Nhà phê bình Trần Mạnh Hảo - Ảnh: gio-o.com
Hơn năm trước, trong khi viết bài trao đổi lại với nhà thơ Trần Mạnh Hảo, chúng tôi canh cánh nỗi lo: điều gì sẽ xảy ra khi những bài ông Hảo phê bình sách giáo khoa Văn học được gom lại in thành sách? Nay nỗi lo đã thành sự thực: cuốn Văn học-phê bình, nhận diện ra đời tại một nhà xuất bản tiếng tăm - Nhà xuất bản Văn học. Ngót 500 trang sách với 35 bài viết đều một giọng dè bỉu, làm mất mặt hàng chục nhà giáo đứng đầu nền giáo dục nước nhà, khiến người đọc khó tiếp thu. Chúng tôi xin trao đổi đôi điều về cuốn sách trên. 1/ Bất cập từ sự thái quá Cũng như nhiều người đọc công tâm, chúng tôi đã từng hoan nghênh ủng hộ một số bài viết phê bình sách giáo khoa văn học của ông Trần Mạnh Hảo. (Xem Hà Văn Thùy: Về hiện tượng nhà thơ Trần Mạnh Hảo phê bình sách giáo khoa văn học - Văn hóa văn nghệ Công an tháng 3/1999). Bài Cần phải hiểu đúng thơ Nguyễn Khuyến là bài viết cực hay. Chất thơ của bút pháp cộng với tấm lòng người viết tạo ra một áng bình luận văn chương tuyệt bút. Ngoài việc chỉ ra chi tiết hoa khô quá đỗi vụng về của sách giáo khoa, tác giả đã phát hiện ra tầng ý nghĩa thật sâu kín của thơ cụ Yên Đồ. Có thể nói, trước bài viết của ông Hảo, chúng ta chỉ cảm nhận 3 bài thơ thu ở mức của tác giả sách giáo khoa. Phát hiện của Trần Mạnh Hảo đã đẩy nhận thức về thơ Nguyễn Khuyến tới độ sâu tận cùng. Nguyễn Khuyến "nằm chung với khói mây" cũng là bài viết nhiều xúc cảm. "Thơ duyên" trong sách giáo khoa là bài viết thuyết phục, cho người đọc thấy sự giảng giải còn khiên cưỡng của sách giáo khoa và giúp ta hiểu đúng hơn về cái vui cái buồn trong thơ Xuân Diệu. Cần giảng dạy đúng tinh thần bài thơ "Tiếng hát con tàu"cũng có những ý mới, vượt lên cách hiểu nặng về xã hội học của sách giáo khoa. Có thể kể thêm những bài về Tống biệt hành, về Tràng giang hoặc có thể tìm được những ý hay rải rác trong một số bài khác. Những bài viết như vậy của ông Hảo giúp cho người đọc nhận thức sâu hơn văn chương trong sách giáo khoa. Và điều có ý nghĩa không nhỏ là ông Hảo đã đóng lên tiếng chuông báo động với xã hội rằng sách giáo khoa Văn học của chúng ta còn nhiều sai sót, cần phải sửa chữa thậm chí làm lại. Một mình đơn phương độc mã lao vào trận địa gai góc như vậy, Trần Mạnh Hảo đã có công nhiều với nền giáo dục. Tuy nhiên, có sự thật là: ngay trong những bài có ý đúng, ông Hảo nhiều khi bộc lộ những điều sai. Có khi là sự ngộ nhận chủ quan, có khi lại là sự áp đặt nhận thức sai lầm của mình lên những kiến giải khá thỏa đáng của sách giáo khoa. Chúng tôi đã nhiều lần chân tình trao đổi lại với ông Hảo (Đôi điều trao đổi lại với nhà thơ Trần Mạnh Hảo về cái nỗi mõm mòm Xuân Hương- VHVNCA 11/ 1999 và Từ những sự viện dẫn thiếu thuyết phục- VHVNCA số 1/ 2000) Trong những bài viết đó, chúng tôi lưu ý rằng: Sách giáo khoa đã không sai khi giảng bài Tiếng hát con tàu mà mới bóc được tầng nghĩa bên ngoài để trên cơ sở đó ông Hảo khám phá tầng sâu hơn. Chúng tôi cũng bàn lại rằng, sự hiểu cái mõm mòm Xuân Hương của ông Hảo mang tính tùy tiện, dung tục. Chúng tôi cũng có bài viết (chưa in) nói rằng: trượt theo vết sai của Xuân Diệu, ông Hảo giảng bài thơ Cây chuối của Nguyễn Trãi với buồng chuối biến thành buồng giai nhân, buồng văn nhân đã sai lầm hơn cả sách mà ông phê phán. Ngay cả ý tưởng “ Văn học trước hết không phản ánh hiện thực mà là nghiền ngẫm về hiện thực” của Lê Ngọc Trà mà ông Hảo chê bai dè bỉu cũng chẳng hề là sự phủ định Lê Nin mà là sự phát triển Lê Nin ở mức cao hơn. Ngay cái điều ông Hảo nhiều lần khoe: do bài viết của ông mà cơ quan chức năng chỉ thị cho Bộ Giáo dục đưa Tuyên ngôn độc lập trở lại sách giáo khoa cũng chưa thể coi là giải pháp tốt nhất. Trong văn chương thậm chí cả trong khoa học không phải bao giờ cũng tìm ra lời nói cuối cùng. Hiện nay trong công chúng vần tồn tại ý kiến: “ Không thể bỏ Bình Ngô đại cáo, Hịch tướng sĩ văn ra khỏi sách giáo khoa vì như vậy không những bỏ tác giả mà bỏ cả một thời đại văn học. Còn thời chúng ta, tư tưởng Hồ Chí Minh thấm đẫm trong từng hơi thở nên việc dành mảnh đất chật hẹp của sách giáo khoa để học sinh chiêm ngưỡng một Hồ Chí Minh thi nhân là điều hợp lý”. Nếu suy nghĩ đó thỏa đáng thì sự báo động của ông Hảo chưa hẳn đã là báo động thật! Có thể thấy rằng ban đầu ông Hảo viết có những bài thuyết phục. Nhưng khi mở rộng ra, vượt quá vòng phấn cảm thụ văn chương sở trường của mình, càng ngày ông Hảo càng bộc lộ sai lầm. Cuốn Văn học- phê bình, nhận diện là sự tập hợp những sai lầm đó. Bài viết “Cần trả lại giá trị nghệ thuật đích thực cho kiệt tác “ Cung oán ngâm khúc” là bài viết nhạt nhẽo, không có ý tưởng đáng để ý. Bài “ Bàn về nghệ thuật phê bình liếc nhìn” với nhà Tố Hữu học Nguyễn Văn Hạnh không có gì đáng chú ý về học thuật mà nổi lên sự cay cú trả thù công kích cá nhân, điều không nên có trong văn hóa phê bình. Bài “ Có thật nền văn học Việt Nam “ rất đỗi đơn sơ”, “ ít được phát huy tận độ” là đặc trưng cho bút pháp ngoa ngoắt của Trần Mạnh Hảo. Phải nói rằng, sau những mặc cảm tự ty và cả sau những tự tôn vô lối, sách giáo khoa (Văn 10) lần đầu tiên đưa ra nhận định tương đối sát hợp về văn học nghệ thuật Việt Nam thì trong bài viết của mình, Trần Mạnh Hảo lại bài bác sách giáo khoa với tinh thần tự tôn vô lối cũ mèm cần gạt bỏ! Bài “ Cơ sở văn hóa Việt Nam: khoa học hay truyền thuyết? Cũng là một tiêu biểu cho phong cách tranh luận và sự hụt hẫng kiến thức của ông Hảo. Ở đây ông Hảo dẫn ra hàng loạt định nghĩa trong Từ điển tiếng Việt để bắt bẻ người viết sách! Việc làm này là khiên cưỡng thiếu khoa học bởi Từ điển tiếng Việt là từ điển phổ thông. Khi đi vào những thuật ngữ chuyên sâu, người ta phải dùng bộ Từ điển chuyên dùng. Từ điển phổ thông không thể là tiêu chuẩn duy nhất đúng cho mọi trường hợp. Dùng thước đo khác nhau để định giá là điều ông Hảo nhiều lần bài bác thì chính ông lại mắc. Đã vậy, khi có người chép điều giải nghĩa trong Từ điển tiếng Việt thì ông lại cho là ăn cắp! Cầm cân nảy mực như ông, ai còn biết đặt chân đặt tay vào đâu? Mặt khác, nhiều lần ông tiền hậu bất nhất. Ở trang 323 ông viết: “ Như vậy, tôn giáo phồn thực thờ cơ quan sinh dục nam nữ và thờ hành động giao phối do ông Thêm gán ghép cho dân tộc ta suốt 4. 000 năm lịch sử là việc làm rất chủ quan”. Nhưng khi để bảo vệ mình, ông Hảo lại vội vã học theo Đỗ Lai Thúy để khẳng định: “... Tín ngưỡng phồn thực là cơ sở xâu xa của tâm linh Việt, là nguồn gốc của văn hóa dâm tục và trên cái nền này mọc ra Hồ Xuân Hương...”i (Văn hóa văn nghệ Công an 12/ 99, trang 83). Nghiên cứu hệ thống tư duy và tri thức của ông Hảo, chúng tôi cảm nhận rằng: do thiếu một vốn văn hóa hệ thống và cơ bản nên nhièu khi kiến thức ông bấp bênh. Bên cạnh những điều rất sâu đôi khi bộc lộ cái ấu trĩ đến không ngờ. Nhưng cả hai cực đó phần nhiều lại là kiến thức cóp nhặt từ sách này sách khác chưa được tiêu hóa. Chính vì vậy không ít bài viết của ông Hảo trở thành mê hồn trận của lý sự cù nhầy không ích lợi gì cho văn chương. Nhiều kiến giải của ông bộc lộ những sai lầm bất cập có hại. 2. Cuốn sách thiếu tính thiện Sự xuất hiện của cây bút phê bình sách giáo khoa Văn học như ông Hảo không phải là bất thường mà dường như phản ánh đúng quy luật của cuộc sống: ở đầu thiên niên kỷ này, xã hội Việt Nam có nhu cầu định giá lại nhiều gía trị. Điều này là lành mạnh bởi cần nhìn lại để phát triển. Vấn đề là ở đây, hòn đá thử vàng ở đây là: nhìn nhận, định giá theo nhãn quan nào? Nửa thế kỷ vừa qua, những cơn bão cách mạng luôn thét gào trong xã hội Việt Nam. Tất cả vì thắng lợi của sự nghiệp cách mạng là yêu cầu thường trực là bắt buộc với mọi thành viên cộng đồng. Văn học nói chung và sách giáo khoa nói riêng cũng không thoát khỏi đòi hỏi bức xúc đó. Chính vì vậy chúng ta phải đưa kiệt tác Chinh phụ ngâm ra khỏi học đường. Các nhà phê bình rồi nhà giáo biến Hồ Xuân Hương thành chiến sĩ chống phong kiến... Ngày nay, đọc lại nhiều bài viết trên sách báo trước đây kể cả trong sách giáo khoa ta không khỏi có lúc cười ra nước mắt về một thời non dại. Các nhà giáo, ngoài một số ít người cơ hội vì lợi ích cá nhân tự nguyện đẩy việc phục vụ chính trị tới mức cực đoan, số dông vẫn giữ được cái tâm của mình khi làm sách. Nhờ chữ trinh còn một chút này mà sách giáo khoa đạt được chuẩn mực khoa học nhất định và đã trang bị kiến thức văn học cho hàng triệu người. Giữa công lớn ấy và sai lầm của người thầy, nên cân phân thế nào cho phải lẽ? Đâu là sai lầm chủ quan của người làm sách đâu là những hạn chế mang tính thời đại? Nếu bây giò, được hưởng lợi từ cuộc đổi mới, người đi sau đứng ra vạch mặt chí trán “nhận diện” người đi trước có sai sót rồi phang (chữ quen dùng của Trần Mạnh Hảo) cho đã giận, cho bật ra sự nổi trội của mình, phải chăng là thái độ khoa học là cận nhân tình? Mười năm trước, khi bắt tay vài đổi mới, những người cầm bút đã nhắc nhau: hãy cẩn trọng khi phê bình người thầy thuốc và thầy giáo vì sau họ là người bệnh là học trò! Thật đáng buồn là trong sách của mình, nhà thơ Trần Mnạh Hảo nỡ buông giọng khi đay nghiến chì chiết, lúc mỉa mai, khi hả hê đắc thắng trước sai sót của người khác. Thực lòng chúng tôi không hình dung nổi sau những cú đòn như vậy, liệu các thầy giáo có còn tâm trí để bước lên bục giảng? Chính vì vậy, khi cầm cuốn sách trên tay, chúng tôi thấy nhức nhối. Cuốn sách thiếu tính thiện, xa lạ với truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc. 3. Đôi điều bàn góp Việc cuốn Văn học- phê bình, nhận diện ra đời là hiện tượng nổi cộm trên lãnh vực văn chương và giáo dục. Người ta có thể chê tác giả ác, chê những khiếm khuyết về học thuật nhưng không thể không thừa nhận rằng, việc xới lên, việc dóng hồi chuông báo động với xã hội một vấn đề bức xúc như vậy của ngành giáo dục là việc làm có ích. Đánh lẽ từ lâu rồi ngành giáo dục phải thấy và sửa chữa thiếu sót của mình. Chẳng những không làm việc đó mà khi có hàng loạt bài báo phê bình sách giáo khoa, lẽ ra ngành giáo dục phải tiếp xúc với tác giả tiếp thụ phê bình thì lại làm ngơ coi như không có chuyện gì đồng thời chủ trương sửa sách một cách cập rập chắp vá. Chính vì vậy việc không nên có đã xảy ra... Và bây giờ cuốn sách đã ra đời, tư tưởng đã đi vào công chúng. Người thực sự hiểu biết sẽ đánh giá nó đúng theo phẩm chất của nó. Tiếc rằng không ít người sẽ hiểu nó theo những lời đồn đại sai lầm. Chính vì vậy, chúng tôi đề nghị Bộ giáo dục và Hội nhà văn cần có cuộc hội thảo về cuốn sách này để có kết luận: điều gì ông Hảo phát hiện đúng thì phải sửa. Điều ông Hảo phê sai cũng cần nói lại cho rành rẽ. Tháng giêng năm Rồng H.V.T (136/06-00) |
Tải mã QRCode
VÕ QUANG YẾN Tôi yêu tiếng nước tôi Từ khi mới ra đời làm người Phạm Duy
PHẠM NGUYÊN TƯỜNGKhao khát, đinh ninh một vẻ đẹp trường tồn giữa "cuộc sống có nhiều hư ảo", Vú Đá, phải chăng đó chính là điều mà kẻ lãng du trắng tóc Nhất Lâm muốn gửi gắm qua tập thơ mới nhất của mình? Bài thơ nhỏ, nằm nép ở bìa sau, tưởng chỉ đùa chơi nhưng thực sự mang một thông điệp sâu xa: bất kỳ một khoảnh khắc tuyệt cảm nào của đời sống cũng có thể tan biến nếu mỗi người trong chúng ta không kịp nắm bắt và gìn giữ, để rồi "mai sau mang tiếng dại khờ", không biết sống. Cũng chính từ nhận thức đó, Nhất Lâm luôn là một người đi nhiều, viết nhiều và cảm nghiệm liên tục qua từng vùng đất, từng trang viết. Câu chữ của ông, vì thế, bao giờ cũng là những chuyển động nhiệt thành nhất của đời sống và của chính bản thân ông.
MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNHTôi nghe rằng,Rạch ròi, đa biện, phân minh, khúc chiết... là ngôn ngữ khôn ngoan của lý trí nhị nguyên.Chan hoà, đa tình, niềm nỗi... là ngôn ngữ ướt át của trái tim mẫn cảm.Cô liêu, thuỷ mặc, bàng bạc mù sương, lấp ló trăng sao... là ngôn ngữ của non xanh tiểu ẩn.Quán trọ, chân cầu, khách trạm, phong trần lịch trải... là ngôn ngữ của lãng tử giang hồ.Điềm đạm, nhân văn, trung chính... là ngôn ngữ của đạo gia, hiền sĩ.
MAI VĂN HOANTập I hồi ký “Âm vang thời chưa xa” của nhà thơ Xuân Hoàng ra mắt bạn đọc vào năm 1995. Đã bao năm trôi qua “Âm vang thời chưa xa” vẫn còn âm vang trong tâm hồn tôi. Với tôi, anh Xuân Hoàng là người bạn vong niên. Tôi là một trong những người được anh trao đổi, trò chuyện, đọc cho nghe những chương anh tâm đắc khi anh đang viết tập hồi ký để đời này.
NGUYỄN KHẮC PHÊ giới thiệuNhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà phê bình Hoài Thanh (1909-2009)Chúng ta từng biết cố đô “Huế Đẹp và Thơ” một thời là nơi hội tụ các văn nhân, trong đó có những tên tuổi kiệt xuất của làng “Thơ Mới” Việt Nam như Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên…; nhưng nhà phê bình Hoài Thanh lại đến với Huế trong một hoàn cảnh đặc biệt và có thể nói là rất tình cờ.
LÊ TRỌNG SÂM giới thiệuBà sinh ra và lớn lên ở Painpol và Saint-Malo, một đô thị cổ vùng Bretagne, miền đông bắc nước Pháp. Học trung cấp và tốt nghiệp cử nhân văn chương ở thành phố Nice, vùng xanh da trời miền nam nước Pháp. Là hội viên Hội nhà văn Pháp từ năm 1982, nay bà đã trở thành một trong số ít nhà văn Châu Âu đã tiếp thu và thâm nhập sâu sắc vào rất nhiều khía cạnh của văn hoá Việt Nam.
MAI VĂN HOAN giới thiệu Vĩnh Nguyên tên thật là Nguyễn Quang Vinh. Anh sinh năm 1942 (tuổi Nhâm Ngọ) ở Vĩnh Tuy, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Bố anh từng tu nghiệp ở Huế, ông vừa làm thầy trụ trì ở chùa vừa bốc thuốc chữa bệnh cho người nghèo. Thuở thiếu thời anh đã ảnh hưởng cái tính ngay thẳng và trung thực của ông cụ. Anh lại cầm tinh con ngựa nên suốt đời rong ruổi và “thẳng như ruột ngựa”.
LGT: Vài năm lại đây, sau độ lùi thời gian hơn 30 năm, giới nghiên cứu văn học cả nước đang xem xét, nhận thức, và đánh giá lại nền “Văn học miền Nam” (1954 - 1975) dưới chế độ cũ, như một bộ phận khăng khít của văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XX với các mặt hạn chế và thành tựu của nó về nghệ thuật và tính nhân bản. Văn học của một giai đoạn, một thời kỳ nếu có giá trị thẩm mỹ nhân văn nhất định sẽ tồn tại lâu hơn bối cảnh xã hội và thời đại mà nó phản ánh, gắn bó, sản sinh. Trên tinh thần đó, chúng tôi trân trọng giới thiệu bài viết vừa có tính chất hồi ức, vừa có tính chất nghiên cứu, một dạng của thể loại bút ký, hoặc tản văn về văn học của tác giả Nguyễn Đức Tùng, được gửi về từ Canada. Bài viết dưới đây đậm chất chủ quan trong cảm nghiệm văn chương; nó phô bày cảm nghĩ, trải nghiệm, hồi ức của người viết, nhưng chính những điều đó làm nên sự thu hút của các trang viết và cả một quá khứ văn học như sống động dưới sự thể hiện của chính người trong cuộc. Những nhận định, liên hệ, so sánh, đánh giá trong bài viết này phản ánh lăng kính rất riêng của tác giả, dưới một góc nhìn tinh tế, cởi mở, mang tính đối thoại của anh. Đăng tải bài viết này chúng tôi mong muốn góp phần đa dạng hóa, đa chiều hóa các cách tiếp cận về văn học miền Nam. Rất mong nhận được các ý kiến phản hồi của bạn đọc. TCSH
MAI VĂN HOAN giới thiệuNăm 55 tuổi, Hồng Nhu từng nhiều đêm trăn trở, băn khoăn lựa chọn việc trở về quê hay ở lại thành phố Vinh - nơi anh gắn bó trọn hai mươi lăm năm với bao kỷ niệm vui buồn. Và cuối cùng anh đã quyết tâm trở về dù đã lường hết mọi khó khăn đang chờ phía trước. Nếu không có cái quyết định táo bạo đó, anh vẫn là nhà văn của những thiên truyện ngắn Thuyền đi trong mưa ngâu, Gió thổi chéo mặt hồ... từng được nhiều người mến mộ nhưng có lẽ sẽ không có một nhà văn đầm phá, một nhà thơ “ngẫu hứng” như bây giờ.
LÊ HỒNG SÂMTìm trong nỗi nhớ là câu chuyện của một thiếu phụ ba mươi tám tuổi, nhìn lại hai mươi năm đời mình, bắt đầu từ một ngày hè những năm tám mươi thế kỷ trước, rời sân bay Nội Bài để sang Matxcơva du học, cho đến một chiều đông đầu thế kỷ này, cũng tại sân bay ấy, sau mấy tuần về thăm quê hương, cô cùng các con trở lại Pháp, nơi gia đình nhỏ của mình định cư.
NGUYỄN KHẮC PHÊ (Đọc “Cạn chén tình” - Tuyển tập truyện ngắn Mường Mán, NXB Trẻ, 2003)Với gần 40 năm cầm bút, với hơn hai chục tác phẩm văn xuôi, thơ và kịch bản phim, nhà văn Mường Mán là một tên tuổi đã quen thuộc với bạn đọc, nhất là bạn đọc trẻ. Có lẽ vì ấn tượng của một loạt truyện dài mà ngay từ tên sách (Lá tương tư, Một chút mưa thơm, Bâng khuâng như bướm, Tuần trăng mê hoặc, Khóc nữa đi sớm mai v...v...) khiến nhiều người gọi ông là nhà văn của tuổi học trò, trên trang sách của ông chỉ là những “Mùa thu tóc rối, Chiều vàng hoa cúc...”.
NGUYỄN VĂN HOATranh luận Văn Nghệ thế kỷ 20, do Nhà xuất bản lao động ấn hành. Nó có 2 tập: tập 1 có 1045 trang và tập 2 có 1195 trang, tổng cộng 2 tập có 2240 trang khổ 14,4 x 20,5cm. bìa cứng, bìa trang trí bằng tên các tờ báo, tạp chí có tư liệu tuyển trong bộ sách này.
VĨNH CAO - PHAN THANH HẢIVườn Thiệu Phương là một trong những Ngự uyển tiêu biểu của thời Nguyễn, từng được vua Thiệu Trị xếp là thắng cảnh thứ 2 trong 20 cảnh của đất Thần Kinh. Nhưng do những nguyên nhân lịch sử, khu vườn này đã bị triệt giải từ đầu thời vua Ðồng Khánh (1886-1889) và để trong tình trạng hoang phế mãi đến ngày nay. Trong những nỗ lực nhằm khắc phục các "không gian trắng" tại Tử Cấm Thành và phục hồi các khu vườn ngự của thời Nguyễn, từ giữa năm 2002, Trung tâm BTDTCÐ Huế đã phối hợp với Hội Nghệ thuật mới (Pháp) tổ chức một Hội thảo khoa học để bàn luận và tìm ra phương hướng cho việc xây dựng dự án phục hồi khu vườn này.
HỒNG DIỆUNhà thơ Cao Bá Quát (1809-1854) được người đời hơn một thế kỷ nay nể trọng, với cả hai tư cách: con người và văn chương. "Thần Siêu, thánh Quát", khó có lời khen tặng nào cao hơn dành cho ông và bạn thân của ông: Nguyễn Văn Siêu (1799-1872).
HÀ VĂN THỊNHI. Có lẽ trong nhiều chục năm gần đây của lịch sử thế giới, chưa có một nhà sử học nào cũng như chưa có một cuốn sách lịch sử nào lại phản ánh những gì vừa xẩy ra một cách mới mẻ và đầy ấn tượng như Bob Woodward (BW). Hơn nữa đó lại là lịch sử của cơ quan quyền lực cao nhất ở một cường quốc lớn nhất mọi thời đại; phản ánh về những sự kiện chấn động nhất, nghiêm trọng nhất đã diễn ra trong ba năm đầu tiên của thiên niên kỷ mới: sự kiện ngày 11/9, cuộc chiến tranh Afganistan và một phần của cuộc chiến tranh Iraq.
ĐẶNG TIẾN (Đọc Hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp)Một tờ báo ở ngoài nước đã giới thiệu bốn cuốn hồi ức của Đại tướng Võ Nguyễn Giáp mới xuất bản. Dĩ nhiên là một bài báo không thể tóm lược được khoảng 1700 trang hồi ký viết cô đúc, nhưng cũng lảy ra được những đặc điểm, ý chính và trích dẫn dồi dào, giúp người đọc không có sách cũng gặt hái được vài khái niệm về tác phẩm.
NGUYỄN THỊ ANH ĐÀO (Đọc tập truyện ngắn “Trà thiếu phụ” của nhà văn Hồng Nhu – NXB Hội Nhà văn 2003)Tôi đã được đọc không ít truyện ngắn của nhà văn Hồng Nhu và hầu như mỗi tập truyện đều để lại trong tôi không ít ấn tượng. Trải dài theo những dòng văn mượt mà, viết theo lối tự sự của nhà văn Hồng Nhu là cuộc sống muôn màu với những tình cảm thân thương, nhiều khi là một nhận định đơn thuần trong cách sống. Nhà văn Hồng Nhu đi từ những sự việc, những đổi thay tinh tế quanh mình để tìm ra một lối viết, một phong cách thể hiện riêng biệt.
ĐỖ QUYÊN…Đọc thơ Bùi Giáng là thuốc thử về quan niệm thơ, về mỹ học thi ca. Đã và sẽ không ai sai nhiều lắm, cũng không ai đúng là bao, khi bình bàn về thơ họ Bùi. Nhắc về cái tuyệt đỉnh trong thơ Bùi Giáng, độ cao sâu tư tưởng ở trước tác Bùi Giáng nhiều bao nhiêu cũng thấy thiếu; mà chỉ ra những câu thơ dở, những bài thơ tệ, những đoạn văn chán trong chữ nghĩa Bùi Giáng bao nhiêu cũng bằng thừa…
LÊ THỊ HƯỜNGTrong căn phòng nhỏ đêm khuya, giai điệu bản sonat của Beethoven làm ta lặng người; một chiều mưa, lời nhạc Trịnh khiến lòng bâng khuâng; trong một quán nhỏ bên đường tình cờ những khúc nhạc một thời của Văn Cao vọng lại làm ta bất ngờ. Và cũng có thể giữa sóng sánh trăng nước Hương Giang, dìu dặt, ngọt ngào một làn điệu ca Huế khiến lòng xao xuyến.
NGÔ MINHĐến tập thơ chọn Giếng Tiên (*), nhà thơ - thầy giáo Mai Văn Hoan đã gửi đến bạn yêu thơ 5 tập thơ trữ tình, trong đó có hai tập thơ được tái bản. Đó là tập đầu tay Ảo ảnh, in năm 1988, tái bản 1995 và tập Hồi âm, in năm 1991, tái bản năm 2000. 15 năm xuất bản 7 đầu sách (2 tập tiểu luận) và đang có trong ngăn kéo vài tập bản thảo tiểu luận nữa, chứng tỏ sức sáng tạo sung mãn đáng nể trọng của một thầy giáo vừa dạy học vừa sáng tác văn chương.