Vĩnh Quyền và những trang văn về quá khứ vùng Thuận Quảng

08:20 29/11/2013

THIẾU SƠN

     * Vĩnh Quyền sinh năm 1951 tại Huế, tốt nghiệp Đại học Sư phạm và cử nhân Văn khoa Huế 1974.

Nhà văn Vĩnh Quyền - Ảnh: internet

Năm 1986 nổi lên một tác giả trẻ - Vĩnh Quyền.

Bạn đọc chú ý cái tên còn rất mới này bởi hai lẽ. Một, Vĩnh Quyền xuất bản ba tiểu thuyết và một tập truyện ngắn trong cùng một năm(1). Hai, cả bốn quyển sách đều thuộc thể tài lịch sử, mảnh đất còn quá vắng vẻ trong khu vườn văn học hiện đại Việt Nam. Vắng vẻ tác phẩm giá trị. Trong khi đó, Vĩnh Quyền còn rất trẻ. Anh sinh năm 1951 tại Huế, tốt nghiệp Đại học Sư phạm và cử nhân Văn khoa Huế, năm 1974.

Dải đất miền Trung đầy biến động giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là đề tài, bối cảnh tiểu thuyết lịch sử của Vĩnh Quyền. Trong đó đậm nhất là đất Thuận - Quảng. Điều ấy thật tự nhiên. Miền Trung giữ vai trò quan trọng trong giai đoạn lịch sử này và Thuận Hóa, Quảng Nam có mối quan hệ máu thịt trong suốt quá trình vận động yêu nước và cách mạng. Vĩnh Quyền, đứa con của Huế và đồng thời là một cây bút trưởng thành trên đất Quảng. Anh có điều kiện thâm nhập thực tế, nghiên cứu quá khứ dầy dặn của vùng Thuận - Quảng. Khả năng xử lý tư liệu Hán - Nôm cũng là yếu tố tích cực giúp Vĩnh Quyền vượt qua ngưỡng cửa gian khổ của một nhà văn khi chọn đề tài lịch sử. Tư liệu cổ dường như một căn phòng khép kín đối với các nhà văn trẻ. Đấy là một trong những nguyên nhân vắng vẻ tác giả tiểu thuyết lịch sử hiện nay.

Tiểu thuyết của Vĩnh Quyền đã tỏ ra khá bén nhạy với cái mới, với tính thời sự. Tất nhiên không thời sự nóng bỏng kiểu Cù Lao Tràm của nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn. Mà là thứ thời sự lọc qua tấm gương phản chiếu của lịch sử. Vĩnh Quyền đã nỗ lực nối liền trang viết - dù viết về những chuyện xảy ra non thế kỷ trước - với trang đời tươi nóng hôm nay. Như nhà văn Alêcxây Tônxtôi đã viết: Tiểu thuyết lịch sử không chỉ là đèn chiếu hậu của cỗ xe, soi lại chặng đường đã đi qua mà chính là ánh đèn pha soi sáng quãng đường phải vượt.

Vầng trăng ban ngày có thể xem là cuốn tiểu thuyết đầu tiên, mạnh dạn xây dựng một hoàng đế triều Nguyễn làm nhân vật tích cực. Sách viết từ năm 1983, bốn năm sau, chúng ta mới được chứng kiến lễ đón rước hài cốt nhà vua yêu nước Duy Tân về cố đô yên nghỉ nghìn thu. Mạch nước trong tái hiện phong trào Duy Tân của thế hệ nho sĩ đầu thể kỷ XX. Tác giả đã bắc được một nhịp cầu giữa quá khứ và hiện tại, khẳng định truyền thống khát vọng đổi mới của ông cha để chúng ta có chỗ tựa tinh thần vững chắc trong cuộc vận động đổi mới tư duy đang diễn ra vào những năm cuối thế kỷ XX.

Trong tiểu thuyết của Vĩnh Quyền, mối quan hệ máu thịt giữa Huế và Quảng Nam - Đà Nẵng diễn ra đúng như quy luật phát triển của lịch sử. Huế bấy giờ là kinh đô. Quảng Nam - Đà Nẵng là cửa ngõ của kinh đô Huế, là tỉnh có tầm quan trọng hàng đầu trong Tả trực kỳ. Mỗi biến cố, dù nhỏ hay lớn của Huế, đều trực tiếp dội vào Quảng Nam và ngược lại. Trong cuộc khởi nghĩa 1916, tổng lý Phan Bội Châu quyết định chọn Quảng Nam làm căn cứ địa nhưng cần con dấu Văn lý mật sát của nhà vua trẻ Duy Tân để phụng kim thượng vi an dân cơ sở, cần nổ phát súng thần công khai hỏa từ Phu Văn Lâu (Vầng trăng ban ngày). Chúng ta lại thấy Hội Duy Tân chọn Quảng Nam làm đại bản doanh vì: Quảng Nam đất rộng, giàu, lại nhiều nhân vật yêu nước có tài thao lược. Quảng Nam ở trung độ cả nước, dễ liên lạc. Muốn phát triển mối giao lưu vạn quốc cũng thuận tiện, Quảng Nam có cửa khẩu Hội An, Đà Nẵng... Nhưng các danh sĩ Quảng Nam bấy giờ như Tiểu La Nguyễn Thành, Thái Phiên, Châu Thượng Văn... đã liên kết chặt chẽ với Phan Bội Châu, Lê Võ... ở Thuận Hóa và phải tôn Kỳ ngoại hầu Cường Để làm minh chủ, dù chỉ trên danh nghĩa (Mạch nước trong).

Và, qua tiểu thuyết của Vĩnh Quyền, các nhà yêu nước và cách mạng Quảng Nam hầu hết đều dính líu tới Huế. Thái Phiên, Trần Cao Vân ra Huế vận động hoàng đế Duy Tân khởi nghĩa, bị hành hình tại bãi chém An Hòa và được chôn chung một mộ sau lưng chùa Châu Lâm. Nam Giao (Vầng trăng ban ngày). Các kiện tướng phong trào Duy Tân Quảng Nam: Trần Quý Cáp, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng đều ra Huế dự thí, tiếp xúc sĩ phu kinh kỳ và đều chịu ảnh hưởng tư tưởng Duy Tân của cậu ấm tàng tàng Nguyễn Lộ Trạch, một danh sĩ đất Thuận Hóa. Thời bấy giờ, kẻ sĩ gặp nhau, có câu hỏi đầu môi: "- Đọc Thiên hạ đại thế luận chưa?" Đó là một tác phẩm chính luận thiên tài của Nguyễn Lộ Trạch. Về sau, khi Trần Quý Cáp, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng Nam du đến Phan Thiết kinh ngạc khi biết Nguyễn Lộ Trạch, khoảng hai mươi năm trước, đã đặt bước chân giang hồ tận đây để gieo hạt giống Duy Tân! Và, như nhà văn Nguyễn Văn Bổng nhận xét, cuộc gặp gỡ giữa Phan Bội Châu - Trần Quý Cáp, Phan Châu Trinh- Trần Quý Cáp trên sông Hương là những trang văn đặc sắc của Vĩnh Quyền (Mạch nước trong)(2).

Tiểu thuyết của Vĩnh Quyền rất cụm. Có thể nối các quyển sách lại với nhau bởi trình tự thời gian, biến cố, nhân vật và nhất là bối cảnh Thuận-Quảng. Đọc một lúc ba cuốn tiểu thuyết của anh dễ có cảm giác đang đọc một bộ tiểu thuyết nhiều tập.

Từ đặc điểm đó, cũng dễ nhận thấy Vĩnh Quyền chưa thật đều tay. Chẳng hạn Vầng trăng ban ngày cổ kính hơn Mạch nước trong trong tự sự cũng như đối thoại mặc dù chuyện xảy ra trong Mạch nước trong đáng ra phải "cổ kính" hơn chuyện của Vầng trăng ban ngày!

Về mặt tư liệu, Vĩnh Quyền tỏ có ra ý thức tôn trọng sự thật lịch sử. Cảm giác mỗi trang văn của anh đều lấp lánh chững chi tiết quý trong quá khứ bị bụi thời gian che phủ. Nhưng rất tiếc, đôi chỗ anh xử lý tư liệu chưa thật khoa học, gây hạn chế không ít cho giá trị của tác phẩm, nhất là trong Vầng trăng ban ngày. Đến nay, có khá nhiều giả thuyết về cuộc hội kiến giữa Thái Phiên, Trần Cao Vân và hoàng đế Duy Tân. Nhưng các nhà viết sử có đủ cứ liệu để chứng minh cuộc hội kiến ấy xảy ra ở Hậu Hồ chứ không phải Hồ Tịnh Tâm. Và trong Trước buổi rạng đông, nhà xuất bản tư tưởng mới của chi bộ Đà Nẵng thành lập sau khi hiệu sách Việt Quảng đã dời địa điểm chứ không phải ở đường Courbet... Nhưng, việc xác minh tư liệu lịch sử ở nước ta trong tình hình hiện nay là điều nói... không cùng!

Những gì Vĩnh Quyền đã đóng góp đều đáng quý. Riêng Mạch nước trong có thể xếp vào hàng những cuốn tiểu thuyết lịch sử hay xuất bản từ trước tới nay. Vĩnh Quyền còn trẻ, con đường sáng tạo nghệ thuật trước mắt anh còn dài và đầy thử thách. Anh có thời gian và điều kiện vượt qua những thiếu sót trong chặng đường viết văn vừa qua. Mong được đọc tác phẩm mới của Vĩnh Quyền trong một ngày gần đây với những thành công mới.

T.S
(SH28/12-87)

-------------------------
(1) Vầng trăng ban ngày - Kim Đồng, Trước buổi rạng đông - Phụ nữ, Mạch nước trong - Thanh niên, Người tử tù không chết - Đà Nẵng.
(2) Nguyễn Văn Bổng "Đọc tiểu thuyết Mạch nước trong". Văn nghệ số 50.- 1986.








 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNGKể từ tập thơ đầu tay (Phía nắng lên in năm 1985), Huyền thoại Cửa Tùng (*) là tập thơ thứ mười (và là tập sách thứ 17) của Ngô Minh đã ra mắt công chúng. Dù nghề làm báo có chi phối đôi chút thì giờ của anh, có thể nói chắc rằng Ngô Minh đã đi với thơ gần chẵn hai mươi năm, và thực sự đã trở thành người bạn cố tri của thơ, giữa lúc mà những đồng nghiệp khác của anh hoặc do quá nghèo đói, hoặc do đã giàu có lên, đều đã từ giã “nghề” làm thơ.

  • Võ Quê được nhiều người biết đến khi anh 19 tuổi với phong trào xuống đường của học sinh, sinh viên các đô thị miền Nam (1966). Lúc đó, anh ở trong Ban cán sự Sinh viên, học sinh Huế. Võ Quê hoạt động hết sức nhiệt tình, năng nổ bất chấp nguy hiểm với lòng yêu nước nồng nàn và niềm tin sắt đá vào chính nghĩa.

  • PHẠM PHÚ PHONGThỉnh thoảng có thấy thơ Đinh Lăng xuất hiện trên các báo và tạp chí. Một chút Hoang tưởng mùa đông, một Chút tình với Huế, một chuyến Về lại miền quê, một lần Đối diện với nỗi buồn, hoặc cảm xúc trước một Chiếc lá rụng về đêm hay một Sớm mai thức dậy... Với một giọng điệu chân thành, giản đơn đôi khi đến mức thật thà, nhưng dễ ghi lại ấn tượng trong lòng người đọc.

  • ĐẶNG TIẾNNhà xuất bản Trẻ, phối hợp với Công ty Văn hoá Phương Nam trong 2002 đã nhẩn nha ấn hành Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường, trọn bộ bốn cuốn. Sách in đẹp, trên giấy láng, trình bày trang nhã, bìa cứng, đựng trong hộp giấy cứng.

  • NGUYỄN ĐỨC TÙNG(Tiếp theo Sông Hương số 244 tháng 6-2009)Mến tặng các nhà văn Tô Nhuận Vỹ, Khánh Phương, Trần Thị Trường, cháuDiệu Linh, và những người bạn khác,lớn lên trong những hoàn cảnh khác.

  • NGUYỄN THỤY KHANhà thơ Quang Dũng đã tạ thế tròn 15 năm. Người lính Tây Tiến tài hoa xưa ấy chẳng những để lại cho cuộc đời bao bài thơ hay với nhịp thơ, thi ảnh rất lạ như "Tây Tiến", "Mắt người Sơn Tây"... và bao nhiêu áng văn xuôi ấn tượng, mà còn là một họa sĩ nghiệp dư với màu xanh biểu hiện trong từng khung vải. Nhưng có lẽ ngoài những đồng đội Tây Tiến của ông, ít ai ở đời lại có thể biết Quang Dũng từng viết bài hát khi cảm xúc trên đỉnh Ba Vì - quả núi như chính tầm vóc của ông trong thi ca Việt Nam hiện đại. Bài hát duy nhất này của Quang Dũng được đặt tên là "Ba Vì mờ cao".

  • HOÀNG KIM DUNG      (Đọc trường ca Lửa mùa hong áo của Lê Thị Mây)Nhà thơ Lê Thị Mây đã có nhiều tập thơ được xuất bản như: Những mùa trăng mong chờ, Dịu dàng, Tặng riêng một người, Giấc mơ thiếu phụ, Du ca cây lựu tình, Khúc hát buổi tối, v.v... Chị còn viết văn xuôi với các tập  truyện: Trăng trên cát, Bìa cây gió thắm, Huyết ngọc, Phố còn hoa cưới v.v...Nhưng say mê tâm huyết nhất với chị vẫn là thơ. Gần đây tập trường ca Lửa mùa hong áo của nhà thơ Lê Thị Mây đã được nhà xuất bản Quân đội nhân dân ấn hành. (quý IV. 2003)

  • PHẠM PHÚ PHONGTrước khi có Hoa nắng hoa mưa (NXB Thanh Niên, 2001), Hà Huy Hoàng đã có tập Một nắng hai sương (NXB Văn Nghệ TP Hồ Chí minh, 1998) và hai tập in chung là Một khúc sông Trà (NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh) và Buồn qua bóng đuổi (NXB Văn hoá Dân tộc, 2000). Đã có thơ đăng và giới thiệu trên các báo Văn nghệ Trẻ, Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, Lao động, Người lao động, các tập san, tạp chí Thời văn, Tiểu thuyết thứ bảy, Cẩm thành hoặc đăng trong các tuyển thơ như Hạ trong thi ca (1994), Lục bát tình (1997), Thời áo trắng (1997), Ơn thầy (1997), Lục bát xuân ca (1999)...

  • Hoàng Phủ Ngọc Tường. Sinh ngày 9 tháng 9 năm 1937. Quê ở Triệu Long, Triệu Hải, Quảng Trị. Năm 1960, tốt nghiệp khóa I, ban Việt Hán, Trường đại học Sư phạm Sài Gòn. Năm 1964, nhận bằng cử nhân triết Đại học Văn khoa Huế. Năm 1960 - 1966, dạy trường Quốc Học Huế. Từng tham gia phong trào học sinh, sinh viên và giáo chức chống Mỹ - ngụy đòi độc lập thống nhất Tổ quốc. Năm 1966 - 1975, nhà văn thoát li lên chiến khu, hoạt động ở chiến trường Trị Thiên. Sau khi nước nhà thống nhất, từng là Chủ tịch Hội Văn nghệ Quảng Trị, Tổng biên tập Tạp chí Cửa Việt.

  • ANH DŨNGLTS:  Kết hợp tin học với Hán Nôm là việc làm khó, càng khó hơn đối với Phan Anh Dũng - một người bị khuyết tật khiếm thính do tai nạn từ thuở còn bé thơ. Bằng nghị lực và trí tuệ, anh đã theo học, tốt nghiệp cử nhân vật lý lý thuyết trường Đại học Khoa học Huế và thành công trong việc nghiên cứu xây dựng hoàn chỉnh bộ Phần mềm Hán Nôm độc lập, được giải thưởng trong cuộc thi trí tuệ Việt Nam năm 2001.Sông Hương xin giới thiệu anh với tư cách là một công tác viên mới.

  • SƠN TÙNGLTS: Trong quá trình sưu tầm, tuyển chọn bài cho tập thơ Dạ thưa Xứ Huế - một công trình thơ Huế thế kỷ XX, chúng tôi nhận thấy rằng, hầu hết các nhà thơ lớn đương thời khắp cả nước đều tới Huế và đều có cảm tác thơ. Điều này, khiến chúng tôi liên tưởng đến Bác Hồ. Bác không những là Anh hùng giải phóng dân tộc, là danh nhân văn hoá thế giới mà còn là một nhà thơ lớn. Các nhà thơ lớn thường bộc lộ năng khiếu của mình rất sớm, thậm chí từ khi còn thơ ấu. Vậy, từ thời niên thiếu (Thời niên thiếu của Bác Hồ phần lớn là ở Huế) Bác Hồ có làm thơ không?Những thắc mắc của chúng tôi được nhà văn Sơn Tùng - Một chuyên gia về Bác Hồ - khẳng định là có và ông đã kể lại việc đó bằng “ngôn ngữ sự kiện” với những nhân chứng, vật chứng lịch sử đầy sức thuyết phục.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊAnh Hoài Nguyên, người bạn chiến đấu của nhà văn Thái Vũ (tức Bùi Quang Đoài) từ thời kháng chiến chống Pháp, vui vẻ gọi điện thoại cho tôi: “Thái Vũ vừa in xong TUYỂN TẬP đó!...” Nhà văn Thái Vũ từng được bạn đọc biết đến với những bộ tiểu thuyết lịch sử đồ sộ như “Cờ nghĩa Ba Đình” (2 tập - 1100 trang), bộ ba “Biến động - Giặc Chày Vôi”, “Thất thủ kinh đô Huế 1885”, “Những ngày Cần Vương” (1200 trang), “Thành Thái, người điên đầu thế kỷ” (350 trang), “Trần Hưng Đạo - Thế trận những dòng sông” (300 trang), “Tình sử Mỵ Châu” (300 trang)... Toàn những sách dày cộp, không biết ông làm “tuyển tập” bằng cách nào?

  • MINH QUANG                Trời tròn lưng bánh tét                Đất vuông lòng bánh chưng                Dân nghèo thương ngày Tết                Gói đất trời rưng rưng...

  • NGUYỄN THỊ THÁITôi không đi trong mưa gió để mưu sinh, để mà kể chuyện. Ngày ngày tôi ngồi bên chiếc máy may, may bao chiếc áo cho người. Tôi chưa hề may, mà cũng không biết cách may một chiếc Yêng như thế nào.

  • Nhà thơ Hải Bằng tên thật là Vĩnh Tôn, sinh ngày 3 tháng 2 năm 1930, quê ở thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông mất ngày 7 tháng 7 năm 1998.

  • NGUYỄN VĂN HOACuốn sách: "Nhớ Phùng Quán" của Nhà xuất bản Trẻ, do Ngô Minh sưu tầm, tuyển chọn và biên soạn với nhiều tác giả phát hành vào quý IV năm 2003. Cuốn sách có 526 trang khổ 13x19cm. Bìa cứng, in 1000 cuốn. Rất nhiều ảnh đẹp của Nguyễn Đình Toán - nhà nhiếp ảnh chân dung nổi tiếng của Việt nam. Đơn vị liên doanh là Công ty Văn hoá Phương Nam.

  • ĐÀ LINHĐể có trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ, trước đó quân đội Nhân dân Việt Nam đã có những trận đánh để đời mở ra những khả năng to lớn về thế và lực cho chúng ta. Trong đó Trận chiến trên đường (thuộc địa) số 4 - biên giới Cao Bắc Lạng 1950 là một trận chiến như vậy.

  • HOÀNG VĂN HÂNLướt qua 30 bài thơ của Ngô Đức Tiến trong “Giọng Nghệ”, hãy dừng lại ở những bài đề tài tình bạn. Với đặc điểm nhất quán, bạn của anh luôn gắn liền với những hoài niệm, với những địa chỉ cụ thể, về một khoảng thời gian xác định. Người bạn ấy hiện lên khi anh “nghĩ về trường” “Thăm trường cũ”, hoặc là lúc nhớ quá phải “Gửi bạn Trường Dùng” “ Nhớ bạn Thanh Hoá”. Bạn của anh gắn với tên sông, tên núi: sông Bùng, sông Rộ, Lạt, Truông Dong, Đồng Tháp.

  • FAN ANHTrên thế gian này tồn tại biết bao nhiêu báu vật, hoặc những huyền thoại về báu vật, thì cũng gần như hiện hữu bấy nhiêu nỗi đau và bi kịch của con người vốn dành cả cuộc đời để kiếm tìm, bảo vệ, chiếm đoạt hay đơn giản hơn, đặt niềm tin vào những báu vật ấy. Nhẫn thạch (Syngué sabour - Pierre de patience) của Atiq Rahimi trước tiên là một báu vật trong đời sống văn học đương đại thế giới, với giải thưởng Goncourt năm 2008, sau đó là một câu chuyện về một huyền thoại báu vật của những người theo thánh Allad.

  • KIM QUYÊNSinh năm 1953 tại Thừa Thiên (Huế), tốt nghiệp Đại học Sư phạm Huế năm 1976, sau đó về dạy học ở Khánh Hoà (Nha Trang) hơn 10 năm. Từ năm 1988 đến nay, nhà thơ xứ Huế này lại lưu lạc ở thành phố Hồ Chí Minh, tiếp tục làm thơ và viết báo. Chị là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hiện nay là biên tập viên Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật của Sở Thông tin Văn hoá thành phố Hồ Chí Minh.