Viện sỹ Viện Hàn Lâm Pháp François Cheng - “tôi là kẻ hành hương trên thế gian”

16:04 18/03/2013

HIỆU CONSTANT

Cuộc đời và sự nghiệp
François Cheng sinh năm 1929 tại thành phố Nam Xương. Ông là nhà văn, nhà thơ, dịch giả, nhà nghiên cứu thư pháp, giáo sư đại học tại Pháp.

Nhà văn François Cheng - Ảnh: internet

Xuất thân từ một gia đình trí thức Trung Hoa, thuở niên thiếu François Cheng theo học tại Trùng Khánh trong những năm 1937 - 1945. Sau vài lần loạn lạc do cuộc Nội chiến và chiến tranh Tàu - Nhật diễn ra tại Trung Quốc trong thời kỳ này, ông bắt đầu cuộc đời sinh viên tại Nam Kinh. Theo cha đến Pháp năm 1948, do cha của ông được bổ nhiệm đến làm việc tại UNESCO. Nhập quốc tịch Pháp năm 1971. Thấm nhuần hai nền văn hóa Đông - Tây, sau khi thành công luận án tiến sĩ, ông cho xuất bản những nghiên cứu của mình về thơ ca và nghệ thuật Trung Hoa. Cho đến tận năm 1977, phần nhiều các tác phẩm của ông vẫn viết bằng tiếng Trung và xuất bản tại Đài Loan và Hồng Kông. Cùng thời gian đó, ông dịch thơ tiếng Trung sang tiếng Pháp và ngược lại. Phải đợi đến năm 1960, ông mới thực sự có công việc ổn định ở Trung tâm nghiên cứu Ngôn ngữ Á đông tại trường Cao học Khoa học Xã hội và Văn minh phương Đông. Kể từ đó, ông theo đuổi song song sự nghiệp giáo sư đại học và văn chương. Năm 1974, ông được bổ nhiệm chức phó giáo sư tại viện Ngôn ngữ quốc gia và Văn minh Á đông. Tác phẩm tiểu thuyết đầu tay có tên Le Dit Tianyi (Chuyện của Tianyi), xuất bản năm 1998 và đã giật ngay giải Fémina - một trong những giải thưởng Văn học danh giá của Pháp. Năm 2000, ông giật giải Roger Caillois cho những tập truyện ký và tập thơ Double Chant của mình. Năm 2001, trước khi được bầu vào Viện Hàn Lâm, ông đã được Viện này trao Giải thưởng lớn của khối Pháp ngữ, dành cho toàn bộ sự nghiệp văn chương của tác giả. Tháng 6/2002 chính thức là thành viên viện Bất Tử và là chủ nhân thứ hai mươi của phô tơi số 34 tại đây. Ông là thành viên của Ủy ban thượng nghị khối Pháp ngữ. Năm 2008, ông là thành viên danh dự của Tổ chức Chirac I - một tổ chức phi chính phủ vì hòa bình trên toàn cầu. Ông cũng là thành viên danh dự của hiệp hội Quan sát Di sản Tôn giáo, một tổ chức đa tôn giáo nhằm bảo tồn và phổ biến Di sản văn hóa Pháp. Là một người khá đặc biệt, ông không thích làm việc trong sự tĩnh lặng và đơn độc. Chính vì vậy, đã có lúc người ta bắt gặp ông lấy vé tàu khứ hồi đi đâu đó rất xa, rồi quay về ngay… chỉ đơn giản vì ông thích làm việc trong trạng thái động của con tàu!

Trong bài phát biểu tại lễ tấn phong của mình vào viện bất tử, ông gợi lại cuộc hành hương của Đường Tam Tạng sang Tây Trúc thỉnh kinh trước khi nói về sự nghiệp và những đam mê của mình đối với ngôn ngữ Pháp và văn chương. Ông ví đó cũng hệt như một sự dò dẫm tìm đường của một kẻ hành hương: “…Theo cách rất khiêm tốn của mình, tôi luôn luôn tâm đắc trước ý tưởng hành hương này. Từ thuở hoa niên, khi còn ở Trung Quốc, vì đã phải lang thang rất nhiều do những cuộc tao loạn và các sự kiện đã ghi dấu trong lịch sử, thì tôi đã có thiên hướng tự thấy mình như là một kẻ hành hương, từ Đông sang Tây và cuối cùng là hành hương trên khắp thế gian”. Ông coi ngôn ngữ Pháp như là “một thứ vũ khí và tâm hồn” cho sự sáng tạo của mình. “Đó là một ngôn ngữ quá đỗi thân thương nối liền cuộc sống nội tâm cũng như đời sống nghề nghiệp của tôi. Nó như một vật biểu tượng cho vận mệnh của chính tôi. Nó đã tạo cho tôi một bước lùi cần thiết so với nền văn hóa gốc của tôi và với những kinh nghiệm sống mà tôi đã trải qua, và cuối cùng nó tạo cho tôi khả năng xem xét lại toàn bộ đại cục để chuyển đổi thành một hành động sáng suốt trong sự tái-sáng tạo…”.

Từ sự tha hương của ông, từ cuộc sống bấp bênh trong nhiều năm, từ sự kiên trì và miệt mài làm việc và nhất là tình yêu đối với ngôn ngữ… đã tạo lên một François Cheng khiêm tốn nhưng lại sở hữu một trí tuệ lớn và sự hiểu biết phi thường. Ông nói “Trên hành tinh sống động này, chỉ có nghề viết mới cho phép ta trải lòng thành với tất cả khi ta còn đang sống. Pha trộn giữa đạo Lão và thuyết Platon, qua cách tự học hỏi của mình, ông đã liên kết truyền thống của hai nền văn hóa, dữ dội và đầy đam mê.

Là một nhà thơ viết tiểu thuyết, nên lời văn của ông khi đọc, chúng vang lên tựa những câu thơ và đậm đặc hình ảnh. Bởi theo ông “ngoài những con chữ thì còn có âm thanh và giai điệu của những vần thơ.

Các tác phẩm


Ngoài các tác phẩm dịch, tác phẩm thơ, ký…, tác phẩm Chuyện của Tianyi (Le dit Tianyi) đoạt giải Fémina 1998. Đây là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của ông. Chuyện của Tianyi viết về một tình bạn đậm màu bi thương nhưng vô cùng keo sơn giữa Tianyi và Haolang xảy ra trong thế kỷ XX. Tianyi, là bạn từ thuở niên thiếu của Haolang, đó là một người hâm mộ Gide, một nhà thơ và nhất là rất tin tưởng vào cuộc cách mạng của chủ nghĩa Cộng sản. Đây là một cặp bạn mà tính cách rất khác nhau, nhưng họ lại bổ trợ cho nhau. Tianyi sinh năm 1925 bên bờ sông Dương Tử (Yangtzé), dưới chân dãy Lu có đỉnh núi luôn chìm trong mây mù: “Mây và sương mù của đỉnh Lu, rất nổi tiếng đến nỗi mà chúng đã đi vào câu ngạn ngữ để chỉ một sự huyền bí mà ta không sao nắm bắt nổi, một vẻ đẹp tiềm ẩn nhưng lại khiến con người ta mê mẩn. Bằng những động tác đỏng đảnh, bất ngờ khó đoán trước, bằng màu sắc bất định, hồng hoặc tía, xanh ngọc hoặc xám bạc, chúng biến đổi cả một vùng đồi núi tựa như một thứ ảo thuật….

Cậu thiếu niên Tianyi ngày xưa đã yêu say đắm thiếu nữ Yumei đến nỗi mà cậu họa ra bức tượng chân dung bán thân của nàng: “Trong một niềm cảm xúc phấn khích, tôi bộc lộ từng nét từng nét điều tôi nhìn thấy trong nội tâm mình. Khuôn mặt trái xoan đậm vẻ tinh khiết của ngọc, khuôn miệng đầy đặn và nhạy cảm phảng phất sự quyến rũ nhục dục được kìm nén, cặp mắt sâu thẳm tỏa ra sự ngỡ ngàng thơ ngây khiến cho sự huyền bí nơi nàng càng tăng thêm… Tôi càng họa rõ hình ảnh nàng bao nhiêu thì tôi lại càng trút được gánh nặng đang dần bóp nghẹt tôi bấy nhiêu…. Rồi Haolang đã tháp tùng Tianyi đi khắp một phần lớn lãnh thổ bao la của Trung Hoa lục địa thời tao loạn để đến gặp Yumei, mà lúc này cô đã trở thành một diễn viên trong một đoàn kịch… Tianyi, Haolang, Yumei, ba con người, ba số phận, ba câu chuyện được pha trộn một cách tài tình. Bi kịch của tình yêu, tình bạn được xây trên nền bi kịch của lịch sử: bi kịch của dân tộc trung Hoa trong thời kỳ chiến tranh Nhật - Tàu, cuộc đại cách mạng và cuộc cách mạng văn hóa.

Một cuốn tiểu thuyết được viết hệt như một bản trường ca, một bức tranh sống động, đậm nét thơ và chấm phá của họa. François Cheng khi viết tác phẩm này đã có cái nhìn của một danh họa, một triết gia theo đạo Lão và Đường Đi. Một đường đi mà ta chỉ có thể nắm bắt được qua thiên nhiên.

Bất Tử (L’éternité n’est pas de trop) (Nxb. Albin Michel, 2002) một câu chuyện diễn ra vào thế kỷ XVII, cuối thời nhà Minh ở Trung Quốc, một giai đoạn lịch sử đầy tao loạn và chuyển đổi. Thời kỳ mà chính Tây phương cũng hiện diện tại Trung Hoa lục địa thông qua việc phái các thầy dòng đi truyền đạo. Bất Tử kể về câu chuyện tình của Dao Sheng, một người đã phải trải qua nhiều đoạn đời khác nhau. Còn nhỏ đã bị bán cho một gánh hát rong để chơi đàn vỹ cầm, rồi bị tống giam do đã dám cười với thiếu nữ Lang-Ying, vốn đã được hứa gả bán cho lãnh chúa Zhao. Qua bao khổ ải, cuối cùng Dao Sheng đã tìm được nơi ẩn dật trong một tu viện đạo Lão. Tại đây, anh học được nghề thuốc đông y và nghề thầy bói. Đến lúc phải tuyên thệ nhập đạo thì anh quyết định ra đi tìm lại người phụ nữ mà anh chưa bao giờ thôi thương nhớ kể từ ba mươi năm nay, kể từ lần gặp mặt đầu tiên. Cuộc hội ngộ đã diễn ra, niềm đam mê được chia sẻ, dẫu rằng những trở ngại và thử thách còn đang chờ đợi đôi tình nhân ở phía trước. Phu nhân Ying, bị ông chồng tàn ác và đồi trụy bỏ rơi, đang chết dần vì sầu muộn. Trong khuôn mặt đã được hóa trang kỹ lưỡng, trà trộn trong đám ăn mày rách rưới đứng trước cổng phủ chờ phu nhân Ying ra phát cháo từ thiện, Dao Sheng bị rúng động trước cảnh tàn tạ của người tình. Kể từ đó ông ra sức chữa trị, đưa bà trở về với cuộc sống. Ông rốt cuộc cũng bị bà nhận ra. Bà đã không sao quên được chàng nghệ sĩ vỹ cầm đã gặp mặt mấy chục năm về trước. Làn gió tình yêu bắt đầu thổi đến bao bọc họ. Từ đây, tác phẩm bắt đầu một sự ham muốn bất tận. Niềm hạnh phúc hòa mình trong ham muốn. Một nụ cười, chỉ cần một nụ cười của nhau cũng khiến họ được thỏa mãn.

Một câu chuyện được giới bình luận văn chương Pháp ví như “Tristan và Iseutl” theo phiên bản Trung Hoa. Nhưng trên thực tế, Bất Tử còn đi xa hơn thế. Mối tình bị cấm đoán giữa Dao Sheng và Ying phu nhân còn vượt qua cả tình yêu thể xác và chỉ rõ sức mạnh vô biên của tinh thần mà đạo Lão gọi là “Hơi thở”, còn Thiên chúa giáo thì gọi là “Tâm hồn”. Thành công của tác phẩm chính là sự tài tình trong lối viết về sự chờ đợi, lúc khắc khoải đớn đau, lúc dữ dội mãnh liệt. Từ sự rùng mình đến cái mơn chớn, sự gợi tình tăng dần khi xuất hiện sự khước từ. Niềm say đắm được diễn đạt hết sức tinh tế, tình yêu “còn mạnh hơn cả Trời và Đất” bởi “Sen mọc trong ao nhưng chẳng có vết bùn nào có thể làm vấy bẩn những cánh hoa tinh khiết như ngọc của nó”… Tình yêu là thứ có thể khiến ta vượt lên chính mình. Nó dẫn ta đến sự hiểu biết và khéo léo.

Một câu chuyện tình vượt thời gian và tuyệt vời, đầy chiêm nghiệm, khiết tịnh và cùng lúc rất mãnh liệt, thoát khỏi sự màu mè sáo rỗng. Ta có thể đọc Bất Tử như là đọc về một mối quan hệ tình yêu hoàn toàn thuần khiết và thanh tao, nhưng cũng có thể đọc nó như là một mối quan hệ thân xác điên khùng gàn dở. Lại càng dữ dội hơn khi mối tình đó được nuôi dưỡng bằng một ngọn lửa ham muốn mà chưa bao giờ được thực hiện.

Tác phẩm Năm điều chiêm nghiệm về vẻ đẹp (Cinq méditations sur la beauté), (Nxb. Albin Michel, 2006), được viết sau những bài giảng, tranh luận trước các hội nghị văn chương. Với ông, vẻ đẹp là trạng thái của lòng nhân ái, sự bao dung và độ lượng, và ta chỉ có thể nhận ra nó qua con người. Để nói về vẻ đẹp, thì điều cần thiết là phải trực tiếp gặp gỡ. Theo ông: “Điều chắc chắn để nhận ra vẻ đẹp thì trước tiên phải xem lại chính mình. Vẻ đẹp không tự nó đến như một món nợ phải trả, mà ta nên tùy theo tâm trạng của mình mà cảm nhận nó. Do vậy để cảm nhận được “hơi thở” của bên ngoài thì trước tiên ta cần trút bỏ những nỗi niềm trong mình để “…không nghĩ gì hết, không gà gật, mà tiếp nhận mọi sự đúng hệt như chúng xảy đến vậy. Vẻ đẹp thực sự thì hình như không vụ lợi và thường là cho không, và hơn thế nữa, nó được xây trên lòng nhân ái. Một cử chỉ tao nhã là một hồng ân, là một món quà của bản lai sống dành cho con người. Vẻ đẹp xuất hiện ở khắp nơi, ngay cả trong những khu ổ chuột, tại đó, vẻ đẹp không phải là một sự sang trọng, nhưng đó là điều cần thiết cho mỗi người, bao gồm cả những kẻ tay trắng. Vẻ đẹp tồn tại trong nụ cười của một đứa trẻ, hay trong ánh mắt của một bà mẹ. Vẻ đẹp là niềm mong muốn ao ước hướng về người khác. Một vẻ đẹp mà không được xây trên tấm lòng nhân ái thì liệu nó có tồn tại được mãi không? Theo ông thì không, đó thậm chí còn rất xấu. Vẻ đẹp mà được sử dụng phục vụ cho chết chóc thì luôn bị cái xấu xa của tâm hồn khích lệ. Ngược lại, bất kỳ khuôn mặt nào, bằng lòng nhân ái của mình, thì đều đẹp. “Hãy thử xem, thậm chí lúc đi tàu điện ngầm, khi quan sát những khuôn mặt: nếu bạn lặng ngắm một khuôn mặt khiêm nhường thì bạn sẽ thấy là nó rất đẹp đấy”. Ông trích dẫn câu nói của Henri Bergon: “Cấp bậc tối thượng của vẻ đẹp là sự đài các, và trong chính từ “đài các” này mà ta nghe được âm thanh của lòng nhân ái, bởi nhân ái là sự hào phóng của một bản lai sống mà tự nó hiến dâng vô thời hạn. Vậy, qua từ “đài các” thì vẻ đẹp và lòng nhân ái đã hòa làm một. Và theo ông: “Thật là kỳ diệu, từ “đài các” trong tiếng Pháp cùng lúc đều nói về vẻ đẹp và lòng nhân ái, từ này đến từ latin: bellus và bonus, và “đài các” cũng đến từ một từ duy nhất trong tiếng Ấn - Âu dewnos. Trong tiếng Trung có từ “Hảo” (theo ký hiệu ghi ý), được viết bằng hai yêu tố: người phụ nữ và đứa trẻ, khi được ghép cùng với nhau, từ này cũng có chung ý nghĩa: vẻ đẹp và lòng nhân ái. Để kết luận, tôi nói rằng lòng nhân ái là vật đảm bảo cho phẩm chất của vẻ đẹp. Và rằng lòng nhân ái tỏa ra vẻ đẹp và khiến cho vẻ đẹp đó được người ta ham muốn. Phụ nữ đã nhầm khi nghĩ rằng vẻ đẹp của họ là một thứ tài sản cần phải trau truốt vun trồng hệt như một tấm mề đay mà họ sẽ là chủ sở hữu. Hơn nữa, mỗi cá nhân con người là duy nhất, mỗi vẻ đẹp đều có tính đặc biệt riêng của nó, và không hề tồn tại một “quả bom” sắc đẹp nào hết…”.

Điều làm lên vẻ đẹp của con người, theo ông, thuộc về công việc của tâm tưởng. Tâm tưởng khích lệ cuộc sống nội tâm của mỗi con người. Còn đường nét ngoại hình, ít nhiều dễ coi, ít nhiều xinh đẹp hay rắn rỏi thì cũng chỉ là điều thêm thắt đi kèm mà thôi.

Khi các linh hồn lang thang trở về (Quand reviennent les âmes errantes) (Albin Michel, 2012) được viết về một mối tình thật đẹp. Tác giả lấy bối cảnh lịch sử của thế kỷ III (TCN). Đây là một tác phẩm chiêm nghiệm về tình yêu gồm ba nhân vật chính Chun-Niang, Jung Ko và Gao Jian-li. Bị cha mẹ bán cho một cặp vợ chồng chủ quán từ khi còn rất nhỏ. Chun Niang-li là một thiếu nữ với vẻ đẹp thuần khiết quý phái, tâm hồn nàng, tựa như một ánh lửa nến mà không có bão giông nào có thể dập tắt, đã thu hút những kẻ anh hùng hào kiệt lang thang. Nàng than thở “Tôi ngỡ đã bị Trời cao bỏ rơi khi hai người đàn ông đó xuất hiện trong đời tôi”. Một tối, GaoJiang-li, một nhạc sĩ lang thang đẩy cánh cửa quán trọ, và sau anh vài phút là Jing Ko, một kẻ đâm thuê chém mướn, hành tẩu giang hồ, cũng bước vào. Khi nhìn thấy Chun Niang thì cả hai đều hiểu ngay rằng đời họ từ đây sẽ rẽ sang một ngả khác. Vẻ đẹp của nàng đã khiến họ mong được làm người hoàn hảo nhất. Xung quanh họ lúc này, thế giới đã đổi màu và trở nên nồng hậu biết bao. Cuộc đời mở rộng vòng tay đón chào họ. Nhưng thói đời thường diễn ra trái ngược hẳn với những gì ta mong đợi, nhất là khi ta hạnh phúc. Chun Niang được tuyển vào cung làm tỳ thiếp hoàng gia. Jing Ko được tuyển mộ làm cận vệ cho hoàng tử, và được người này đề nghị hy sinh mình cứu Chúa khi phái anh đi giết vua Zhen, một kẻ bạo chúa khát máu. Nhưng kể từ khi gặp Chun Niang, người hùng chiến binh này đã mất nhuệ khí chém giết, và đã trở thành một con người biết yêu quý cuộc sống của người khác. Đây là một tác phẩm trữ tình đầy bi kịch. Ba nhân vật chính đến với nhau bằng tình yêu và tình bạn này phải đối đầu với bạo lực của lịch sử. Tác phẩm gồm những trang độc thoại, mỗi nhân vật lần lượt thổ lộ những tâm tư nỗi niềm của mình. Tác phẩm khiến ta suy nghĩ về đam mê của loài người. Đam mê tình bạn, tình yêu, nhưng cũng còn có đam mê quyền lực, tiền tài danh vọng, quyền ngự trị và sở hữu. “Một tình bạn hay thậm chí một tình yêu, thì đó cũng chính là do tâm hồn nuôi dưỡng và tỏa sáng chúng” hoặc “Sự vắng bóng càng dài và khắc khoải bao nhiêu thì mong muốn chờ đợi càng dữ dội bấy nhiêu, và chỉ cần có sự hội ngộ thì những con tim say đắm sẽ lại hòa nhịp cùng nhau mà không gì có thể cưỡng nổi. Tâm hồn là gì ư? Thì chính vì nó mà vẻ đẹp thực sự của một cơ thể được tỏa sáng, cũng chính vì nó mà trên thực tế, những cơ thể say đắm nhau mong muốn được chia sẻ cùng nhau…”.

Một số tác phẩm tiêu biểu khác của ông:

Phân tích hình thức của tác phẩm thi ca của một tác giả Tang Zhang (Analyse formelle de l’œuvre poétique d’un auteur des Tang Zhang) (Tiếng Trung, Nxb. Ruoxu, 1970).

Chiếc xe kéo (Le Pousse-pousse), của Lão Tử (dịch) 1973.

Phương thức viết thơ Trung Hoa (L’Écriture poétique chinoise), (Nxb. Seuil, 1977).

Đầy và Vơi: Ngôn ngữ hội họa Trung Hoa (Vide et plein: le langage pictural chinois), (Nxb. Seuil, 1979).

Bảy nhà thơ lớn của Pháp (Sept poètes français), 1993.

Henri Michaux, cuộc đời và sự nghiệp (Henri Michaux, sa vie, son œuvre), 1984.

Zhu Da, thần đồng về khắc họa đường nét (Chu Ta le génie du trait), Nxb. Phébus, 1986.

Some Reflections on Chinese Poetic Language and its Relation to Chinese Cosmology dans The Vitality of the Lyric Voice, 1986.

The Reciprocity of Subject and Object in Chinese Poetic Language dans Poetics East and West, 1988.

Hơi thở - Tâm Tưởng
(Souffle-Esprit), Nxb. Seuil, 1989.

Ba mươi sáu bài thơ tình (Trente-six poèmes d’amour, poèmes), Nxb. Unes, 1997.

Hội thoại, một đam mê dành cho ngôn ngữ Pháp (Le Dialogue, Une passion pour la langue française), 2002.

À l’orient de tout, poèmes, (Nxb. Gallimard, 2005).

Hướng về người khác (L’Un vers l’autre), (Nxb. Albin Michel, 2008).

Để kết thúc bài viết xin trích đăng lá thư của cựu Tổng thống Pháp, Jacques Chirac, khi ấy còn đương nhiệm gửi tới Viện Bất Tử vào ngày François Cheng được tấn phong: “Khi bầu François Cheng, viện Hàn Lâm Pháp đã lựa chọn đón nhận một nhà văn vỹ đại, một nhân vật hiếm có, “một con người không thành kiến và không hề đeo trên mình bất kỳ vỏ bọc nào”, hệt như ông đã tự đánh giá mình như thế. Tôi đặc biệt cảm thấy vui sướng trước sự lựa chọn này, bởi điều đó đem lại sự vẻ vang cho viện Hàn Lâm và sự vẻ vang cho nước Pháp. Từ sự tha hương của mình, từ sự khai thác tận cùng các hướng đi để dẫn đến tình yêu đích thực, từ chặng đường từ Đông sang Tây của mình, François Cheng đã xây dựng một sự nghiệp văn chương dồi dào phong phú đa dạng, sâu sắc và nhạy cảm. Một sự nghiệp văn chương mang tính toàn cầu. Là một triết gia, thi sĩ, dịch giả của những nhà thơ nổi tiếng nhất mọi thời đại của Pháp, nhà nghiên cứu và thực hành thư pháp tên tuổi, François Cheng là một nhà hiền triết của thời đại chúng ta. Việc ông được bầu vào viện Hàn Lâm là bằng chứng minh họa hoàn hảo nhất cuộc tranh đấu vì sự đa dạng và hội thoại giữa các nền văn hóa, mà đó chính là cuộc tranh đấu của nước Pháp.

Paris 25/01/2013
H.C
(SH289/03-13)


>>"Dàn đồng ca" - Trích từ tác phẩm Khi những linh hồn lang thang trở về - Hiệu Constant chuyển ngữ




 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • THANH TÙNG            Ghi chépRa giêng Canh Dần, tết nhất vừa xong, tình cờ lướt mạng thấy Vitours đang mời đối tác tham gia famtrip Khám phá Cố đô Vương quốc Thái Lan và Tam giác Vàng. Tôi đăng ký ngay, dù chỉ còn 3 ngày nữa là khởi hành.

  • THU TRANG (Pháp)Vài tháng nay ở Pháp đã rộn ràng xảy ra nhiều chuyện đáng để chúng ta suy nghĩ. Có lẽ trước hết là việc chiếc tàu Erika chở dầu đã bị vỡ hầm chứa ngoài khơi, biển Bretagne vùng Tây nước Pháp. Một đại nạn! Dầu đã bị sóng đưa vào bờ làm đen bẩn hầu hết các bờ biển, bãi tắm nổi tiếng.

  • NGUYỄN VĂN DŨNGSakuya là vị nữ thần cực kỳ xinh đẹp của xứ mặt trời mọc. Nàng là người đầu tiên tự tay gieo hạt giống cây anh đào trên núi Phú Sĩ. Mùa xuân hoa anh đào nở, đẹp cái đẹp lộng lẫy mê hồn của nàng. Bởi thế, người Nhật gọi hoa anh đào là Sakura - đọc trại từ Sakuya. Ngày nay, hoa anh đào đã có nhiều loại và mọc nhiều nơi, nhưng không nơi đâu đẹp bằng hoa anh đào ở núi Phú Sĩ.

  • VŨ LÊ THÁI HOÀNGTrong ánh nắng vàng rực tuyệt đẹp, giữa một New York hối hả, tấp nập, tua tủa nhà chọc trời, kiêu hãnh hiện ra bóng hình một phụ nữ khổng lồ tay cầm ngọn đuốc cháy sáng soi đường vào Tân Thế Giới.

  • ĐẶNG THỊ HẠNHMùa rét năm ấy ở Paris đã không có tuyết. "Một điều rất đặc biệt", ông Xuân Thủy nói với tôi như vậy khi tôi đi dạo với ông trong khu vườn bao quanh một cơ quan của Đảng Cộng sản Pháp dành riêng cho phái đoàn thương lượng của ta ở Paris .

  • HÀ PHẠM PHÚTôi chọn cái tựa trên cho bài viết một phần vì tôi bị ám ảnh bởi bộ tiểu thuyết Thiên long bát bộ của Kim Dung và bài của Quách Phong, một nhà nghiên cứu trẻ công tác tại đài phát thanh truyền hình châu Đại Lý - viết về chuyến thăm Đại Lý của nhà văn rất nổi tiếng này.

  • VÕ QUANG YẾNNúi cao cũng có đường trèo,Đường đi hiểm nghèo cũng có lối di.                                                Ca dao

  • VÕ QUANG YẾNNguyễn Hải Đang, 20 tuổi xuân xanh, xúng xính trong bộ y phục mới tinh trường Bách Khoa Ecole Polytechnique, thường được gọi tắt là X.

  • NGUYỄN VĂN DŨNGKathmandu là kinh đô của vương quốc Nepal, nằm dưới chân Hy mã Lạp sơn. Là thành phố của tôn giáo và nghệ thuật, của nghi thức và lễ hội, của cổ kính và hiện đại, của thánh thiện và tâm linh, của suy tư và khát vọng, của du lịch và mộng mơ, của nắng gió và tuyết. Ngày nay, Kathmandu còn là thành phố của thanh bình và chiến tranh.

  • PHẠM THỊ ANH NGABài này nhằm giới thiệu một vài nét về diện mạo thi ca Pháp và một số hoạt động liên quan đến thơ trong xã hội Pháp những năm gần đây.

  • ĐINH CƯỜNGViện Bảo tàng Mỹ thuật Luxembourg, Paris vừa chấm dứt cuộc triển lãm qui mô, hàng trăm bức tranh của một họa sĩ lẫy lừng, bi thảm nhất thế kỷ hai mươi: Amedeo Modigliani.

  • ĐẶNG TIẾNNước Pháp có những thành phố nhỏ, lừng danh nhờ một sinh hoạt văn hoá. Ví dụ như Cannes, Deauville với những Đại Hội Điện Ảnh. Hay Angoulême nổi tiếng từ 30 năm nay với truyền thống Festival Quốc Tế Truyện Tranh BD, do chữ Bande Dessinée viết tắt, có nghĩa là băng hoạt họa (strip cartoon). Thành phố lịch sử với năm vạn dân, cách Paris hơn 400 km về phía Tây Nam, từ ngày 23 đến 26 tháng 1-2003, trở thành trung tâm thế giới về nghệ thuật Truyện Tranh BD, lần thứ 30.

  • NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP                         Ghi chépMột chiều cuối đông năm ngoái tại góc Quán Cũ 25 Phan Đình Phùng, khi biết chúng tôi chuẩn bị chuyến khảo sát văn hóa tại Nhật Bản, giáo sư Đại học ngoại ngữ Tokyo Kawaguchi đề nghị chúng tôi nên bố trí kế hoạch đến Nhật vào mùa xuân để còn kịp ngắm hoa anh đào. Y lời, đúng ngày mở đầu tháng Tư năm nay, PGS.TS Phan Trọng Thưởng, Viện trưởng Viện Văn học và tôi lên đường công du sang Nhật khi biết chắc hoa anh đào đã nở.

  • TRẦN THỊ TRƯỜNG                     Ghi chép Truyền thống trong hội nhập...Rời xe bus số 64 chúng tôi rảo bộ trên con đường lát đá tảng của phố Della Concilia Zionli giữa hai hàng cột đá trông như những ngọn nến khổng lồ để đến với nơi mà bất kỳ người dân công giáo nào cũng hằng mơ ước.

  • NGUYỄN VĂN DŨNG                                KýSau gần nửa tháng rong chơi suốt hai đầu thượng hạ Ai Cập, tôi trở lại Paris chuẩn bị chuyến du hành sang Hy Lạp. Bỗng được tin của Văn Cầm Hải từ quê nhà: “Thầy về gấp. Đi Tây Tạng ngày 15/9”. Tôi quyết định ngay. Lúc ấy tôi không hiểu vì sao. Bây giờ thì tôi đã hiểu vì sao.

  • NGUYỄN VĂN DŨNGTôi mới có ý định leo núi Phú Sĩ trên đường từ Tokyo về cố đô Kyoto. Chiếc tàu siêu tốc chạy ngang qua vùng núi Fuji. Bên ngoài, trông Fuji hùng vĩ và đẹp hơn trong ảnh nhiều. Trên nền xanh thẳm của Công viên Quốc gia Fuji-Hakone-Izu, hai cánh núi từ tít tắp hai đầu Bắc Nam như đôi tình nhân thiên thu gặp lại, tràn về phía nhau. Và khi gặp nhau, cả hai hoà thành một, rồi bay vút lên trời, xuyên qua mấy tầng mây, để lộ giữa thinh không cao ngút cái chỏm mĩ miều như đầu ngọn bút lông.

  • TRẦN LỘC HÙNG1. Bạn bè tôi thường nói: “Không hiểu nước Nga nuôi mày kiểu gì mà tới bây giờ mày vẫn yêu nước Nga”. Vợ con tôi cũng vậy. Nước Nga dưới con mắt của những người thân của tôi hoàn toàn khác tôi. Đơn giản vì tôi đã tới nước Nga từ những năm tôi mới 17 tuổi, hơn nữa tôi đã sống, học tập và làm việc ở nước NGA ngót nghét 10 năm.

  • NGUYỄN VĂN DŨNG                           Bút kýChuyện kể rằng, vào một ngày tuyết trắng Tây kinh, Võ Tắc Thiên bỗng cao hứng lệnh cho tất cả loài hoa, nội trong một đêm phải nở hết. Sáng hôm sau, tuy giữa mùa đông giá lạnh, các loài hoa đều ríu rít nở, trừ... mẫu đơn. Võ Tắc Thiên giận lắm, bèn phán đày mẫu đơn xuống Lạc Dương cho khuất mắt. Từ đó, Lạc Dương trở thành quê hương của hoa mẫu đơn.

  • LÊ BÁ THỰ           Bút kýNhận lời mời của Bộ Văn hoá và Viện sách Ba Lan, tôi đi dự Đại hội Dịch giả Văn học Ba Lan toàn thế giới lần thứ nhất. Sau khi đến Vacsava,  sáng 11 tháng 5 tôi đáp xe lửa xuống Krakow , thành phố cách thủ đô Vacsava trên 300 cây số. Ngồi bên cửa sổ con tàu, tôi ngắm cảnh mùa xuân hai bên đường: những rừng thông tươi tốt, những cánh đồng lúa mì xanh xanh trải dài tít tận chân trời.

  • VI THÙY LINH           Tuỳ bútNgười Trung Quốc (TQ) có câu: “Trên trời có thiên đàng, dưới có Tô Châu, Hàng Châu”. Chỉ thoạt nghe, đã thấy người ta thật tự hào, về cảnh đẹp thành phố (TP) này đến thế nào, trên đất Đại lục dày đặc thắng cảnh, di tích, kỳ quan của Trung Hoa cẩm tú.