| TRIỀU NGUYÊN |
Ảnh: internet
|
Ban Biên tập Tạp chí Sông Hương nhận được tin nhà giáo, nhà nghiên cứu Triều Nguyên từ trần vào ngày 22/2/2022. Nhà nghiên cứu Triều Nguyên tên thật là Lư Viên, sinh năm 1952; nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế; nguyên Chủ tịch Hội Văn nghệ Dân gian Thừa Thiên Huế; hội viên Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế. Ông được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật (đợt II năm 2012) lĩnh vực Văn nghệ dân gian, với các công trình nghiên cứu: a) Góc nhìn cấu trúc về truyện ngụ ngôn dân gian Việt Nam (Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004; b) Khảo luận về tục ngữ người Việt (Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2006); và c) Ca dao Thừa Thiên Huế (Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế xuất bản, Huế, 2005). Nhà nghiên cứu Triều Nguyên là cộng tác viên thân thiết của Tạp chí Sông Hương. Bài viết dưới đây Ban Biên tập nhận được trong năm và đã lên trang song chưa kịp in lúc tác giả còn tại thế. Ban Biên tập Tạp chí Sông Hương xin chia buồn cùng gia đình, bạn bè thân hữu của nhà nghiên cứu, và trân trọng giới thiệu đến bạn đọc như một nén nhang thành kính tưởng nhớ ông. |
1. Khái quát
Trường nghĩa được hiểu là một tập hợp các đơn vị từ vựng theo một nét gần gũi nào đó về nghĩa. Tập hợp này không bao gồm những kết cấu ngữ nghĩa của từ đa nghĩa và những loạt cùng nghĩa(1) và trái nghĩa. Cùng trường nghĩa khi một yếu tố trong tập hợp vừa nêu thỏa mãn các điều kiện về nghĩa của tập hợp ấy; giả cùng trường nghĩa khi một nhân tố khoác “dáng vẻ” của một yếu tố của trường đặt ra, trong lúc bản thân thì không thuộc trường kia. Thí dụ, tập hợp các từ “xanh”, “vàng”, “đỏ”, “tím”, “trắng”,… là một trường nghĩa bao gồm các từ chỉ màu sắc; trong đó, mỗi yếu tố “xanh” hay “vàng”,... được cho là cùng trường nghĩa này; giả sử có từ “nhạt” hoặc “sẫm” được đưa vào tập hợp trên, thì hai từ ấy không dùng để chỉ một màu sắc cụ thể nào (nhưng dễ bị hiểu nhầm chúng cũng chỉ màu sắc)(2), được gọi là giả cùng trường nghĩa.
Một số truyện cười dân gian người Việt sử dụng hiện tượng cùng trường nghĩa và giả cùng trường nghĩa để gây cười. Số này không nhiều, nhưng cần chú ý khi muốn nắm bắt một cách thấu đáo về chúng.
Để thực hiện bài viết này, người viết đã chọn lọc từ khoảng 150 đầu sách có giới thiệu truyện cười, từ truyền thống đến hiện đại, rồi dựa vào đó mà thống kê số văn bản truyện đặt ra. Đồng thời, nhằm tiện nắm hiểu, cũng chia nội dung sự việc làm hai bộ phận: 1/ Hiện tượng cùng trường nghĩa trong truyện cười dân gian người Việt; và 2/ Hiện tượng giả cùng trường nghĩa trong truyện cười dân gian người Việt.
Việc làm ấy được hệ thống hóa thành bảng sau:
.jpg)
Theo bảng, có 14 mẩu truyện cười sử dụng hiện tượng cùng trường nghĩa và giả cùng trường nghĩa để tạo nên tiếng cười. Để nắm bắt vấn đề một cách hệ thống, ở mặt chính diện, có lẽ cần miêu tả, bằng cách kể lại theo lối tóm lược, và phân tích để thấy các hiện tượng đang được quan tâm, từ số các tác phẩm này.
2.1. Việc sử dụng hiện tượng cùng trường nghĩa để gây cười, trong truyện cười
- Truyện “Ê, con bò cái!”, kể về một người phụ nữ tất bật với công việc, việc nhà, việc cơ quan. Khi được hỏi “Chị thấy mình là ai?’’, người phụ nữ nọ trả lời, đại ý: Chị ta đã chuẩn bị bữa sáng như một con sóc, chạy ra bến xe như một con hươu con, bám lên xe buýt như một con khỉ, làm việc nhà đến tận đêm khuya như chó sói; thế mà lúc lên giường chồng lại còn bảo “Ê, con bò cái, nằm xích vào!”. (Nguồn: [4, 380-381]).
Phân tích: “Sóc”, “hươu”, “khỉ”, “chó sói”, “bò cái”,… là những con vật mà người phụ nữ dùng để so sánh với công việc của mình hàng ngày. Ý nghĩa của trường các con vật này, là lối vật hóa (cách tu từ xem người như vật), để nói lên sự vất vả như con vật của bản thân.
- Truyện “Thà tao đẻ ra cái bắp cải luộc ăn còn mát ruột hơn đẻ ra mày!”, kể việc mắng con của một bà bác sĩ. Lời mắng ấy là: “Mày học hành thế à? Óc bã đậu, chỉ được cái to đầu thôi! Nói mãi mà tai như tai cối xay ấy! Mở miệng ra là gân cổ cãi lại!... Sáng mắt ra mà nhìn con người ta kia kìa: đi học về là luôn tay giúp gia đình, còn mày sểnh chân một cái là biến đi chơi... Thật là khổ cái thân tao, đầu tắt mặt tối, thắt lưng buộc bụng nuôi mày ăn học! Thử hỏi mày đã làm mát lòng cha mẹ được chút nào chưa?... Thà tao đẻ ra cái bắp cải luộc ăn còn mát ruột hơn đẻ ra mày!...”. (Nguồn: Báo Tuổi trẻ cười, tháng 11-1997).
Phân tích: Trong lời mắng, có “óc”, “đầu”, “tai”, “miệng”, “cổ”, “mắt”, “tay”, “chân”, “ruột”,..., là các bộ phận cơ thể mà người thầy thuốc luôn bận tâm. Đây là trường về các bộ phận thuộc cơ thể người, những thứ nhân vật bà bác sĩ khó thể nào quên. Rất có thể do chúng ăn sâu vào tiềm thức, nên lúc tức giận đã buột miệng nói ra!
- Truyện “Đồng môn đồng khoai”, kể việc vợ một anh học trò hễ ra đến chợ là sà hết hàng quà nọ đến hàng quà kia. Một bạn học biết vậy, cất công đi theo chị ta suốt buổi chợ, thấy coi ăn gì thì chép vào một tờ giấy. Tan chợ, chị mua cho cha mẹ chồng một chục hồng, nhưng dọc đường về cứ lẩm bẩm, ông năm bà bốn, ông bốn bà ba,...; cuối cùng, cũng ăn hết. Khi chị chàng về gần đến đầu làng, anh bạn đón đường, trao cho tờ giấy, và bảo: “Đây là giấy thu tiền đồng môn, nhờ chị đưa về cho anh”. Đến nhà, chị trao giấy cho chồng, vùng vằng: “Nay đồng môn, mai đồng khoai, tiền mô cho lại!”. Anh chồng đọc xong, cười bảo: “Nhà ơi, không chỉ đồng môn, đồng khoai, mà còn mít dai, bánh tráng, bánh náng (nướng), bánh khúc, bánh đúc cá kho, lòng bò quẹt ruốc,...; với lại, một bước một quả hồng nữa!”. Chị vợ mặt đỏ nhừ, vội lủi vào bếp! (Nguồn: [3, 344345/quyển II).
Phân tích: “Môn” (khoai sọ), cùng trường nghĩa với khoai (môn được nấu/luộc để ăn độn, lắm khi ăn thay cơm, như khoai - tục ngữ nói “Được mùa chớ phụ môn khoai”). Nhưng “đồng môn” (từ ngữ Hán Việt) là cùng học một thầy thời phong kiến, không cùng trường nghĩa với “đồng khoai” (tổ hợp từ tự do, hiểu như đồng tiền trả cho việc mua khoai); có thể nói “đồng khoai” được nêu để giả cùng trường nghĩa với “đồng môn” - vấn đề sắp được xem xét, ở tiểu mục sau. Mẩu truyện nhằm phê phán thói ăn hàng vặt của nhân vật chị vợ ngày trước. Các thứ mà chị này ăn là: “mít dai”, “bánh tráng”, “bánh náng”, “bánh khúc”, “bánh đúc”, “cá kho”, “lòng bò quẹt ruốc”,... Chúng thuộc trường chỉ các món hàng ăn có bán ở chợ.
- Truyện “Tạm biệt Mối tình nồng thắm của em!”, kể về hai anh chị, một mày râu (MR), một áo dài (AD), đều yêu thích nghệ thuật điện ảnh, sân khấu, gặp nhau. MR: “Chào Mắt vàng”! AD: “Chào Trung Hoa anh hùng! Đi đâu vậy?”. MR: “Tôi đi qua Xóm vắng. Nhà em đâu?”. AD: “Bên dòng nước; còn nhà anh?”. MR: “Bên dòng sông Trẹm. Sao, hổm rày khỏe không?”. AD: “Sau những giấc mơ hồng, em vẫn lạc quan. Còn anh giờ làm gì?”. MR: “Ngôi sao cô đơn, em ơi!”. AD: “Thôi, đừng Lá sầu riêng nữa”. MR: “Cảm ơn Vĩnh biệt Cali nhe”. AD: “Chào tạm biệt Mối tình nồng thắm của em!” (Nguồn: Báo Mực tím, ngày 21/5/1998).
Phân tích: Trường chỉ tác phẩm nghệ thuật điện ảnh, sân khấu,..., đã sáng tác, dàn dựng vào cuối thế kỷ trước: Mắt vàng, Xóm vắng, Bên dòng nước, Ngôi sao cô đơn,..., chúng được kể gián tiếp. Nói gián tiếp, vì tất cả chúng được nêu ra dưới dạng ngữ hay tổ hợp từ tự do, phù hợp/thuận với ngữ cảnh. Thí dụ, câu “Chào tạm biệt Mối tình nồng thắm của em!”, thì Mối tình nồng thắm vừa chỉ đối tượng mà AD đang giao tiếp (tức nhân vật MR trong cuộc hội thoại), vừa chỉ tác phẩm nghệ thuật Mối tình nồng thắm (3).
2.2. Việc sử dụng hiện tượng giả cùng trường nghĩa để gây cười, trong truyện cười
- Truyện “Thiên lôi là... mìn treo trên trời!”, kể việc chuyện trò giữa hai bố con. Con hỏi bố: “Bố ơi địa lôi là gì ạ?”. Bố: “Là loại mìn chôn dưới đất”. Con: “Thế thủy lôi?”. Bố: “Là loại mìn thả dưới nước”. Con: “Còn thiên lôi thì sao hả?”. Bố: “À, có lẽ là loại mìn... treo trên trời!”. (Nguồn: [7, 407]).
Phân tích: “Thiên lôi”, về ngữ âm có dáng dấp của trường “địa lôi”, “thủy lôi” (chỉ các thứ mìn). Nhưng “thiên lôi” không phải là một loại mìn mà chỉ thần Sấm Sét, hay tính chất hung tợn của con người. Nó giả cùng trường nghĩa với “địa lôi”, “thủy lôi”, chứ không cùng trường nghĩa với chúng.
- Truyện “Con thầy là... sư tử!”, kể chuyện đối đáp giữa thầy và trò. Thầy hỏi học trò: “Con vua gọi là gì?”. Trò: “Thưa thầy, hoàng tử”. Thầy: “Thế con quan?”. Trò: “Thưa thầy, công tử”. Thầy: “Còn con thầy?”. Trò: “Thưa thầy, sư tử”. (Nguồn: [7, 408]).
Phân tích: “Sư tử” tuy có thể hiểu là con thầy, nhưng không mấy ai nói như vậy. Cho nên, “sư tử” không thuộc trường với “hoàng tử”, “công tử”, mà thường dùng để chỉ con sư tử, một mãnh thú, có khi chỉ tính khí hung tợn (hay khi nổi tam bành) của đàn bà, con gái (bấy giờ, đặt vào một số tổ hợp, như: “sư tử cái”, “sư tử Hà Đông”,...).
- Truyện “Cao ốc là... cao của loài ốc!”, kể việc cô gái sau khi tiễn người yêu xong, đã nói với mẹ: “Anh ấy tuy có tuổi, nhưng lại có cao ốc đấy, mẹ ạ!”. Bà mẹ giãy nảy: “Trời đất! Cao gấu, cao trăn mà còn chẳng ăn ai, chứ cái thứ cao ốc ấy thì báu gì?”. (Nguồn: Báo Lao động, ngày 3/11/2001).
Phân tích: “Cao ốc” (Từ Hán Việt, nghĩa: nhà cao tầng), ở lời của bà mẹ, trở thành “cao của loài ốc”, để giả cùng trường với “cao gấu”, “cao trăn” (các vị thuốc, ở dạng cao)! Nói “cao ốc” là “cao của loài ốc”, một thứ cao không có trong thực tiễn, nếu có thì cũng chẳng quý báu gì (so với cao gấu, cao trăn), bà mẹ đã giễu cợt đứa con gái hám của.
- Truyện “Ngôi nhà ngàn sao!”, kể việc một ông cán bộ tỉnh đi công tác ở một xã vùng đầm phá, phải ở lại qua đêm. Thấy ông ta tỏ vẻ lo lắng về nơi ăn chốn ngủ, một viên chức của xã nói: “Xin anh yên tâm, ở thành phố chỉ có khách sạn ba sao, năm sao; còn ở đây, anh sẽ tận hưởng cái thú vị của ngôi nhà ngàn sao!”. Thấy ông khách tròn mắt ngạc nhiên, viên chức nọ tiếp lời: “Em sẽ lấy thuyền chèo ra phá(4), chúng ta cùng uống rượu, xong ngả lưng lên sàn mà ngủ với sao trời!”. (Nguồn: [7, 409]).
Phân tích: “Ngàn sao” chỉ ngàn vạn ngôi sao trên bầu trời, giả cùng trường nghĩa với “ba sao”, “năm sao” (là những từ ngữ dùng trong việc phân loại khách sạn, dựa theo mức độ tiện nghi), nhằm để đùa vui.
- Truyện “Chúng em thì bổ ngửa!”, kể việc trò chuyện trong trường. Học sinh A: “Cô thì phân tích theo cách bổ dọc”. Học sinh B: “Thầy thì lại bổ ngang”. Một thầy giáo đi ngang qua, nghe được những lời than phiền ấy, hỏi: “Vậy các em thấy thế nào?”. Học sinh: “Chúng em thì bổ ngửa chứ còn sao nữa!”. (Nguồn: [7, 410]).
Phân tích: “Bổ ngửa” (ngã ngửa) là “hết sức ngạc nhiên, sửng sốt trước sự việc mà chủ quan không thể ngờ được rằng lại có thể xảy ra” [2, 645]. Nghĩa ấy không có quan hệ với “bổ dọc”, “bổ ngang”, là hai thuật ngữ dùng trong phân tích tác phẩm văn học. “Bổ ngửa” xuất hiện theo cách giả cùng trường với “bổ dọc”, “bổ ngang”, cho thấy học sinh không hiểu vấn đề, và tỏ ra thiếu tích cực.
- Truyện “Chỉ sợ cái chân phụ”, kể việc anh nọ đang tìm hiểu một cô gái ở nông thôn. Là người đứng đắn, mỗi khi muốn đưa cô gái đi đâu, anh không quên xin phép bố mẹ cô ta. Hôm ấy, anh đến, gặp ông bố người yêu, thưa: “Tối nay, xin phép bác cho cháu đưa em đi xem kịch”. Ông bố nói: “Không kịch kiếc gì hết! Ai biết anh đưa nó đi xem hay đưa đến đâu đó, để nhỡ nó ễnh cái bụng lên thì chết tôi à...”. Anh chàng phát hoảng, vội thanh minh: “Dạ, sao lại dám vậy ạ? Thưa bác, chúng cháu phải giữ cho nhau... Tình yêu của cháu là tình yêu chân chính ạ”. Ông bố cười, nói: “Tôi có sợ cái chân chính của anh đâu. Tôi chỉ sợ cái chân phụ của anh thôi. Cái chân chính thì anh giữ được, còn chân phụ,... làm sao anh giữ nổi?”. (Nguồn: [4, 20-21], tên truyện “Chân chính, chân phụ”).
Phân tích: “Chân chính” là một từ được hiểu như ngay thẳng, đường hoàng, cùng âm với tổ hợp tự do “(cái) chân chính”, để đi đứng, phân biệt với “chân phụ”, không có chức năng ấy. Ở đây, hoặc “(cái) chân chính”, và “chân phụ” đã giả cùng trường với “chân chính” (ngay thẳng,…), hoặc nếu cho “(cái) chân chính” là một thực thể được thừa nhận, thì “chân phụ” (được hiểu là cái ấy của nam giới), đã giả cùng trường với nó. Việc giả cùng trường ở truyện đang đặt ra, là để tiện đề cập (một đối tượng tế nhị) và phê phán đối tượng ấy.
- Truyện “Khoái tựu trường hơn”, kể việc ba cán bộ ngành giáo dục ngồi nói chuyện phiếm. Một ông: “Tôi khoái Lam Trường, ca hay “dữ dằn”, nghe nói một đêm kiếm được cả chục triệu đồng...”. Một bà: “Tôi thì khoái Đan Trường, đã ca hay mà lại đẹp trai nữa”. Ông thứ ba: “Còn tôi, tôi khoái... tựu trường hơn. Tới đó, nội ba cái sổ vàng, sổ đỏ, rồi phụ thu,... là mình thấy đã khoẻ, khỏi cần hát xướng chi cho mệt!”. (Nguồn: Báo Tuổi trẻ cười, tháng 9/2001).
Phân tích: “Tựu trường” (khai giảng khóa học mới), không có quan hệ gì về nghĩa với Lam Trường, Đan Trường (tên hai nam ca sĩ). Người nói đem nó giả nhập cùng trường với các ca sĩ, để trêu đùa (truyện phản ánh việc lạm thu của các trường, đang là vấn đề thời sự).
- Truyện “Điện phân là gì?”, kể cuộc chuyện trò của hai bố con. Cậu con trai hỏi bố: “Bố ơi, “điện hoa” là gì hở bố?”. Ông bố: “Điện hoa là điện mang những lời chúc, quà tặng như là hoa, bưu thiếp,...”. Con trai: “Thế vậy thì... “điện phân” là gì?”. Ông bố cứng miệng, không nói gì. (Nguồn: Báo Tuổi trẻ cười, tháng, 3/1997).
Phân tích: “Điện hoa” cùng “điện báo”, “điện chuyển tiền”,..., lập thành một trường (trường chỉ một bộ phận công việc quan trọng của ngành bưu chính viễn thông). “Điện phân” (thay đổi thành phần hóa học của một dung dịch, khi cho dòng điện một chiều đi qua), không thuộc trường ấy. Khi không coi “điện phân” là thuật ngữ hóa học, thì nó nhằm “bắt bí” lời giải thích về “điện hoa”; bởi nếu chấp nhận cách giải thích như vậy thì với “điện phân”, cùng dạng về cấu tạo, phải nói ra sao? Thật ra, không có từ “điện phân” trong ngành viễn thông, nên nó là từ giả cùng trường với “điện hoa”, “điện chuyển tiền”,...
- Truyện “Vạc đồng với cò đồng”, kể việc một tốp học trò mượn bà hàng cơm cái vạc để thổi cơm. Hôm sau, họ mang cái cò đến trả. Bà hàng kiện lên quan. Nghe bọn học trò trình bày, quan phán: “Mượn cái vạc, trả cái cò cũng được chứ sao!”. Bà hàng tức quá, kêu lên: “Nhưng vạc của con là vạc đồng”. Bọn học trò ranh mãnh đáp: “Bẩm quan, cò của chúng con cũng là cò đồng, đâu phải cò nhà ạ”. (Nguồn: [5, 79]).
Phân tích: Mấy anh học trò mượn cái vạc (vạc nấu cơm), rồi mang cái cò (một loài chim) đến trả, tức dựa vào sự gần gũi giữa cò và vạc (ca dao: “Cái cò, cái vạc, cái nông; Ba cái cùng béo, vặt lông cái nào?”), để giả nhập cái vạc thổi cơm cùng trường với cò, vạc, nông (trên cơ sở cùng âm). Khi bị bà hàng nêu vạc của bà ta là “vạc đồng” (vạc bằng chất liệu đồng) để bẻ lại, thì họ nhanh chóng gọi tên “cò đồng” (cò ở đồng ruộng), thuộc trường “le đồng”, “diệc đồng”, “gà đồng”,... khiến “vạc đồng” cũng bị thu hút vào trường này. Cách giả cùng trường ở đây, nhằm đánh lừa quan xử kiện.
- Truyện “Bát canh hương án”, kể việc có một người, hôm nọ đến nhà bạn chơi. Bạn thết cơm, có một bát canh kiệu, ăn lấy làm thích miệng lắm. Lúc về nhà, người ấy kể lại với vợ. Người vợ chẳng biết “kiệu” là gì, nhưng cũng ra mặt thạo, nói rằng: “Tưởng cái chi chứ canh kiệu thì khó gì!”. Sau đó ít lâu, bạn sang chơi nhà, phải thết cơm giả. Chồng ngồi nói chuyện với bạn ở trên nhà, vợ lúi húi dưới bếp. Chị ta tấp tểnh muốn bắt chước nấu canh kiệu. Nhưng kiệu là cái chi? Có lẽ nó là cái kiệu thật. Chị chàng nghĩ vậy, bèn cầm dao lon ton chạy ra ngoài đình, định nạo ít kiệu đem về nấu canh. Song ra đình chẳng thấy kiệu đâu, chỉ có mỗi cái hương án. Chị chàng bụng lại bảo dạ rằng: “Hương án thì cũng như kiệu, chứ gì!”. Rồi ra sức nạo ít mùn hương án đem về nấu canh, lấy làm đắc chí lắm. Bát canh hương án, chồng với bạn chồng nuốt sao trôi được? Ngao ngán quá, đợi lúc bạn về rồi, chồng hằm hằm vào tra hỏi là bát canh gì, rồi đánh vợ một trận nên thân. Vợ đau quá, vừa khóc vừa ví rằng: “Người ta canh kiệu thì ngon/ Tôi canh hương án, thì đòn vào lưng!”. (Nguồn: [3, 215-216/quyển I]).
Phân tích: “Kiệu” cùng trường với “hành”, “tỏi”, “hẹ”,... Nó cùng âm với “kiệu” (đồ dùng để rước thần thánh, có mái che và ghế ngồi). Và “kiệu” ấy cùng trường nghĩa với “hương án”. Nhân vật chị vợ đã biết trường nghĩa này, nhưng lại không nắm được trường nghĩa kia, khiến cho bát canh bị hỏng, mình thì bị chồng đánh cho. Cách giả cùng trường ở đây cũng như truyện trước, là dựa vào cùng âm, nhằm để cười chê chị chàng: không biết lại làm ra mặt thạo!
3.1. Khi sử dụng các yếu tố làm nên tập hợp các từ cùng trường một cách xác thực, cụ thể, và gọi đó là lối cùng trường nghĩa trực tiếp, cũng như khi các yếu tố được hình thành theo lối cùng âm hay nước đôi về nghĩa, được gọi là lối cùng trường nghĩa gián tiếp, thì truyện cười sử dụng hiện tượng cùng trường nghĩa, có thể là trực tiếp hay gián tiếp(5). Với bốn truyện được dẫn (ở bộ phận đầu), ba truyện trước nêu trực tiếp, truyện sau cùng nêu gián tiếp.
Giả cùng trường nghĩa là cách đưa một từ ngữ vào một trường không có quan hệ về nghĩa với từ ngữ này, nhưng hình thức ngữ âm của từ ngữ giả cùng trường là gần gũi (với trường hợp từ ngữ đa tiết, thường có một yếu tố cùng âm). Có thể ví từ giả cùng trường như một kẻ mạo danh, trà trộn vào một tổ chức, đội ngũ, sau khi đã hóa trang, để đối phương khó phát hiện.
So với cùng trường nghĩa, thì hiện tượng giả cùng trường nghĩa thường tạo ra điều mới lạ, dễ gây cười hơn, nên được sử dụng nhiều hơn (ở bảng, là gấp 2,5 lần)
3.2. Với truyện cười, các nhà nghiên cứu thường quan tâm đến đối tượng đáng cười (cười về cái gì?) và biểu hiện gây cười (vì sao mà cười?), với lưu ý: có cười đã mới xem xét lí do. Vậy với các nội dung vừa nêu ở sự việc đang bàn ra sao? Đối tượng đáng cười ở đây là việc sử dụng hiện tượng cùng trường nghĩa và giả cùng trường nghĩa (nếu có nhân vật tiêu cực đi kèm với hiện tượng này, thì đồng thời phê phán nhân vật ấy), còn biểu hiện gây cười là việc biểu thị cụ thể của mỗi hiện tượng kia. Chẳng hạn, với truyện “Ê, con bò cái!” (nhóm đầu), đối tượng đáng cười là việc sử dụng hiện tượng cùng trường nghĩa, một cách “vật hóa” mình để than vãn của người phụ nữ trong truyện; biểu hiện gây cười là lời của người chồng (nhân vật phụ) ở cuối truyện: “Ê, con bò cái, nằm xích vào!”. Với truyện “Bát canh hương án” (nhóm sau), đối tượng đáng cười là việc giả cùng trường nghĩa, kèm theo chuyện chị vợ nọ đã không biết “kiệu” là gì lại tỏ ra thành thạo, đến nỗi đã biến “kiệu” (cây thân thảo, cùng trường với “hành”, “tỏi”, “hẹ”,...) thành vật dùng để đón rước thần linh (cùng trường với “hương án”), và đã lấy ít mùn của hương án, là chất sơn và gỗ, đem về nấu canh (!); biểu hiện gây cười, là khi bị chồng đánh (do việc làm kém cỏi kia), ả ta đã khóc bằng lời ví rằng: “Người ta canh kiệu thì ngon/ Tôi canh hương án, thì đòn vào lưng!”.
3.3. Tìm hiểu việc sử dụng hiện tượng cùng trường nghĩa và giả cùng trường nghĩa ở truyện cười dân gian người Việt, là một nghiên cứu có tính chất ứng dụng, giúp nắm hiểu thể loại truyện này một cách thấu đáo hơn; đồng thời, vấn đề có thể có đóng góp ít nhiều cho những người yêu thích tiếng Việt.
T.N
(TCSH44SDB/03-2022)
___________________
Chú thích
(1) Cùng nghĩa: như đồng nghĩa. Sở dĩ sử dụng cùng nghĩa, vì để tương ứng với thuật ngữ cùng trường nghĩa trong bài.
(2) Nhạt: (Màu sắc) không đậm bằng màu bình thường, tựa như vẽ hoặc nhuộm bằng màu pha loãng. Áo màu xanh nhạt. Ánh đèn vàng nhạt. Vôi quét chỗ đậm chỗ nhạt. Áng nắng nhạt dần (nghĩa thứ 2 trong 4 nghĩa). Sẫm: (Màu sắc) đậm và hơi tối.
Đỏ sẫm. Tím sẫm - [683 & 822]. Tức “nhạt” và “sẫm” không chỉ màu nào.
(3) Phim tình cảm Trung Quốc, ra đời năm 1995, dài 30 tập, chiếu trên SCTV9.
(4) Phá: vùng nước lợ, nằm ven bờ, thông ra cửa biển, nơi có nhiều tôm cá.
(5) Ở thể loại câu đối, khi một trong hai vế sử dụng hình ảnh theo hình thức cùng âm, hình thức nước đôi về nghĩa để đối lại một từ ngữ dùng lối tường minh của vế tương ứng, được gọi là “xuất đối”.
Tài liệu tham khảo, trích dẫn chính
1. Cù Đình Tú (1983), Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.
2. Hoàng Phê (Chủ biên) (1994), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Khoa học xã hội - Trung tâm Từ điển học, Hà Nội.
3. Nguyễn Chí Bền (Chủ biên) (2014), Truyện cười dân gian người Việt, 5 quyển, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
4. Nguyễn Cừ (2007), Truyện cười Việt Nam, Nxb. Văn học, Hà Nội.
5. Nguyễn Đức Dân (1987), Lô gích, ngữ nghĩa, cú pháp, Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.
6. Nguyễn Thiện Giáp (1985), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.
7. Triều Nguyên (2004), Nghệ thuật chơi chữ trong văn chương người Việt, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
Tải mã QRCode
PHONG LÊBây giờ, sau 60 năm - với bao là biến động, phát triển theo gia tốc lớn của lịch sử trong thế kỷ XX - từ một nước còn bị nô lệ, rên xiết dưới hai tầng xiềng xích Pháp-Nhật đã vùng dậy làm một cuộc Cách mạng tháng Tám vĩ đại, rồi tiến hành hai cuộc kháng chiến trong suốt 30 năm, đi tới thống nhất và phát triển đất nước theo định hướng mới của chủ nghĩa xã hội, và đang triển khai một cuộc hội nhập lớn với nhân loại; - bây giờ, sau bao biến thiên ấy mà nhìn lại Đề cương về văn hoá Việt Nam năm 1943(1), quả không khó khăn, thậm chí là dễ thấy những mặt bất cập của Đề cương... trong nhìn nhận và đánh giá lịch sử dân tộc và văn hoá dân tộc, từ quá khứ đến hiện tại (ở thời điểm 1943); và nhìn rộng ra thế giới, trong cục diện sự phát triển của chủ nghĩa tư bản hiện đại; và gắn với nó, văn hoá, văn chương - học thuật cũng đang chuyển sang giai đoạn Hiện đại và Hậu hiện đại...
TƯƠNG LAITrung thực là phẩm chất hàng đầu của một người dám tự nhận mình là nhà khoa học. Mà thật ra, đâu chỉ nhà khoa học mới cần đến phẩm chất ấy, nhà chính trị, nhà kinh tế, nhà văn hoá... và bất cứ là "nhà" gì đi chăng nữa, trước hết phải là một con người biết tự trọng để không làm những việc khuất tất, không nói dối để cho mình phải hổ thẹn với chính mình. Đấy là trường hợp được vận dụng cho những người chưa bị đứt "dây thần kinh xấu hổ", chứ khi đã đứt mất cái đó rồi, thì sự cắn rứt lương tâm cũng không còn, lấy đâu ra sự tự phản tỉnh để mà còn biết xấu hổ. Mà trò đời, "đã trót thì phải trét", đã nói dối thì rồi cứ phải nói dối quanh, vì "dại rồi còn biết khôn làm sao đây".
MÃ GIANG LÂNVăn học tồn tại được nhiều khi phụ thuộc vào độc giả. Độc giả tiếp nhận tác phẩm như thế nào? Tiếp nhận và truyền đạt cho người khác. Có khi tiếp nhận rồi nhưng lại rất khó truyền đạt. Trường hợp này thường diễn ra với tác phẩm thơ. Thực ra tiếp nhận là một quá trình. Mỗi lần đọc là một lần tiếp nhận, phát hiện.
HÀ VĂN LƯỠNGTrong dòng chảy của văn học Nga thế kỷ XX, bộ phận văn học Nga ở hải ngoại chiếm một vị trí nhất định, tạo nên sự thống nhất, đa dạng của thế kỷ văn học này (bao gồm các mảng: văn học đầu thế kỷ, văn học thời kỳ Xô Viết, văn học Nga ở hải ngoại và văn học Nga hậu Xô Viết). Nhưng việc nhận chân những giá trị của mảng văn học này với tư cách là một bộ phận của văn học Nga thế kỷ XX thì dường như diễn ra quá chậm (mãi đến những thập niên 70, 80 trở đi của thế kỷ XX) và phức tạp, thậm chí có ý kiến đối lập nhau.
TRẦN THANH MẠILTS: Nhà văn Trần Thanh Mại (1908-1965) là người con xứ Huế. Tên ông đã được đặt cho một con đường ở đây và một con đường ở thành phố Hồ Chí Minh. Trần Thanh Mại toàn tập (ba tập) cũng đã được Nhà xuất bản Văn học phát hành năm 2004.Vừa rồi, nhà văn Hồng Diệu, trong dịp vào thành phố Hồ Chí Minh dự lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Trần Thanh Mại, đã tìm thấy trang di cảo lưu tại gia đình. Bài nghiên cứu dưới đây, do chính nhà văn Trần Thanh Mại viết tay, có nhiều chỗ cắt dán, thêm bớt, hoặc mờ. Nhà văn Hồng Diệu đã khôi phục lại bài viết, và gửi cho Sông Hương. Chúng tôi xin cám ơn nhà văn Hồng Diệu và trân trọng giới thiệu bài này cùng bạn đọc.S.H
TRẦN HUYỀN SÂMLý luận văn học và phê bình văn học là những khái niệm đã được xác định. Đó là hai thuật ngữ chỉ hai phân môn trong Khoa nghiên cứu văn học. Mỗi khi khái niệm đã được xác định, tức là chúng đã có đặc trưng riêng, phạm trù riêng. Và vì thế, mục đích và ý nghĩa của nó cũng rất riêng.
TRẦN THÁI HỌCCó lẽ chưa bao giờ các vấn đề cơ bản của lý luận văn nghệ lại được đưa lên diễn đàn một cách công khai và dân chủ như khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới. Vấn đề tuyên truyền trong nghệ thuật tuy chưa nêu thành một mục riêng để thảo luận, nhưng ở nhiều bài viết và hội nghị, chúng ta thấy vẫn thường được nhắc tới.
NGUYỄN TRỌNG TẠO...Một câu ngạn ngữ Pháp nói rằng: “Khen đúng là bạn, chê đúng là thầy”. Câu ngạn ngữ này đúng trong mọi trường hợp, và riêng với văn học, Hoài Thanh còn vận thêm rằng: “Khen đúng là bạn của nhà văn, chê đúng là thầy của nhà văn”...
BẢO CHI (lược thuật)Từ chiều 13 đến chiều 15-8-2003, Hội nghị Lý luận – Phê bình văn học (LL-PBVH) toàn quốc do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức đã diễn ra tại khu nghỉ mát Tam Đảo có độ cao 1.000 mét và nhiệt độ lý tưởng 23oc. Đây là hội nghị nhìn lại công tác LL-PBVH 28 năm qua kể từ ngày đất nước thống nhất và sau 54 năm Hội nghị tranh luận Văn nghệ tại Việt Bắc (1949). Gần 200 nhà LL-PB, nhà văn, nhà thơ, nhà báo và khách mời họp mặt ở đây đã làm nóng lên chút đỉnh không khí ôn hoà của xứ lạnh triền miên...
ĐỖ LAI THÚY Văn là người (Buffon)Cuốn sách thứ hai của phê bình văn học Việt Nam, sau Phê bình và cảo luận (1933) của Thiếu Sơn, thuộc về Trần Thanh Mại (1911 - 1965): Trông dòng sông Vị (1936). Và, mặc dù đứng thứ hai, nhưng cuốn sách lại mở đầu cho một phương pháp phê bình văn học mới: phê bình tiểu sử học.
ĐẶNG TIẾNThuật ngữ Thi Học dùng ở đây để biểu đạt những kiến thức, suy nghĩ về Thơ, qua nhiều dạng thức và trong quá trình của nó. Chữ Pháp là Poétique, hiểu theo nghĩa hẹp và cổ điển, áp dụng chủ yếu vào văn vần. Dùng theo nghĩa rộng và hiện đại, theo quan điểm của Valéry, được Jakobson phát triển về sau, từ Poétique được dịch là Thi Pháp, chỉ chức năng thẩm mỹ của ngôn từ, và nới rộng ra những hệ thống ký hiệu khác, là lý thuyết về tính nghệ thuật nói chung. Thi Học, giới hạn trong phạm vi thi ca, là một bộ phận nhỏ của Thi Pháp.
TRẦN CAO SƠNTriều Nguyễn tồn tại gần 150 năm, kể từ khi Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế với niên hiệu Gia Long - năm1802, tạo dựng một đế chế tập quyền trên toàn bộ lãnh thổ mà trước đó chưa hề có. Trải qua một thế kỷ rưỡi tồn tại, vinh hoa và tủi nhục, Triều đại Nguyễn là một thực thể cấu thành trong lịch sử Đại Việt. Những cái do triều đình Nhà Nguyễn mang lại cũng rất có ý nghĩa, đó là chấm dứt cuộc nội chiến, tranh giành quyền lực, xương trắng máu đào liên miên mấy thế kỷ, kiến tạo bộ máy quản lý hành chính trung ương tập quyền thống nhất mà Quang Trung - Nguyễn Huệ đã dày công vun đắp gây dựng trước đó. Dân tộc đã phải trải qua những năm tháng bi hùng với nhiều điều nuối tiếc, đáng bàn đáng nói ngay ở chính hôm nay. Song lịch sử là lịch sử, đó là một hiện thực khách quan.
TRẦN HUYỀN SÂMNếu nghệ thuật là một sự ngạc nhiên thì chính tiểu thuyết Thập giá giữa rừng sâu là sự minh định rõ nhất cho điều này. Tôi bàng hoàng nhận ra rằng, luận thuyết: con người cao quý và có tình hơn động vật đã không hoàn toàn đúng như lâu nay chúng ta vẫn tin tưởng một cách hồn nhiên. Con người có nguy cơ sa xuống hàng thú vật, thậm chí không bằng thú vật, nếu không ý thức được giá trị đích thực của Con Người với cái tên viết hoa của nó. Phải chăng, đây chính là lời nói tối hậu với con người, về con người của tác phẩm này?
HOÀNG NGỌC HIẾN ...Từ những nguồn khác nhau: đạo đức học, mỹ học, triết học xã hội-chính trị, triết học xã hội-văn hoá... cảm hứng triết luận trong nghiên cứu, phê bình văn học là nỗ lực vượt lên trên những thành kiến và định kiến hẹp hòi trong sinh hoạt cũng như trong học thuật. Những thành kiến, định kiến này có khi lại được xem như những điều hiển nhiên. Mà đã là “hiển nhiên” thì khỏi phải bàn. Đây cũng là một thói quen khá phổ biến trong nhân loại. Cảm hứng triết luận trong nghiên cứu, phê bình có khi bắt nguồn từ suy nghĩ về chính những điều “hiển nhiên” như vậy...
THÁI DOÃN HIỂUVào đời, Lưu Quang Vũ bắt đầu làm thơ, viết truyện, rồi dừng lại nơi kịch. Ở thể loại nào, tài năng của Vũ cũng in dấu ấn đậm đà làm cho bạn đọc cả nước đi từ ngạc nhiên đến sửng sốt. Thơ Lưu Quang Vũ một thời được lớp trẻ say sưa chép và thuộc. Kịch Lưu Quang Vũ một thời gần như thống trị sân khấu cả nước.
TRẦN THANH ĐẠMTrong lịch sử nước ta cũng như nhiều nước khác, thời cổ - trung đại cũng như thời cận - hiện đại, mỗi khi một quốc gia, dân tộc bị xâm lược và chinh phục bởi các thế lực bên ngoài thì trong nước bao giờ cũng phát sinh hai lực lượng: một lực lượng tìm cách kháng cự lại nạn ngoại xâm và một lực lượng khác đứng ra hợp tác với kẻ ngoại xâm.
ĐỖ LAI THUÝLTS: Trong số tháng 5-2003, Sông Hương đã dành một số trang để anh em văn nghệ sĩ Huế "tưởng niệm" nhà văn Nguyễn Đình Thi vừa qua đời. Song, đấy chỉ mới là việc nghĩa.Là một cây đại thụ của nền văn nghệ cách mạng Việt Nam, Nguyễn Đình Thi toả bóng trên nhiều lĩnh vực nghệ thuật. Bằng chứng qua các bài viết về ông sau đây, Sông Hương xin trân trọng dành thêm trang để giới thiệu sâu hơn, có hệ thống hơn về Nguyễn Đình Thi cùng bạn đọc.
ĐẶNG TIẾN…Nguyễn Đình Thi quê quán Hà Nội, nhưng sinh tại Luang Prabang, Lào, ngày 20/12/1924. Từ 1931 theo gia đình về nước, học tại Hải Phòng, Hà Nội. Năm 1941 tham gia Thanh Niên cưú quốc, 1943 tham gia Văn hóa cứu quốc, bị Pháp bắt nhiều lần. Năm 1945, tham dự Quốc Dân Đại hội Tân Trào, vào Ủy ban Giải phóng Dân tộc. Năm 1946, là đại biểu Quốc hội trẻ nhất, làm Ủy viên Thường trực Quốc hội, khóa I…
HỒ THẾ HÀ Hai mươi lăm năm thơ Huế (1975 - 2000) là một chặng đường không dài, nhưng nó diễn ra trong một bối cảnh lịch sử - thi ca đầy phức tạp. Cuộc sống hàng ngày đặt ra cho thể loại những yêu cầu mới, mà thơ ca phải làm tròn sứ mệnh cao cả với tư cách là một hoạt động nhận thức nhạy bén nhất. Những khó khăn là chuyện đương nhiên, nhưng cũng phải thấy rằng bí quyết sinh tồn của chính thể loại cũng không chịu bó tay. Hơn nữa, đã đặt ra yêu cầu thì chính cuộc sống cũng đã chuẩn bị những tiền đề để thực hiện. Nếu không, mối quan hệ này bị phá vỡ.
JAMES REEVESGần như điều mà tôi hoặc bất kỳ nhà văn nào khác có thể nói về một bài thơ đều giống nhau khi nêu ra ấn tượng về điều gì đấy được in trên giấy. Tôi muốn nhấn mạnh rằng đây không phải là toàn bộ sự thật. Việc in trên giấy thực ra là một bài thơ gián tiếp. Sẽ dễ dàng thấy điều này nếu chúng ta đang nói về hội hoạ hoặc điêu khắc.