếu thời chỉ thao thức với một khát khao kỳ diệu là muốn học hết mọi điều và tự rèn luyện mình đến hoàn hảo trong tất cả các môn liên quan đến nghệ thuật thi ca.
OLGA TOKARCZUK (Nữ nhà văn Ba Lan)LGT: Nữ văn sĩ Ba Lan Olga Tokarczuk sinh năm 1962 tại Sulechow, Ba Lan. Bà là nhà văn “hậu hiện đại” và “nữ quyền”. Năm 1979 những truyện ngắn đầu tay của bà được đăng tải trên Tạp chí Thanh niên, năm 1989 những bài thơ đầu tay được in trong các tạp chí “Rađa” và “Đời sống văn học”.
NADINE GORDIMER ( Phi), Giải Nobel 1991LGT: Nữ văn sĩ Nadine Gordimer sinh năm 1923 tại Phi. Bà cho in truyện ngắn đầu tay năm 15 tuổi và tiếp tục nghề văn khi còn là sinh viên Đại học Wirwatersrand. Có thời kỳ sách của bà bị chế độ phân biệt chủng tộc Phi cấm đoán. N.Gordimer được trao tặng nhiều giải thưởng văn học, trong đó có giải Nobel văn chương năm 1991.
OLGA TOKARCZUKLGT: Trong số tháng 3 – 2007 (217), Sông Hương đã giới thiệu tới bạn đọc truyện ngắn “Người đàn bà xấu nhất hành tinh” của OLGA TOKARCZUK, một nữ văn sĩ thuộc dòng văn học nữ “hậu hiện đại Ba Lan”. Số báo này, Sông Hương xin giới thiệu tiếp truyện ngắn “Vũ nữ”. Đây là một truyện ngắn độc đáo dựa trên một leimotic “cuộc đối thoại vô hình” giữa người con gái và người cha, láy đi láy lại đến 6 lần, thể hiện cuộc chiến đấu âm thầm dữ dội, tự khẳng định mình trong nghệ thuật, chống lại sức mạnh ám ảnh của mặc cảm “bất tài”.
BERNARD MALAMUDLGT: Bernard Malamud sinh năm 1914 tại Brooklyn, New York, lớn lên trong thời kỳ Đại Khủng hoảng Kinh tế, là người Nga gốc Do Thái trong một gia đình bán tạp hoá. Ông đã xuất bản nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn và được nhận nhiều giải thưởng văn học.
RADOI RALIN (Bungari)LGT: Đây là một truyện có ý vị sâu xa với các môtíp sự cám dỗ của quyền lực, “sự đồng loã ngây thơ” với tội ác, sự tự nhận thức và tự trừng phạt. Nhưng trên hết là sự vạch trần và tố cáo sự bịp bợm quỷ kế của giới quyền lực. Đây là một truyện ngụ ngôn mới đặc sắc. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.
ZACE HAMMERTON (Anh quốc)LGT: Truyện dựng chân dung của một kẻ “Sính khiếu nại” “một cách hài hước, bố của John Peters có “Thú đam mê sưu tập tem”. Cách dẫn chuyện tài tình ở cái chi tiết sự ham mê của anh với một loại tem đặc biệt không đục lỗ chiếu ứng với cái kết bất ngờ của truyện “Có của rơi vào tay mà để vuột mất”. Mời bạn đọc thưởng thức.