Về hai bài thơ viết về núi Ngự của vua Minh Mạng và Miên Thẩm

14:21 27/10/2023

TRẦN VIẾT ĐIỀN

Thơ viết về núi Ngự Bình của vua Thiệu Trị “Bình lãnh đăng cao”, một trong 20 bài thơ trong Thần kinh nhị thập cảnh, được nhà vua sáng tác năm 1843, cho khắc bia và tôn trí trong nhà bia ở chân núi Ngự.

Vua Minh Mạng và Tùng Thiện công Miên Thẩm cũng có thơ viết về núi Ngự Bình, không khắc bia nhưng tình ý rất độc đáo. Để hiểu thêm cái hay cái đẹp của bài thơ “Bình lãnh đăng cao” (1843), cần tiếp cận bài thơ “Ngự Bình sơn” của vua Minh Mạng (1839) và bài thơ “Ngự Bình sơn đăng cao” của Miên Thẩm (1866).

Khi vua Minh Mạng đã củng cố và phát triển Đại Nam khá thành công, cùng đoàn tùy tùng lên chơi núi Ngự Bình, nhà vua đã từng biết ngọn núi có vai trò quan trọng đối với kinh thành, dưới góc độ phong thủy, vì thế nhà vua hạ bút hai câu đề bài thơ “御屏山”(Ngự Bình sơn) (Núi Ngự bình) trong tâm cảm hào sảng: 當闕巍巍列翠屏,藏風納水衛京城 (Đương khuyết nguy nguy liệt thúy bình, Tàng phong nạp thủy vệ Kinh thành) (Trước cung lồng lộng núi Ngự xanh/ Nước thu gió giữ hộ Kinh thành).

Vài chục năm sau, hoàng tử thứ mười của vua Minh Mạng là Miên Thẩm, vào độ ngũ tuần, sau cuộc loạn Đoàn Trưng (1866) với nhiều u uất trong lòng, lên núi Ngự Bình, cũng biết núi Ngự Bình làm án cho kinh thành, khí lành ngút mây, thi ông đã vào hai câu đề bài thơ 御 屏山登髙(Ngự Bình sơn đăng cao) (Leo cao núi Ngự Bình) trĩu nặng nỗi niềm: 御屏秀氣壅雲閒, 杓杖挍鞋拂晓攀(Ngự Bình tú khí ủng vân gian, Tiêu trượng hiệu hài phất hiểu phan) (Khí lành núi Ngự ngút mây trời, Sửa giày chống gậy leo sớm mai). Miên Thẩm thừa biết vua anh Thiệu Trị từng kết bài thơ “Bình lãnh đăng cao” với câu “ 雲開瑞氣靄晴嵐”(Vân khai thụy khí ái tình lam.) (Mây tan trời quang đãng khí lành ngùn ngụt bay lên); thi ông lấy ý này để vào câu đề như một dấu hỏi lớn. Đó là lý do nhà thơ sớm leo núi Ngự Bình để “kiểm chứng” vậy.

Trong tâm cảm hạnh phúc của vị hoàng đế, trị vì đất nước Đại Nam vào thời thịnh trị, bao người được hưởng phúc, cho nên nhìn hoa núi như tranh vẽ, nhất là những cây thông đẹp mê hồn khó tả: 山花似易丹清染, 松樹應難筆墨成(Sơn hoa tự dị đan thanh nhiễm, Tùng thụ ưng nan bút mặc thành) (Hoa núi đỏ xanh như tranh vẽ, Thông đẹp mê người bút khó phô). Trước núi Ngự Bình có gò Trĩ với dòng khe Nam chảy qua chân gò, cư dân làng An Cựu trồng dâu nuôi tằm. Lại có trảng Dưa với đất cát pha, trồng rau màu… thế nên quanh núi Ngự Bình đầy những thảm thực vật với màu xanh của lá và màu đỏ của quả dâu như tranh vẽ. Còn sườn núi lại trồng thông thành rừng xanh thẳm làm mê mẩn nhà thơ…

Miên Thẩm đứng trên núi Ngự, nhìn gò Trĩ với nhà trệt của dân xen lẫn lầu gác nhà quan, chẳng hạn phủ đệ của các vị tôn thất của phòng Dận Quốc công Nguyễn Phúc Điền ở làng An Cựu và dân chúng đa phần là tá điền làm ruộng, trồng dâu nuôi tằm. Thi ông thấy dưới chân núi Thiên Thai ngoại (Long sơn, Chung sơn) rất sầm uất với chợ An Cựu (nay ở Nhà văn hóa Trung tâm), Nam trường đình (nay là khách sạn Pháp),… và thi ông không khỏi u hoài. Thi ông không thể quên được những ngày dân tình sôi sục bất mãn với những việc làm thất nhân tâm của triều đình Tự Đức: 万戶楼臺明雉疊, 一时森作憶龍山 (Vạn hộ lâu đài minh trĩ điệp, Nhất thời sâm tá ức Long san) (Gò Trĩ vạn nhà chen lầu gác/ Núi Rồng sầm uất chợt u hoài). Miên Thẩm làm sao quên được ở chân núi Đông Sơn có ngôi chùa Long Quang, nơi học Phật đồng thời luyện võ, kiểu chùa Thiếu Lâm, do sư Phật Thanh - Huyền Khê khai sơn; nơi con rể Đoàn Trưng lập “Đông Sơn thi tửu hội”, nơi người tri kỷ là sư Nguyễn Văn Quí trụ trì và Phật tử đa phần là tá điền canh tác ruộng chùa, ruộng sở hữu bởi các quan là hậu duệ phủ Dận Quốc công. Thế mà giờ đây đã điêu tàn, hoang phế, thi ông rất buồn và rất nhớ những người thân bị nạn. Tâm sự u hoài được thi ông gửi gắm trong bài “Phế trạch hành”, “Quỷ khốc hành”.

Vua Minh Mạng ắt từng đọc Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, trong đó họ Lê từng tóm tắt về phong thủy Phú Xuân: “Dinh Phú Xuân có năm lần hổ thủy [nước về phía hữu] ôm đằng trước: một là nguồn Hữu-trạch chảy xuống là sông Phú-xuân, hai là sông nhỏ An-nông, ba là nguồn Hưng-bình chảy vào đầm Hà-trung, bốn là nguồn Phúc-âu chảy qua Cao-đôi mà vào phá Hà-trung, năm là nước từ đèo Mệt-mỏi chảy xuống đèo Cảnh-dương. Có ba lần long sa [cát ở bên tả] nhăn bên tả: một là phố Thanh-hà ở bên tả sông cầu Lạc-nô, hai là các xã Hồng-phước Thuận-hòa ở bên tả thượng lưu sông con ngã ba Sềnh, ba là các xã Bình-trị Thai-dương ở bên tả hạ lưu phá Tam-giang thẳng đến cửa Eo” (tr.113). Khi đứng trên Ngự Bình nhà vua nhớ lại phong thủy Phú Xuân phát vương phát đế cho dòng họ Nguyễn hàng trăm năm nên hạ bút: “內抱重河佳氣聚/ 外週疊 嶂瑞光呈”(Nội bão trùng hà giai khí tụ/ Ngoại chu điệp chướng thụy quang trình) (Trong ôm nhiều sông gom khí tốt/ Ngoài chập chùng sa-ngọc long lanh). Chữ chướng ở đây không chỉ núi mà chỉ sa (cồn cát) theo phong thủy, nhờ thế mới phản chiếu ánh mặt trời lấp lánh.

Vua Minh Mạng nhớ lại cát địa của kinh thành Phú Xuân với niềm tự hào, còn mấy chục năm sau con ngài đang sống những ngày hoàng tộc triều Nguyễn mất đoàn kết, đất nước đã mất lục tỉnh, triều đình vì vua Tự Đức không con mà làm những điều thất đức. Cư dân gò Trĩ làng An Cựu oán thán. Miên Thẩm vào hai câu luận: “ 紅搜門健斩兒女/綠酒扶衰爽鬢 顔” (Hồng sưu môn kiện trảm nhi nữ/ Lục tửu phù suy sảng mấn nhan).

Vua Minh Mạng lấy núi Ngự Bình với sắc xanh bao phủ làm biểu tượng đất nước trường tồn, núi sừng sững ở trời Nam như trụ cột chống đỡ non sông nghìn thuở vững bền, nhà vua vào hai câu kết: “蒼 蒼黛色年年在/ 屹立南天 舉頂擎”(Thương thương đại sắc niên niên tại/ Ngất lập Nam thiên cử đỉnh kình) (Quanh năm bao phủ xanh xanh thẳm/ Vững cột Trời Nam dựng cao xanh).

Còn vị hoàng tử thứ mười của vua Minh Mạng cảm khái về những nghĩa sĩ năm nào, mối hận vẫn tràn đầy, trên mặt cồn gò phía trước vẫn còn rải rác gươm cùn kiếm rỉ, dấu tích của những ngày nổi dậy, không may bị thua, rút về căn cứ Long Quang; cuối cùng bị bắt và bị hành hình tập thể. Miên Thẩm hạ bút viết hai câu kết:  “烈士算年多感慨/誰兮硗缺剑光嗯” (Liệt sĩ toán niên đa cảm khái/ Thùy a khao khuyết kiếm quang ân) (Bao năm nghĩa sĩ còn căm hận/ Đất khô ánh kiếm hừ chôn ai?). Nỗi lòng u uất này, Miên Thẩm đã trải đầy đủ hơn trong bài “Cổ chiến trường hành”.

御屏山

當闕巍巍列翠屏,
藏風納水衛京城.
山花似易丹清染,
松樹應難筆墨成’
內抱重河佳氣聚/
外週疊嶂瑞光呈
蒼 蒼黛色年年在/
屹立南天舉頂擎.

Phiên âm:

Ngự Bình sơn

Đương khuyết nguy nguy liệt thúy bình,
Tàng phong nạp thủy vệ Kinh thành
Sơn hoa tự dị đan thanh nhiễm,
Tùng thụ ưng nan bút mặc thành
Nội bão trùng hà giai khí tụ
Ngoại chu điệp chướng thụy quang trình
Thương thương đại sắc niên niên tại
Ngất lập Nam thiên cử đỉnh kình.

Dịch thơ:

Núi Ngự Bình

Trước cung lồng lộng núi Ngự xanh,
Nước thu gió giữ hộ Kinh thành.
Hoa núi đỏ xanh như tranh vẽ,
Thông đẹp mê người bút khó phô.
Trong ôm nhiều sông gom khí tốt
Ngoài chập chùng sa-ngọc long lanh.
Quanh năm bao phủ xanh xanh thẳm,
Vững cột Trời Nam dựng cao xanh

 

御屏山登髙

御屏秀氣壅雲閒,
杓杖挍鞋拂晓攀
万戶楼臺明雉疊,
一时森作憶龍山
紅搜門健斩兒女,
綠酒扶衰爽鬢顔.
烈士算年多感慨,
誰兮硗缺剑光嗯.

Phiên âm:

Ngự Bình sơn đăng cao

Ngự Bình tú khí ủng vân gian,
Tiêu trượng hiệu hài phất hiểu phan
Vạn hộ lâu đài minh trĩ điệp,
Nhất thời sâm tá ức Long san
Hồng sưu môn kiện trảm nhi nữ,
Lục tửu phù suy sảng mấn nhan.
Liệt sĩ toán niên đa cảm khái,
Thùy a khao khuyết kiếm quang ân.

Dịch thơ:

Leo cao núi Ngự Bình

Khí lành núi Ngự ngút mây trời,
Sửa giày chống gậy leo sớm mai.
Gò Trĩ vạn nhà chen lầu gác
Núi Rồng sầm uất chợt u hoài.
Tìm thuốc bổ chặt đầu bé gái,
Rượu hồi dương uống mặt đỏ au.
Bao năm nghĩa sĩ còn căm hận,
Đất khô ánh kiếm hừ chôn ai?

Thay lời kết

Tiếp cận bài “Bình lãnh đăng cao” và hai bài thơ, bài “Ngự Bình sơn” và bài “Ngự Bình sơn đăng cao” rút ra một nhận định thú vị. Về hình thức thì cả ba bài theo thể Đường luật thất ngôn bát cú với niêm luật chặt chẽ, không có gì mới. Nhưng tình ý của ba bài thơ rất đỗi chân thật, phản ánh đúng thời thế của chốn kinh sư nói riêng và đất nước Đại Nam nói chung trong giai đoạn từ 1843 đến 1866. Vua Minh Mạng viết bài thơ trong tâm cảm mừng vui về sự lớn mạnh của Đại Nam, nhờ sự hộ trì lớn lao của thiên địa (phong thủy), nhà vua lờ đi yếu tố “nhân hòa”. Thật vậy, hoàng tộc nhà Nguyễn sau năm 1774 tan đàn xẻ nghé, đa phần thương vong nhưng rồi nhờ phong thủy nhà Nguyễn đã trở lại cựu đô, làm nên nghiệp đế, rực rỡ nhất là khi ngài kế thống. Vua Thiệu Trị khi viết “Bình lãnh đăng cao”, mượn cớ hồi ức về vua cha từng giá lâm núi Ngự, đã hạ bớt yếu tố phong thủy, khi chỉ nói về “khí lành”, để nâng yếu tố “nhân” trong công cuộc củng cố đất nước, hàm ý đề cao vua cha nói riêng và liệt thánh nói chung. Còn Miên Thẩm lên núi Ngự Bình trong tâm cảm của một quốc thúc chứng kiến hoàng tộc chia rẽ, một phần Đại Nam đã mất vào tay giặc, kinh thành mới xảy ra loạn lạc, máu đổ đầu rơi, oán thán khắp nơi,… nên viết bài thơ nói lên hoài nghi sự hộ trì của thiên địa, đến nỗi không còn “nhân hòa”. Chỉ hơn hai mươi năm, quang cảnh núi Ngự không thay đổi lắm nhưng lòng người đã chuyển biến ghê gớm; từ “hồ hởi phấn khởi” trong vua Minh Mạng, chuyển qua “tự hào, biết ơn” tiên đế trong vua Thiệu Trị, phát triển thành ngọn trào u uất trong Tùng Thiện công. Tình huống này rất đúng với đúc kết của thi hào Nguyễn Du: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”, “Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều”,… Thơ hay dở thì quả có nhiều quan điểm của các nhà phê bình. Khi cảm thụ ba bài thơ nêu trên, thiên về nội dung thì thấy cả ba bài là tuyệt cú; và quả Vương Trọng chí lý khi viết: “Bài thơ hay nhiều khi không còn thấy thơ đâu mà chỉ thấy cuộc đời, tâm trạng và số phận”.

T.V.Đ
(TCSH50SDB/09-2023)

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • HÀ VĂN LƯỠNG1. Cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của nhân dân Xô Viết là một bản anh hùng ca bất tử của dân tộc Nga trong thế kỷ XX (1941-1945). Nó mãi mãi đi vào lịch sử vẻ vang và oanh liệt, không chỉ của đất nước Xô Viết mà còn cả với nhân loại tiến bộ yêu chuộng hòa bình trên thế giới, khẳng định bản chất tốt đẹp và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của con ngưòi Xô Viết.

  • LƯƠNG THỰC THULTS: Lương Thực Thu, sinh năm 1903 tại Bắc Kinh, thời nhỏ học ở trường Thanh Hoa. Năm 1923 du học tại Mỹ. Năm 1926 về nước, lần lượt dạy học ở trường Đại học Đông Nam, Đại học Thanh Đảo, Đại học Bắc Kinh, và Đại học Sư phạm Bắc Kinh. Năm 1949 sang ở Đài Loan, chủ yếu giảng dạy ở Đại học Sư phạm Đài Loan. Năm 1966 nghỉ hưu, năm 1987 ốm chết tại Đài Bắc.

  • NGUYỄN XUÂN HOÀNG   (Đọc “Lý luận và văn học”, NXB Trẻ 2005 của GS.TS Lê Ngọc Trà)Ra mắt bạn đọc năm 1990, năm 1991, cuốn sách “Lý luận và văn học” của Giáo sư - Tiến sĩ Lê Ngọc Trà được trao giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam. 15 năm qua, những tưởng một số vấn đề về lý luận văn học mà cuốn sách đề cập đã không còn mới, đã “lạc hậu” so với tiến trình phát triển của văn học. Nhưng không, khi đọc lại cuốn sách được nhà xuất bản Trẻ tái bản lần thứ nhất năm 2005, những vấn đề mà GS.TS Lê Ngọc Trà đề cập vẫn còn nóng hổi và giữ nguyên tính thời sự của nó.

  • TRẦN ĐÌNH SỬLí luận văn học Việt Nam thế kỉ XX đã trải qua ba lần thay đổi hệ hình tư duy. Lần thứ nhất diễn ra vào những năm 1932 đến 1945 với việc hình thành quan niệm văn học biểu hiện con người, xã hội, lấy thẩm mĩ làm nguyên tắc, chống lại quan niệm văn học thời trung đại lấy tải đạo, giáo huấn, học thuật làm chính tông, mở ra một thời đại mới trong văn học dân tộc.

  • HỒ THẾ HÀĐà Linh - Cây bút truyện ngắn quen thuộc của bạn đọc cả nước, đặc biệt, của Đà Nẵng với các tác phẩm Giấc mơ của dòng sông (1998), Nàng Kim Chi sáu ngón (1992),Truyện của Người (1992) và gần đây nhất là Vĩnh biệt cây Vông Đồng (1997). Bên cạnh ấy, Đà Linh còn viết biên khảo văn hoá, địa chí và biên dịch.

  • NGÔ MINHBữa nay, người làm thơ đông không nhớ hết. Cả nước ta mỗi năm có tới gần ngàn tập thơ được xuất bản. Mỗi ngày trên hàng trăm tờ báo Trung ương, địa phương đều có in thơ. Nhưng, tôi đọc thấy đa phần thơ ta cứ na ná giống nhau, vần vè dễ dãi, rậm lời mà thiếu ý.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊ     Ba công trình dày dặn nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh của cùng một tác giả, cùng được xuất bản trong năm 2005 kể cũng đáng gọi là "hiện tượng" trong ngành xuất bản. Ba công trình đó là "Hồ Chí Minh - danh nhân văn hóa" (NXB Văn hóa Thông tin, 315 trang), "Hồ Chí Minh - một nhân cách lớn" (NXB Văn hóa thông tin, 510 trang) và "Đạo Khổng trong văn Bác Hồ" (NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 375 trang).

  • PHAN CÔNG TUYÊNLTS: Cuộc thi tìm hiểu “60 năm Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” do Ban Tư tưởng - Văn hoá trung ương, website Đảng Cộng sản Việt Nam phối hợp với Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia phát động trong cả nước. Tại Thừa Thiên Huế, cuộc thi được phát động từ ngày 7/5/2005 đến ngày 10/7/2005; Ban tổ chức cuộc thi đã nhận được 160.840 bài dự thi của rất nhiều tầng lớp nhân dân, nhiều thành phần trong xã hội tham gia. Điều này chứng tỏ cuộc thi mang nhiều sức hấp dẫn. Sông Hương xin trích đăng báo cáo tổng kết cuộc thi của đồng chí Phan Công Tuyên, UVTV, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ, Trưởng Ban tổ chức cuộc thi tại Thừa Thiên Huế.

  • TRẦN THỊ THANHTừ Hán Việt là một lớp từ khá quan trọng trong ngôn ngữ tiếng Việt của người Việt Nam. Với con số 60% - 70% từ Hán Việt có trong tiếng Việt, nó đã và đang đặt ra một nhiệm vụ cấp thiết làm thế nào để cho mọi người dân Việt Nam, đặc biệt là tầng lớp thanh, thiếu niên viết và nói đúng tiếng Việt trong đó có từ Hán Việt.

  • NGUYỄN ĐẮC XUÂN LTS: Bài dưới đây là tham luận của nhà văn Nguyễn Đắc Xuân đọc trong Hội nghị Lý luận phê bình văn học nghệ thuật trung ương, tháng 12-2008. Tác giả có những nhận định khá mới mẻ, những đề xuất khá hợp lý và khá mạnh dạn, tất nhiên bài viết sẽ không tránh phần chủ quan trong góc nhìn và quan điểm riêng của tác giả. Chúng tôi đăng tải gần như nguyên văn và rất mong nhận được những ý kiến phản hồi, trao đổi, thạm chí tranh luận của bạn đọc để rộng đường dư luận.S.H

  • MAI HOÀNGCẩm cù không nổi tiếng bằng một số truyện ngắn khác của Y Ban như Thư gửi mẹ Âu cơ, I am đàn bà, Đàn bà xấu thì không có quà… Không có những vấn đề hot như sex, nạo phá thai, ngoại tình… tóm lại là những sự vụ liên quan đến “chị em nhà Eva”.

  • INRASARATham luận tại Hội thảo “Nhà văn với sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước”, Hội Nhà văn Việt Nam, Đồng Nai, 8-1-2009.

  • HOÀNG NGỌC HIẾNWallace Stevens ví hành trình của những nghệ sĩ Tiên phong (hoặc Tiền vệ) của chủ nghĩa hiện đại những thập kỷ đầu thế kỷ XX như những cuộc phiêu lưu của những nhà thám hiểm núi lửa, họ đã đến núi lửa, “đã gửi về tấm bưu ảnh cuối cùng” và lúc này không có ước vọng gì hơn là trở về nhà.

  • TRẦN HOÀI ANH1. Nhà thơ - Người đọc: Niềm khắc khoải tri âmKhi nói về mối quan hệ giữa nhà thơ và độc giả, Edward Hirsch đã viết: “Nhiều nhà thơ đã nắm lấy ý Kinh Thánh Tân Ước “Khởi thuỷ là lời”, nhưng tôi thích ý kiến của Martin Buber trong “Tôi và bạn” hơn rằng: “Khởi thuỷ là những mối quan hệ” (1).

  • VIỆT HÙNGCông tác lý luận phê bình văn học nghệ thuật đang là mối quan tâm lo lắng của giới chuyên môn, cũng như của đại đa số công chúng, những người yêu văn học nghệ thuật. Tình trạng phê bình chưa theo kịp sáng tạo, chưa gây được kích thích cho sáng tạo vẫn còn là phổ biến; thậm chí nhiều khi hoặc làm nhụt ý chí của người sáng tạo, hoặc đề cao thái quá những tác phẩm nghệ thuật rất ư bình thường, gây sự hiểu nhầm cho công chúng.

  • HẢI TRUNGVũ Duy Thanh (1811 - 1863) quê ở xã Kim Bồng, huyện An Khánh, tỉnh Ninh Bình là bảng nhãn đỗ đầu trong khoa thi Chế khoa Bác học Hoành tài năm Tự Đức thứ tư (1851). Người đương thời thường gọi ông là Bảng Bồng, hay là Trạng Bồng.

  • NGUYỄN SƠNTrên tuần báo Người Hà Nội số 35, ra ngày 01-9-2001, bạn viết Lê Quý Kỳ tỏ ý khiêm nhường khi lạm bàn một vấn đề lý luận cực khó Thử bàn về cái tôi trong văn học. Anh mới chỉ "thử bàn" thôi chứ chưa bàn thật, thảo nào!... Sau khi suy đi tính lại, anh chỉnh lý tí tẹo tiêu đề bài báo thành Bàn về "cái tôi"trong văn học và thêm phần "lạc khoản": Vinh 12-2001, rồi chuyển in trên Tạp chí Văn (Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh), số 4 (Bộ mới, tháng 3-4)-2002. Trong bài trao đổi này chúng tôi trích dẫn căn cứ theo nguyên văn bài báo đã in lần đầu (và về cơ bản không khác với khi đưa in lại).

  • TRƯƠNG ĐĂNG DUNGCùng với sự phát triển của một thế kỉ văn học dân tộc, lí luận văn học ở Việt Nam cũng đã có những thành tựu, khẳng định sự trưởng thành của tư duy lí luận văn học hiện đại.

  • NGUYỄN NGỌC THIỆNTrong vài ba thập niên đầu thế kỷ XX, trung xu thế tìm đường hiện đại hóa văn xuôi chữ quốc ngữ, các thể tài tiểu thuyết, phóng sự được một số nhà văn dụng bút thể nghiệm.

  • L.T.S: Trong ba ngày từ 03 đến 05 tháng 5 năm 2005, tại thành phố Huế đã diễn ra hoạt động khoa học quốc tế có ý nghĩa: Hội thảo khoa học Tác phẩm của F. Jullien với độc giả Việt Nam do Đại học Huế và Đại học Chales- de-Gaulle, Lille 3 tổ chức, cùng sự phối hợp của Đại sứ quán Pháp ở Việt Nam và Agence Universitaire  francophone (AUF). Hội thảo có 30 tham luận của nhiều giáo sư, học giả, nhà nghiên cứu Việt Nam, Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc.