Về húy, tự, hiệu của danh nhân Nguyễn Cư Trinh

08:35 20/09/2017

VÕ VINH QUANG

Nguyễn Cư Trinh 阮居貞 (1716 - 1767) là danh nhân nổi bật đất Phú Xuân ở thế kỷ XVIII. Ông là con thứ 7 của Nguyễn Đăng Đệ (1669 - 1727) với bà vợ thứ Ngô Thị Liên (1692 - 1726)1.

Ảnh: internet (chỉ mang tính minh họa)

Vốn xuất thân là Văn thần, song thành tựu rực rỡ trong sự nghiệp của Nguyễn Cư Trinh chính từ con đường Võ nghiệp. Ông có công lao rất lớn trong việc dẹp yên giặc Thạch Bích (mọi Đá Vách) ở Quảng Ngãi năm Canh Thân (1750), và nhất là giúp ổn định tình hình, phát triển đời sống của nhân dân cũng như định lại ranh giới, mở mang thêm một vùng đất cực Nam của biên cương tổ quốc (hơn 10 năm cai quản vùng biên viễn, từ Quý Dậu (1753) đến Ất Dậu (1765)).

Với sự nghiệp rỡ ràng, uy danh vượt bật, tên tuổi của ông được sử sách ghi nhận, là bậc “khai quốc công thần” hiển hách công lao. Nhất là cho đến nay, Nguyễn Cư Trinh vẫn được nhân dân nhiều nơi, nhất là ở Nam bộ (như An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long…) sùng kính, phụng thờ.

Có khá nhiều công trình sử học, văn hóa, văn học… đã viết về Tân Minh hầu Nguyễn Cư Trinh, vinh danh công lao tài nghệ cũng như sự nghiệp văn chương của ông. Dẫu vậy, vấn đề về các tên gọi (húy, tự, hiệu…) nền tảng quan trọng của Nguyễn Cư Trinh hầu như vẫn chưa được thống nhất.

Tại Phủ biên tạp lục, quyển 5 撫邊雜錄 (第五卷), khi nói về Nhân tài và văn thơ ở Đàng Trong, Lê Quý Đôn viết: Nguyễn Cư Trinh hiệu Đạm Am, Hương Trà An Hòa nhân 阮居貞號澹庵香茶安和人2 nghĩa là: Nguyễn Cư Trinh hiệu Đạm Am, người làng An Hòa, huyện Hương Trà.

Sách Đại Nam liệt truyện tiền biên, quyển 5 大南列傳前編, 第五卷 thì ghi chép rằng: Nguyễn Cư Trinh, tự Nghi, hiệu Đạm Am, Đăng Đệ chi quý tử dã. 阮居貞字儀號澹庵登第季子也3 nghĩa là: Nguyen Cư Trinh, tên tự là Nghi, hiệu Đạm Am, là con út Đăng Đệ.

Sách Đại Nam nhất thống chí, quyển 3 大南一統志第三卷, phần Thừa Thiên phủ, mục Nhân vật thì viết: Nguyễn Cư Trinh tự Nghi, hiệu Đạm Am, Nguyễn Đăng Đệ quý tử dã. 阮居貞字儀號澹庵阮登第季子也4 nghĩa là: Nguyễn Cư Trinh tên tự Nghi, hiệu Đạm Am, con út của Nguyễn Đăng Đệ vậy.

Trong khoảng từ thế kỷ XX đến nay, ở các công trình nghiên cứu liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Cư Trinh, các nhà nghiên cứu đa phần trích dẫn về tên húy, tự, hiệu vị Tân Minh hầu trên theo thông tin được Đại Nam liệt truyện cung cấp (chẳng hạn như ở phần “Thân thế và sự nghiệp” trong Nguyễn Cư Trinh với tư tưởng Trung đạo5; Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam6).

Bên cạnh đó, vẫn có một số ý kiến khác hơn về tên húy, tự, hiệu của ông (không theo thông tin từ Đại Nam liệt truyện). Điển hình như ở Thơ văn Nguyễn Cư Trinh, tác giả trình bày rằng: “Nguyễn Cư Trinh thuộc nhánh Đạt Lý, họ Nguyễn Đăng ở làng An Hòa xã Hương Sơn ngoại thành Huế. Theo gia phả họ Nguyễn Đăng thì Nguyễn Cư Trinh tên thật là Nguyễn Đăng Nghi, húy là Thịnh, tự là Cư Trinh và Nghi Biểu, hiệu là Đạm Am và Hạo Nhiên, tước Nghi Biểu hầu, sau đổi là Tân Minh hầu7

Sự chưa thống nhất giữa các công bố về húy, tự, hiệu của Nguyễn Cư Trinh khiến cho việc tìm hiểu chuẩn xác trên mọi bình diện về ông sẽ khó lòng được đáp ứng.

Hơn nữa, trong quan niệm truyền thống của ông cha ta, việc đặt tên cho con cháu như húy, tự, hiệu… luôn bao hàm những ý nghĩa sâu xa. Đó là sự mong muốn, hy vọng cháu con trong tương lai sẽ tài đức vẹn toàn, công nghiệp rỡ ràng và đem tài “kinh bang tế thế” ra để giúp nước phò dân, hoặc góp phần vun bồi truyền thống gia phong đầy trân quý của dòng tộc… Các tên gọi (như tên húy, tên tự, tên hiệu) trong suy nghiệm của người xưa rõ ràng ứng với nhân cách, bao quát cả cuộc đời, chất chứa hoài bão của tiền nhân cũng như của ngay chính người được đặt tên ấy. Thế nên, chúng tôi thiết nghĩ việc “giải mã” những tên gọi vốn có của các bậc danh hiền, mà tiêu biểu ở đây là vị danh nhân Nguyễn Cư Trinh là điều rất cần thiết nhằm góp phần tìm hiểu sâu sắc, đầy đủ hơn về ông.

Do đó, tại bài viết này, chúng tôi xin góp thêm phần kiến giải của mình về các tên gọi như húy, tự, hiệu… của Nguyễn Cư Trinh trên cơ sở những thông tin từ gia phả Nguyễn Đăng - An Hòa và các nguồn tư liệu liên quan.

Gia phả tộc Nguyễn Đăng - An Hòa, trang 22, mục Nguyễn Cư Trinh (Tư liệu do ông Nguyễn Đăng Anh, tộc trưởng tộc Nguyễn Đăng - An Hòa cung cấp)*


Theo Gia phả Nguyễn Đăng - An Hòa, thông tin về húy, tự, hiệu của Nguyễn Cư Trinh được trình bày như sau: Nguyễn Cư húy Trinh: bổn húy Đăng Nghi, tự Đạm Am, hiệu Hạo Nhiên. Đường quan hiệu Nghi Biểu 阮居諱貞: 本諱登儀,字澹庵,号浩然。 堂官号儀表8 nghĩa là: Nguyễn Cư tên húy Trinh, vốn húy Đăng Nghi, tên tự Đạm Am, hiệu Hạo Nhiên. Khi ở  chốn quan trường thì có hiệu (chính  xác phải là tước) Nghi Biểu [hầu]. Vậy, trước các thông tin kha khác biệt giữa Phủ biên tạp lục, Đại Nam liệt truyện, Đại Nam nhất thống chí với Gia phả Nguyễn Đăng - An Hòa… như thế, liệu nguồn thông tin nào khả dĩ đáng tin cậy nhất? Trong quan niệm của chúng tôi, phần ghi chép ở Gia phả Nguyễn Đăng - An Hòa có tính xác thực cao hơn. Bởi lẽ con cháu ghi chép và lưu truyền về tiểu sử, sự nghiệp của ông cha thì rất hiếm khi bị nhầm lẫn.

Theo đó, vị Nghi Biểu hầu này có tên húy Trinh 貞 (Cư Trinh 居貞). Ông vốn tên húy Nghi 儀 (Đăng Nghi 登儀)9, tự Đạm Am 澹庵, hiệu Hạo Nhiên 浩然  Nói về truyền thống đặt tên của người Việt, tên húy - tên tự - tên hiệu luôn có mối quan hệ qua lại, bổ sung ý nghĩa, tương hỗ lẫn nhau.

Tên húy là “tên chính thức trong giấy tờ hành chính để học hành, thi cử, làm quan… Lúc con trai đủ 20 tuổi Âm lịch sẽ làm lễ gia quán (加冠) - đội mũ, biểu thị sự trưởng thành và từ đây bắt đầu kiêng húy. Kiêng húy là phong tục cấm gọi tên húy của người đã “đội mũ”…10.

Tên tự là tên gọi của người con trai trưởng thành sau khi làm lễ “gia quán”, được cha mẹ hoặc trực tiếp, hoặc nhờ người hay chữ chọn lựa chữ nghĩa phù hợp nhất để đặt cho con mình. “Đặt tên tự vô cùng quan trọng, làm sao bao hàm nghĩa, hoặc mở rộng nghĩa của tên húy, đặc biệt có định hướng tương lai. Cách đặt tên tự, người ta thường dùng danh ngôn, thành ngữ, điển cố, những dòng thơ đẹp… để chọn lấy hai chữ ghép thành tên tự mà vừa thay những câu kia, vừa chứa đựng nghĩa tên húy11.

Và, tên hiệu là tên gọi do chính người trưởng thành đó tìm chọn tên gọi chuẩn xác nhất cho mình, sau khi đã có tên tự, “Đặt tên hiệu tương tự như đặt tên tự: bao hàm, hoặc mở rộng nghĩa tên húy12.

Vậy tên húy, tên tự và tên hiệu của vị danh nhân đất An Hòa này có mối quan hệ thế nào với nhau? Chúng tôi xin góp một số ý kiến nhỏ dưới đây:

Như đã nói, ông tên húy Trinh 貞. Về ý nghĩa, Trinh 貞 có nghĩa là khí tiết trong sạch, liêm khiết, ngay thẳng, khảng khái, chính nghĩa.

Lời Thoán từ ở quẻ Thủy địa sư 地水師 của Kinh Dịch rằng: 師: 貞,丈人, 吉.無咎 (Sư, trinh, trượng nhân, cát. Vô cữu). Phần Thoan truyện minh giải nghĩa Thoán từ là: Sư, chúng dã. Trinh, chính dã. Năng dĩ chúng chính, khả dĩ vương hĩ. Cương trung nhi ứng, hành hiểm nhi thuận, dĩ thử độc thiên hạ nhi dân tòng chi. Cát. Hựu hà cữu hĩ 師眾也,貞正也。能以眾正,可以王矣。剛中而 應,行險而順,以此毒天下而民從之。吉。又何咎矣 (Dịch: Sư (Quân đội) là sự tập hợp của nhiều người đông đúc. Trinh là tính ngay thẳng, chính nghĩa. Lấy tính chính đáng hợp lòng người để hưng binh thì mới xứng tầm là bậc quân vương tài đức. Giữ đức ngay chính trực thì muôn chúng ứng theo, đi vào chỗ hiểm nguy mà thuận theo đúng chính đạo thì lòng dân của cả thiên hạ cũng theo phò tá mình, điều đó chỉ đem lại sự tốt lành, chừ đâu thể có lỗi lầm được.)

Từ ý nghĩa của chữ Trinh 貞 suy ra Cư Trinh 居貞 bao hàm nghĩa cư xử, xử lý mọi điều hợp theo chính đạo”. Hào lục ngũ 六五 trong quẻ Di 頤卦 của Kinh Dịch viết rằng: Tượng viết: cư trinh chi cát, thuận dĩ tòng thượng dã 象 曰: 居貞之吉,順以從上也 (nghĩa là: Lời tượng nói rằng cư xử chuẩn mực, hợp với chính đạo thì rất tốt đẹp, thuận theo bậc hiền lương chính trực để di dưỡng (dưỡng nuôi) đạo lý vậy).

Cũng trong trường nghĩa của Trinh 貞 (và Cư Trinh 居貞), chúng tôi cho rằng hàm ý chữ được chọn dùng làm tên húy của vị Tân Minh hầu, người tộc Nguyễn Đăng này ứng với quẻ Truân 屯卦 (hay còn gọi là quẻ Thủy lôi truân 水雷屯卦) của Kinh Dịch. Cụ thể, hào Sơ cửu 初九 của quẻ Truân này nói rằng: Sơ cửu: bàn hoàn, lợi cư trinh, lợi kiến hầu 初九: 磐桓,利居貞,利 建侯 (nghĩa là: Hào chín đầu: quanh co, lợi về sự cư xử ngay thẳng bền bỉ, lợi về việc tạo dựng tước hầu.) Tác giả Ngô Tất Tố giải nghĩa hào Sơ cửuquẻ Truân này căn cứ theo truyện của Trình Di như sau: “Truyện của Trình Di: Hào đầu là hào dương, ở dưới, tức là kẻ có tài cương minh, gặp đời truân nan mà ở ngôi dưới. Chưa thể đi ngay cho qua cảnh truân, nên phải quanh co. Đương buổi đầu hồi truân, nếu không quanh co mà vội tiến lên, thì phạm vào nạn, cho nên ta phải có một cách chính đính mà giữ cho bền chí. Nếu không giữ được chính đính vững bền, thì sẽ trái nghĩa, qua sao được cảnh truân. Ở đời truân, đương bị gian nan ở dưới, nên có kẻ giúp, đó là cái đạo ở cảnh truân và qua cảnh truân, cho nên mới dùng nghĩa “dựng tước hầu” tức là tìm người giúp đỡ vậy13

Như thế, xét về tổng quát, quẻ Truân mang hàm ý rằng: muốn đạt được thành tựu lớn về mọi mặt thì cần tu dưỡng đức hạnh, tài năng hướng theo sự ngay thẳng chính trực và mọi việc đều cư xử ứng theo chính đạo (cư trinh 居貞), không được vội vàng gấp gáp, mà phải điềm tĩnh để chờ cơ hội vươn lên. Khi hành động, cần được người tốt giúp đỡ (lợi kiến hầu), như thế sẽ đạt thành hiệu quả.

Từ ý trên, chúng ta thấy tên tự Đạm Am 澹庵 ([bậc] giữ mình điềm tĩnh ở ngôi nhà tranh) nằm cùng trường nghĩa với tên húy Trinh 貞 (Cư Trinh 居 貞: cư xử đúng theo chính đạo), nhằm bổ sung, tương hỗ qua lại về ý nghĩa cho nhau (tuân theo chính đạo giữ điềm tĩnh, không nóng vội) như nội hàm quẻ Truân đã thể hiện.

Về tên hiệu Hạo Nhiên 浩然: Từ này có các ý nghĩa như sau: (1) nghĩa ban đầu là nguồn nước mênh mông rộng lớn (hạo 浩 là mênh mông, to lớn, lênh láng; nhiên 然 là như thế), từ đó phái sinh ý nghĩa chỉ về những gì to lớn vĩ đại mênh mông (2) tả dáng vẻ cương trực ngay thẳng, quang minh chính đại, hào sảng phi thường (ví dụ như: hạo nhiên chính khí 浩然正氣: khí chất ngay thẳng rõ ràng, quang minh chính đại. Sách Mạnh tử 孟子, thiên Công Tôn Sửu chương cú thượng 公孫丑章句上 ghi chép về câu chuyện đối đáp giữa Công Tôn Sửu và Mạnh tử có đoạn: 敢問夫子惡乎長.曰:我知言,我善養吾浩然之氣 (cảm vấn Phu tử ô hô trường? viết: ngã tri ngôn, ngã thiện dưỡng ngô hạo nhiên chi khí) nghĩa là: Công Tôn Sửu hỏi: “dám hỏi thầy về sự chẳng động tâm của thầy? Thầy có sở trường gì? Mạnh tử trả lời: Ta hiểu rõ ý ngươi, ta khéo bồi dưỡng cái khí hạo nhiên của mình (tức chí khí quang minh hùng hậu của bậc chính đạo, đức hạnh).

Vậy, chữ hạo nhiên 浩然 bao hàm ý nghĩa phái sinh (nghĩa thứ 2) là khí chất quang minh chính trực ngay thẳng rõ ràng. Nghĩa này khá tương đồng với hàm nghĩa của tên húy Trinh 貞 (Cư Trinh 居貞), tức đều thể hiện sự thẳng thắng, cương cường quang minh chính khí (trinh, chính dã 貞正也).

Từ các chứng minh trên, chúng tôi đi đến kết luận rằng vị “khai quốc công thần” người tộc Nguyễn Đăng của vùng đất An Hòa này có tên húy Trinh 貞 (Cư Trinh 居貞), tự là Đạm Am 澹庵 và hiệu Hạo Nhiên 浩然. Đồng thời, mối quan hệ giữa tên húy - tự - hiệu của ông là quan hệ bổ sung, tương hỗ về ý nghĩa với nhau. Điều đó cũng góp phần chứng tỏ những ghi chép trong Gia phả Nguyễn Đăng - An Hòa là chính xác.

Hi vọng rằng phần công bố trên đây của chúng tôi sẽ góp phần đính chính lại những nhầm lẫn của các công trình trước đây như Phủ biên tạp lục, Đại Nam liệt truyện, Đại Nam nhất thống chí, Nguyễn Cư Trinh với tư tưởng trung đạo, Việt sử xứ Đàng Trong, Văn học Nam Hà (Văn học Đường Trong thời phân tranh), Thơ văn Nguyễn Cư Trinh… khi giới thiệu về các tên gọi (húy, tự, hiệu) của Tân Minh hầu14 Nguyễn Cư Trinh.

V.V.Q
(TCSH343/09-2017)

---------------------
1. Theo Gia phả Nguyễn Đăng-An Hòa (Bảo Đại thứ 12 [1937], do ông trưởng tộc Nguyễn Đăng Anh  cung cấp) thì Ngô Thị Liên 吳氏蓮 là bà vợ thứ của ông Nguyễn Đăng Đệ. Bà là người Lang Kiều,  Tống Sơn (Thanh Hóa), con gái út của ông Ngô Thuần làm Cai đội Quảng Nam. Ngô Thị Liên sinh  vào tháng Giêng năm Nhâm Thân (1692). Bà là người công dung ngôn hạnh vẹn toàn, sinh được 5  người con trai, 10 người con gái. Bà mất vào ngày 28 tháng 5 năm Bính Ngọ (1726) lúc 35 tuổi, thụy  Trang Nhàn thục nhân. Mộ bà sau này được con cháu thiên táng (di dời để chôn) ở trên mỏm núi  xứ Kiều Khê, vùng Trúc Lâm Ngũ Khê (gần cạnh con đường lên chùa Huyền Không Sơn Thượng,  cách chùa khoảng 1 km). Nghi Biểu hầu Nguyễn Cư Trinh là con trai thứ 7 của ông Nguyễn Đăng  Đệ, nhưng là con trai thứ 3 của ông với bà Ngô Thị Liên. Trước đó, bà nguyên phối (vợ cả) Nguyễn  Thị Luân của ông Nguyễn Đăng Đệ đã sinh được 4 người con trai là Đăng Nhật, Đăng Sồ, Đăng  Đạo, Đăng Sề.

2. Nguồn: Phủ biên tạp lục, quyển 5 (chữ Hán), Thư viện Quốc gia Việt Nam, ký hiệu: R.1606, trang 02.
3. Nguồn: Đại Nam liệt truyện tiền biên, quyển 5 (chữ Hán), Thư viện Gallica - Pháp, trang 15.  
4. Nguyễn Đăng Thục, “Nguyễn Cư Trinh với tư tưởng trung đạo”, Việt Nam Khảo cổ tập san số 5,  Quốc Vụ khanh Đặc trách văn hóa - Viện Khảo cổ xuất bản, Sài Gòn 1968, tr.39
5. Đinh Xuân Lâm - Trương Hữu Quýnh Cb, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Nxb. Giáo Dục, 2005,  tr. 539
6. Phan Hứa Thụy, Thơ văn Nguyễn Cư Trinh, Nxb. Thuận Hóa, Huế 1989, tr.11
7. Nguồn tư liệu dùng để trích dẫn ở đây lấy từ Gia phả Nguyễn Đăng - An Hòa do Trưởng tộc Nguyễn Đăng Anh  lưu trữ, tờ 11a.
8. Nguồn tưliệu dùng để trích dẫn ở đây lấy từ Gia phả Nguyễn Đăng - An Hòa do Trưởng tộc Nguyễn Đăng  Anh lưu trữ, tờ 11a.
9. Từ khi ông Nguyễn Đăng Đệ (1669 - 1727) nhờ có công lao đóng góp nhiều mặt cho triều đình  Đàng Trong, được chúa Nguyễn đặc ban quốc tính (đổi từ họ Trịnh sang họ Nguyễn của nhà Chúa)  thì con cháu tộc này luôn dùng họ Nguyễn 阮và tên đệm là Đăng 登 để tiếp nối dòng chảy gia tộc  truyền thống của gia tộc mình cho đến nay. Vậy nên, có thể không cần dùng chữ tên đệm Đăng 登 kèm theo tên húy Nghi 儀.

10. PGS.TS Nguyễn Đăng Na, “Tên húy, tên tự, tên hiệu của cụ Nguyễn Đình Chiểu” trích trong  Nguyễn Đăng Na di cảo và hoài niệm, Nxb. Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2015, tr.277.
11, 12. PGS.TS Nguyễn Đăng Na, “Tên húy, tên tự…” , Sđd, tr.278
13. Ngô Tất Tố, Kinh Dịch trọn bộ (tái bản), Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1991, tr.130-131.
14. Tân Minh hầulà tước thứ hai (trước đó, lúc sinh tiền ông được ban tước là Nghi Biểu hầu) của  Nguyễn Cư Trinh được vua Minh Mạng truy phong vào năm Minh Mạng thứ 21 (1840). Cùng với  tước này, nhà vua còn ân ban tên thụy của ông là Văn Khác 文恪 (một số công trình viết tên thụy  Văn Cách là không đúng), nâng lên hàng Khai quốc công thần và cho tòng tự ở Thái miếu.
* Nhân đây, chúng tôi xin kính cám ơn sự giúp đỡ nhiều mặt của tộc Nguyễn Đăng - An Hòa nói  chung, và nhất là tấm thịnh tình, nhiệt huyết của Tộc trưởng Nguyễn Đăng Anh cùng một số anh  em, con cháu trong tộc.   








 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • LÊ HUỲNH LÂM

    Văn chương như một món ăn tinh thần cho mọi người. Đối với những người đam mê, các tác phẩm văn chương như hơi thở, như máu thịt. Ngoài việc là món ăn tinh thần, văn chương như những con đường vươn ra dẫn dắt để nối kết, giao thoa giữa quốc gia này với quốc gia khác, giữa vùng miền văn hóa này với vùng miền văn hóa khác.

  • LÊ VĂN LÂN

    Trong phong trào đô thị Huế, từ phong trào hòa bình 1954 - 1955, phong trào Phật giáo ở Huế những năm 1963 - 1964 đến phong trào li khai ở Huế 1966, có một nhân vật khi nhắc đến hầu như ai cũng biết - đó là bác sĩ Lê Khắc Quyến, nguyên Giám đốc Bệnh viện Trung ương Huế, nguyên Khoa trưởng Đại học Y khoa Huế.

  • ĐỖ MINH ĐIỀN

    Ngày 01/10/2012, một tin vui không chỉ dành riêng cho Huế khi bộ Cửu vị thần công là 1 trong 30 hiện vật/nhóm hiện vật đã được công nhận là Bảo vật Quốc gia Việt Nam.

  • NGUYỄN MINH VỸ
                    Hồi ký

    Thú thật với các bạn Tạp chí Sông Hương và những ai cùng quê là trước Cách mạng Tháng 8-1945 tôi có phần nào "mặc cảm" vì cái gốc Thừa Thiên của mình.

  • LƯƠNG AN

    Vào đầu nửa sau thế kỷ 19, tại Phú Xuân (tức Huế bây giờ), giữa lúc tiếng tăm hai anh em Miên Thẩm và Miên Trinh đang lừng lẫy, một sự kiện bỗng thu hút sự chú ý của giới thơ kinh thành: sự xuất hiện gần như đồng thời của Tam Khanh(1), ba nhà thơ nữ người hoàng tộc, trong đó, Thúc Khanh được ca ngợi nhiều hơn cả.

  • (SHO) Tiến sĩ Lê văn Hảo quê ở Huế, con trai ông Lê Văn Tập - một đại phú gia ở miền Trung, du học Pháp (1953), đỗ Tiến sĩ Đệ Tam cấp ngành Dân tộc học (1961) tại Đại học Sorbonne, làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp (Centre national de la recherche scientifique) một thời gian rồi về nước (1965) giảng dạy Dân tộc học và Văn minh Việt Nam tại các Đại học Văn khòa Huế, Đại học Văn khoa Sài Gòn.

  • Có một người phụ nữ xứ Huế sinh sống và giảng dạy tại CHLB Đức nhưng luôn dành tình trang trọng chiếc áo dài Việt Nam. Bà là TS triết học Thái Kim Lan, với bà, áo dài làm nên một phần bản sắc vẻ đẹp phụ nữ Việt Nam.

  • NGUYỄN HỒNG TRÂN

    Như chúng ta đã biết qua sách sử, cựu Hoàng đế Bảo Đại có 2 người vợ được hôn thú chính thức. Đó là bà Nguyễn Hữu Thị Lan (tức Nam Phương Hoàng hậu) và bà người Pháp là Monique Marie Eugene Baudot.

  • LÊ VĂN LÂN

    Những thập niên cuối thế kỷ XX, có một nhân vật lúc ẩn lúc hiện như rồng trong mây, như kình ngư giữa đại dương, có mặt ở các thời điểm lịch sử, có tác động đến phong trào giải phóng dân tộc ở Thừa Thiên Huế nói chung và phong trào đô thị Huế nói riêng.

  • PHAN THUẬN AN

    "Hôm nay, Ngài trở về trong lòng đất mẹ thân yêu, trở về giữa tất cả đồng bào con Hồng cháu Lạc, trở về bên núi Ngự, sông Hương...
    "Chúng ta thành kính cầu cho nhà vua đời đời yên nghỉ.
    "Lòng yêu nước của nhà vua còn sáng mãi với sử xanh".

  • NGUYỄN ĐẮC XUÂN

    LTS: Thời Pháp thuộc cũng như thời tạm chiếm, những “thượng khách” đến du lịch Huế thường được bà công chúa Lương Linh (con gái thứ 19 của vua Thành Thái và là em út của vua Duy Tân) hướng dẫn.

  • LÊ TIẾN DŨNG 

    Một ngày cuối thu tháng Mười năm 1965 tôi nghe qua Đài Tiếng nói Việt Nam một tin quan trọng: Hội Văn nghệ Giải phóng công bố Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu.

  • ĐOÀN XANH 

    Nhà thơ, nhà báo Thúc Tề bị Pháp thủ tiêu khi mới 30 tuổi. Gần 50 năm sau, bí mật được phát lộ, Nhà nước đã truy tặng ông danh hiệu Liệt sĩ với bằng Tổ quốc ghi công.

  • Ở tuổi 75, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân vẫn miệt mài bên chiếc máy tính để làm việc mỗi ngày. Ông luôn mang theo bên người một chiếc máy ghi âm, loại dùng bằng băng cassette, ông có thói quen ghi lại bất cứ buổi làm việc nào với các phóng viên báo, đài... Đón tôi trong con hẻm nhỏ dẫn vào ngôi nhà ở một quận gần trung tâm Sài Gòn, ông đội chiếc mũ kiểu Huế và những tiếng “răng, ni, nớ” rất Huế của ông mang lại cho tôi sự gần gũi để bắt đầu buổi trò chuyện.
                        Nhà văn ÁNH HƯỜNG (thực hiện)

  • Ngày 9/6/2014, nhà báo Nguyễn Khoa Bội Lan đã vĩnh biệt chúng ta, hưởng thượng thượng thọ 105 tuổi

  • Tôi lặng lẽ đi tìm về nhà "O Thương trống” mà trong lòng có cảm giác như một  đứa con đi xa lâu ngày trở về với mẹ để được nghe mẹ kể chuyện đời, chuyện nghề.

  • Có lẽ cho đến nay, ông Lê Văn Kinh là nghệ nhân làng nghề truyền thống lập nhiều kỷ lục nhất VN. Ông đã lập kỷ lục về bộ tranh thêu bài thơ "Cáo tật thị chúng” của Mãn Giác Thiền sư bằng 14 thứ tiếng. Tiếp đó là bộ Tâm kinh Bát Nhã Ba La Mật. Đầu tháng 5-2014 vừa qua, ông tiếp tục xác lập kỷ lục thứ ba, đó là thêu tay hai bài thơ "Tẩu lộ” và "Hoàng hôn”  -  hai bài thơ trong tập "Nhật ký trong tù” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

  • VÕ SƠN TRUNG

    Con người đó, là nhà văn, nhà văn hóa, nhà từ điển học Đào Đăng Vỹ cực kỳ nổi tiếng ở Huế từ những năm 1940. Ông sinh ngày 1 tháng 2 năm 1908 tại Huế, có tài liệu nói ông mất ngày 7/4/1987 tại California - Mỹ(1).

  • Cật tre được lựa từ rừng già, xung quanh lồng được chạm trổ tuồng tích như một bức tranh hoàn hảo… Những chiếc lồng chim như một tác phẩm nghệ thuật ấy có giá cả chục triệu đồng.

  • Nếu còn sống, ngày 28 tháng 2 năm nay, cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn sẽ tròn 75 tuổi. Nhưng ông đã nằm xuống 13 năm rồi, vào một ngày đầu hạ, cái ngày mà cả thế giới có quyền được nói dối và chắc hẳn nhiều người yêu thương ông cũng từng mong đó chỉ là một lời nói đùa…