PHAN NGỌC MINH
Từ lâu, tôi mong ước có một chuyến đi xem và vẽ Kinh Thành Huế. Ý tưởng ấy đã thực hiện vào Thu 1995. Lần ấy, được trên mười bức ký họa, những cơn mưa cứ kéo dài, cuối cùng, tôi đành rời Huế trong tâm trạng đầy lưu luyến.
Phan Ngọc Minh qua nét vẽ của Nguyễn Quang Chơn
Lần này trở lại Huế, chuyến đi kéo dài hơn một tháng (từ 2 - 5 đến 12 - 6 - 2009), vẽ được trên ba mươi ký họa về chân dung, phong cảnh. Đặc biệt, một loạt ký họa chân dung văn nghệ: Nghệ nhân, Nhà thơ, Họa sĩ… mà tôi yêu mến.
1. Nguyễn Đính (Nhà thơ Trần Vàng Sao). Một buổi chiều, cùng nhà thơ Nguyễn Đông Nhật, tôi đến thăm anh Nguyễn Đính (nhà thơ Trần Vàng Sao), ở một con ngõ quanh sâu, vùng Vỹ Dạ. Căn nhà hẹp, trong khu vườn nhỏ, đơn sơ nhưng treo đầy tranh.
Hôm ấy, anh, cùng một người bạn của anh tiếp chúng tôi. Vừa uống cùng các anh vài hớp bia Huda, bất chợt tôi nhìn vào góc tường có một bức chân dung Bồ Đề Đạt Ma. Như hiểu được ý khách, anh liền nói: “Bức ấy mình vừa vẽ xong”. Với cái nhìn của người trong nghề, bức chân dung đó đã mách bảo với tôi nhiều điều. Nhất là đôi mắt, ẩn chứa đầy tâm trạng của người vẽ. Tôi nhìn Bồ Đề Đạt Ma. Nhìn anh, rồi rút bút, mở kẹp giấy, vẽ chân dung anh.
Anh làm thơ rất sớm, những câu thơ quen thuộc: “Buổi sáng, tôi mặc áo, đi giày, ra đứng ngoài đường/ Gió thổi những bông mía trắng bên sông/ Mùi toóc khô còn thơm lúa mùa qua/ Bầy chim sẻ đậu trước sân nhà(...)” (Bài thơ của một người yêu nước mình - 1967), từng tham gia đấu tranh trong phong trào SVHS ở Huế, rồi theo Cách mạng vào rừng năm 1965, khi đang là chàng sinh viên của Đại học Văn khoa. Anh tuổi Tân Tỵ (69 tuổi), công việc thường ngày bây giờ của anh là đọc sách, làm thơ, đặc biệt là vẽ lại những mặt người trong bộ bài Tới: Thầy, Trò, Quan, Ngủ, Bóng... và chân dung Bồ Đề Đạt Ma chỉ để tặng bạn bè chơi. Giờ, nhìn bức chân dung ký họa anh, tôi nhận ra trong đôi mắt ấy, như có một điều gì đó anh chưa nói!?
2. Trần Kích (Nghệ nhân Nhã Nhạc Cung Đình). Kiệt 320 nằm ở cuối đường Bạch Đằng, tôi men theo ngõ, ngách và cuối cùng cũng gặp được ông lão nghệ nhân trong sổ tay của mình. Đó là bác Trần Kích, nghệ nhân chơi nhạc cụ “Nhã nhạc Cung Đình” rất nổi tiếng, sử dụng điêu luyện nhiều nhạc cụ: Đàn Tỳ Bà, Nguyệt, Nhị, Sáo. Anh Trần Thảo, con trai bác hiện là giảng viên hướng dẫn môn nhạc cụ Nhã nhạc Cung Đình tại Học viện Âm nhạc Huế, nói: “Ba tôi sức khỏe yếu lắm, anh cần gì, cứ hỏi tôi”.
Qua anh, tôi biết: Ông đã từng giảng dạy bộ môn “Nhã nhạc Cung Đình” tại trường Quốc gia Âm nhạc Huế từ năm 1963 đến 1984, dù đã nghỉ hưu, nhưng bác vẫn tiếp tục thỉnh giảng cho đến nay. Gần đây, sức yếu, không tự đi xe đạp được, đến giờ dạy, anh Thảo chở bác đến trường. Là một nhà giáo tận tụy truyền nghề, một nghệ nhân sử dụng nhạc cụ truyền thống, bác đã từng là thành viên trong đội Hòa thanh (Nhạc Cung Đình) dưới thời Vua Bảo Đại, không chỉ biểu diễn trong nước, mà ông đã mang tiếng đàn truyền thống dân tộc mình đi sang Nhật, Hàn Quốc, Thái Lan, Philippine. Năm 1995, bác được mời đi diễn tại các nước Châu Âu: Pháp, Bỉ, Hòa Lan,... Trần Kích - nghệ nhân Nhã nhạc Cung đình, đã nhận được nhiều bằng khen tặng của Bộ Văn hóa, Viện Âm nhạc Việt Nam. Năm 2007, được Bộ Văn hóa phong Nghệ sĩ ưu tú và nhiều bằng khen. 2008, được Bộ Văn hóa và Thông tin Pháp phong tặng bằng: Hiệp sĩ Văn hóa.
3. Hoàng Đăng Nhuận (Họa sĩ). Nhà anh đẹp hơn trí tưởng tượng của tôi, đó là căn nhà vườn, nằm ngay dốc cầu Lim 2, (đường lên đồi Thiên An), trong vườn nhiều hoa lan khoe sắc, nhiều cây xanh bóng mát. Nơi đây cũng là quán cafe, trên tường treo đầy tranh, khách vừa uống cafe, vừa xem tranh của Nhuận vẽ về phố cũ, thành xưa, với tông màu gris điểm chút đỏ son, rất Huế, mà cũng rất sang trọng và ấn tượng.
Anh vừa trải qua cơn bệnh tai biến máu não, chỉ cử động được tay trái, chân đi lại khó khăn, dù vậy, anh vẫn say sưa nói chuyện vẽ tranh, triển lãm... Anh nói: “Mình cầu mong, bàn tay trái cử động được, để mình vẽ là quý rồi!”.
Căn phòng anh ngổn ngang tranh. Tranh treo tường. Tranh đang vẽ dở dang. Ở một góc, có nhiều khung vải chưa vẽ, bên cạnh cọ, palette màu... và trên mảng tường gạch có rất nhiều chữ ký của bạn bè văn nghệ sĩ trong và ngoài nước: Đinh Cường, Đặng Tiến, Lê Văn Ngăn, Phan Cẩm Thượng, Nguyễn Thương Hỷ... Họ đến thăm họa sĩ, trước khi rời để lại chữ ký làm kỷ niệm.
4. Nguyễn Thị Mẫn - nghệ danh Minh Mẫn. Kiệt 110 Nhật Lệ, trong Thành nội, căn nhà nhỏ số 21, tọa lạc trong cuối con hẻm, là nơi nữ sĩ - ca Huế danh tiếng mà người dân Huế gọi thân thương hai chữ Minh Mẫn. Hôm tôi đến, căn bệnh của bà do bị té gãy xương chậu, vẫn còn đau, đi lại rất khó khăn, nhưng bà vẫn hân hoan tiếp khách một cách chân tình. Tôi nói: “Cháu từ Đà Nẵng ra Huế, đến thăm bác và xin vẽ một bức chân dung của bác làm kỷ niệm”. Bà cười, rồi đi tựa cây nạng bốn chân, vào trong một lúc, bà trở ra với trang phục rất lộng lẫy không ngờ: tà áo dài lụa xanh lơ tím, cổ đeo dây chuỗi ngọc, tay cầm cặp phách (bộ gõ), rồi bà chậm rãi ngồi xuống ghế, đôi tay gõ phách và hát rằng: “Nét xuân nay đã phai rồi/ Mấy người chìu chuộng/ Ai là kẻ tìm hoa trong đám hoa rơi...” (điệu Nam ai); bà kể tiếp: Tôi yêu lời ca, tiếng hát, từ thuở nhỏ mà thành cái nghiệp, giờ nhìn lại ngót 60 năm ca hát, đã từng hát cho vua nghe. Rồi sau này, từng đi hát khắp mọi miền đất nước”...
Hiện tuổi già, sức yếu nhưng bà vẫn nhờ con cháu đưa đến Câu lạc bộ ca Huế, trên đường Phạm Ngũ Lão, hát chơi. Có nhiều đoàn khách từ Sài Gòn, Hà Nội, yêu giọng hát của bà, đến mời bà, rồi họ tự nguyện cõng bà xuống thuyền hát cho họ nghe.
Cụ bà Nguyễn Thị Mẫn đã được Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam phong tặng danh hiệu Nghệ nhân Dân gian vào năm 2007 và nhiều Bằng khen của Huế.
5. Léopold Cadière (Cố cả). Tại Đại Chủng Viện Kim Long - Huế, tôi được một chủng sinh đưa tôi ra khu vườn phía sau Giáo đường của Chủng Viện xem mộ. Có khoảng trên 40 mộ của các Cha cố chôn cất ở đây, và xây theo một mẫu giống nhau rất đơn sơ. Người chủng sinh, đưa tay chỉ: “Đó là mộ của Cha cố, Cadière”. Nhờ tấm bia đá nhỏ, tôi đọc được tên: Léopold Cadière (1869 - 1955, Cố cả...)
Léopold Cadière, sinh tại Aix - en - Provence (Pháp) năm 1869 đến Việt Nam 1892, lúc 23 tuổi, là một Linh Mục thuộc Hội Thừa sai Paris, ngài làm việc ở Giáo phận Huế, ngoài việc đạo, ngài đã dành nhiều thời gian công sức nghiên cứu về Huế. Ngài chính là người sáng lập và chủ biên tập san “Bulletin des Amis du Vieux Huế” (Tập san những người bạn hiếu Huế xưa), viết tắt là BAVH, ra mỗi năm 4 số, có rất nhiều cộng tác viên người Pháp - Việt tham gia viết bài, từ năm 1914 đến 1944, ra được 122 tập. Nhà nghiên cứu Huế Phan Thuận An, nói: “L. Cadière, là nhà nghiên cứu đầu tiên về Huế, công trình của ngài để lại là tư liệu rất quý báu. Để tỏ lòng tri ân ngài, chúng tôi và đồng nghiệp mong muốn lãnh đạo Huế sẽ đặt tên ngài cho một con đường”.
Tạm biệt khuôn viên Đại Chủng Viện lúc bóng tà dương sắp khuất, thấp thoáng bóng dáng các Soeurs vẫn còn nhẫn nại chăm sóc những cây bưởi cuối góc vườn, nhìn vài chú chim đang lượn lờ trên nấm mộ - nơi lòng đất ấy có hình hài của một người tha hương, một vị Cố cả người Pháp - L.Cadière đang yên nghỉ - nơi mảnh đất mà ngài yêu trọn đời.
Giờ, ngồi vẽ lại bức di ảnh của ngài do vài người bạn Huế gửi, bức ảnh một vị cố Linh Mục, có râu quai nón bạc phơ, dài tới ngực, đôi mắt sâu sáng ngời, trông rất nhân từ. Tôi nhìn bức ảnh, cảm nhận rằng, dường như ngài đã “hóa thân” thành người Việt từ bao giờ” - Xin cầu nguyện cho linh hồn ngài luôn vui hưởng hạnh phúc nơi thiên đàng.
Tôi đã từng vẽ chân dung một số văn nghệ sĩ: Hoàng Phủ Ngọc Tường, Thái Ngọc San (Nhà thơ), Nguyễn Đắc Xuân (Nhà nghiên cứu), Bửu Ý (Nhà Văn - Dịch giả),...
Chuyến đi lần này, tôi được gặp gỡ và vẽ chân dung một số văn nghệ Huế, mà tôi yêu mến: Cụ La Cháu (Nghệ nhân Hát bội, 99 tuổi), Nhà nghiên cứu Phan Thuận An, Nhà văn Trần Thùy Mai, Nhà thơ Lê Văn Ngăn, Phạm Tấn Hầu, Kỳ Hữu Phước (Nghệ nhân tranh Dân gian làng Sình)... Ngoài ra, tôi còn vẽ được những bức phong cảnh từ phố cổ Bao Vinh, cầu Ngói Thanh Toàn (Thanh Thủy), Đình Dương Nỗ (Phú Dương, Phú Vang) đến Phủ Tuy Lý Vương (Nhà thơ Vỹ Dạ), La Hán (Chùa Diệu Đế), thuyền trên sông Gia Hội,...
Bộ tranh ký họa không chỉ giúp tôi hiểu thêm về con người và cảnh vật của một vùng đất đầy dấu ấn và dấu tích văn hóa mà còn là tư liệu quý, gợi nguồn cảm hứng cho tôi tiếp tục vẽ cái gì đó trong cảm nhận của tôi về Huế - một địa danh mà tôi hằng ngưỡng mộ.
|
CHAMPA, CHAMPA & MINH
Khởi đi từ những ký họa (sketch), về Hội An, về Mỹ Sơn… Nét bút tài hoa, đầy tình cảm mà tôi được xem, cho tôi quý mến người họa sĩ này. |
Huế - Đà Nẵng, tháng 9/2009
P.N.M
(SDB8/3-13)
Tải mã QRCode
NGUYỄN TRỌNG TẠOLTS: Nhà thơ Thu Bồn có nhiều duyên nợ với Huế, với Sông Hương. 20 năm trước, trong dịp TCSH ra đời, anh có mặt ở Huế và viết bài thơ “Tạm biệt” - một trong ít ỏi những bài thơ hay nhất về Huế, 20 năm sau, cũng vào dịp TCSH kỷ niệm tròn 20 tuổi thì anh lại ra đi, ra đi trong lời vĩnh biệt!Thương tiếc nhà thơ tài hoa Thu Bồn, Sông Hương xin trân trọng giới thiệu một vài kỷ niệm vaì tình cảm của bạn bè, đồng nghiệp dành cho anh. TCSH
PHẠM XUÂN NGUYÊNVề chính trị, ông được chữ nhất: Đại biểu quốc hội trẻ nhất (22 tuổi, khóa I năm 1946); Tổng thư ký Hội Nhà văn lâu nhất (1958 – 1989).Về văn nghệ, ông được chữ đa: đa tài, sáng tác nhiều lĩnh vực, và để lại dấu ấn: thơ (Người chiến sĩ, Tia nắng, Sóng reo), văn (Vỡ bờ), kịch (Con nai đen, Nguyễn Trãi ở Đông Quan, Rừng trúc), nhạc (Diệt phát xít, Người Hà Nội), tiểu luận (Mấy vấn đề văn học, Công việc của người viết tiểu thuyết).
...Có 2 từ người Việt Nam hay dùng cho những người làm thuê các công việc cho người khác là: "Lê dương" và "Pắc chung hy". Chả biết từ bao giờ, bạn bè gọi tôi là "Kha lê dương" bên cạnh các biệt hiệu khác như "Kha điên", "Kha voi", "Kha xe bò miên". Là gì thì cũng vẫn là Kha. Thiếu em ư? Đúng ra là tôi không thể sống thiếu tình yêu như một câu thơ tôi đã viết: "Điều khốn nạn là không thể nào khác được - không thể không tình yêu, không tin ở con người"...
... Với giới văn nghệ sĩ thừa Thiên Huế, nhà văn Nguyễn Đình Thi là người anh lớn, rất thân thiết và gần gũi qua nhiều năm tháng. Anh là tấm gương sáng trên nhiều lĩnh vực sáng tác, quản lý, hoạt động phong trào... Đã có nhiều tác động tích cực, ảnh hưởng tốt đẹp cho một số cây bút ở Thừa Thiên Huế; đồng thời đã để lại nhiều kỷ niệm đẹp trong đời sống văn học Thừa Thiên Huế.Sự ra đi của nhà văn Nguyễn Đình Thi là một tổn thất lớn đối với nền văn học nghệ thuật nước nhà, để lại cho chúng ta niềm tiếc thương vô hạn.... Sự nghiệp sáng tạo văn học nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Đình Thi vẫn sống mãi với chúng ta! (Trích điếu văn của nhà thơ Võ Quê)
ĐÀO DUY HIỆPGiáo sư, nhà giáo ưu tú Đỗ Đức Hiểu đã không còn nữa.Đã vĩnh biệt chúng ta một nhà sư phạm hiền từ, một nhà khoa học khiêm tốn và có nhiều phát hiện, một con người đầy lòng nhân ái, tin yêu cuộc sống và suốt đời đã sống vì cái đẹp của văn chương, nghệ thuật. Mười bảy giờ bốn mươi nhăm phút ngày 27 tháng 2 năm 2003 đã là thời khắc đó – cái thời khắc đã chia cách hai thế giới từ nay âm dương cách trở giữa giáo sư Đỗ Đức Hiểu với chúng ta. Ông đã để lại sau mình một cuộc đời dài nhiều ý nghĩa.
NGUYỄN HOÀNGTrong cuộc đời 83 năm của mình, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện (BS.NKV) không chỉ một lần tình nguyện đem cuộc đời mình làm... vật thí nghiệm để có được một kết luận khoa học. Lần đầu, nửa thế kỷ trước, tại Pháp, sau 7 lần lên bàn mổ, cắt mất hẳn lá phổi trái, 1/3 lá phổi bên phải và 8 xương sườn (do bị lao mà thời đó chưa có thuốc chữa đặc hiệu), thấy rõ y học phương Tây không cứu được mình, BS. NKV đã vận dụng phương pháp Yoga của Ấn Độ và khí công của Trung Quốc trên cơ sở phân tích sinh lý, tâm lý và giải phẫu cơ thể con người, tự cứu sống mình, hình thành nên phương pháp “dưỡng sinh Nguyễn Khắc Viện” ngày nay.
NGUYỄN TRƯƠNG ĐÀNVào dịp Tết Bính Thìn, Tết dân tộc cổ truyền đầu tiên sau giải phóng, Viện Đại học Huế nhận được một bưu thiếp chúc Tết đặc biệt của vị Thủ tướng kính mến thời đó - Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Nhà trường đã cho viết to bức thư của Thủ tướng viết sau cánh thiếp lên một tấm bảng lớn, trân trọng đặt tại Hội trường của Viện Đại học Huế.
TÔ NHUẬN VỸTôi có một cái va ly nhỏ dùng để đựng những vật kỷ niệm, những thư từ, những bức ảnh quý nhất của mình. Trong số kỷ vật quý giá đó, có bức thư của anh Tố Hữu gửi tôi và anh Hoàng Phủ Ngọc Tường, tháng 3/1987, kèm theo là bài thơ Nhớ về anh được đánh máy trên giấy Pơ luya vàng nhạt, kiểu chữ ở một cái máy nào đó mà mới nhìn biết ngay là từ một cái máy chẳng lấy gì làm tốt, để "Kỷ niệm lần thứ 80 ngày sinh mồng 7 tháng 4 của đồng chí Lê Duẩn”.
LÊ MỸ Ý ghi (Trích)Khi tôi đến, hai ông đang ngồi chiếu rượu trong căn hộ chung cư sáu tầng cao ngất ngưởng. Căn phòng như được ghép bằng sách. Trên tường, ảnh Văn Cao đang nâng ly và bức sơn dầu "Tuổi Đá Buồn" Bửu Chỉ vẽ Trịnh Công Sơn dựa vào cây đàn ghita ngóng nhìn vô định. Ngẫu nhiên tôi trở thành người hầu rượu, nói đế cho cuộc đối thoại ngẫu nhiên của hai ông...
MAI VĂN HOANThầy giáo dạy văn Tặng Mai Văn HoanHộ tập thể nằm trên gác xépCăn phòng thanh đạm, có gì đâu!Một chồng sách cũ, dăm chai nướcMột chiếc bàn con, một bếp dầu...
THANH THẢOThái Ngọc San khác với một số người bạn Huế mà tôi chơi: anh ít nói, ít nói đến lặng thinh, ít nói nhiều khi đến sốt cả ruột. Nhưng nhiều lúc, vui anh vui em, rượu vào lời ra, San cũng nói hăng ra phết. Những lúc ấy, cứ nghĩ như anh nói để giải toả, nói bù cho những lúc im lặng.
PHAN HỮU DẬTLTS: GS.TS Phan Hữu Dật là người làng Thanh Lương, xã Hương Xuân, huyện Hương Trà, TT Huế, hiện nghỉ hưu tại Hà Nội. Giáo sư từng là Trưởng ban phụ trách Đại học Văn khoa Sài Gòn (1976), Hiệu trưởng Đại học Tổng hợp Hà Nội (1985-1988). Bài viết dưới đây do Giáo sư đọc trong Lễ kỷ niệm 90 năm ngày sinh của nhà thơ Vĩnh Mai (1918-2008), như một sự tri ân đối với người mà Giáo sư xem như là người thầy, người thủ trưởng, người đồng chí... với những tư liệu mới mẻ và góc nhìn thấu đáo. Sông Hương xin trân trọng giới thiệu bài viết này cùng bạn đọc.
NGÔ MINHTác phẩm văn học nghệ thuật là sáng tạo của mỗi tác giả hội viên; đồng thời là thước đo hiệu quả hoạt động của Hội trong một nhiệm kỳ. Nói cách khác, tất cả mọi hoạt động của Hội đều hướng về hội viên, hướng về việc làm sao để có những tác phẩm văn học nghệ thuật chất lượng ngày càng cao. Nếu không thì sinh ra Hội để làm gì?
NGUYỄN THỊ ANH ĐÀOVà tôi đã rời xa Huế vào những ngày mà chính tôi cũng không muốn một chút nào. Có lẽ, không ai trách được sự sắp xếp và an bài của cuộc sống. Dù rằng Huế đối với tôi là ân nghĩa, là những kỷ niệm khó phai thì rồi cũng phải tự tạ từ. Trong sâu thẳm đáy lòng, khi nhìn những đêm trăng phả xuống thành phố tôi đang sống, tôi lại quay lòng nhớ Huế, dẫu một chút thôi, hơi thở của tôi đã không được đắp bồi bởi Huế.
VÕ MẠNH LẬPTôi đọc một bài. Không! Chỉ là một đoạn nhưng vừa đủ ngẫm - mà thú vị. Đó là cô gái với cái tên quen mà lạ. Cô ta phân bày quê chôn nhau cắt rốn xa xa ngoài tê tề. Cha mẹ cô đèo bòng vô ở tại một thị xã miền Trung. Sau cùng cô lại ở Huế học hành, lớn lên, đôi lúc bạn bè xa đến cứ ngỡ cô là Huế ròng.
L.T.S: Nhà thơ, nhà báo Thái Ngọc San sinh năm 1947 tại Lệ Thuỷ, Quảng Bình nguyên Thư kí Toà soạn Tạp chí Sông Hương, chuyển công tác qua phụ trách văn phòng liên lạc báo Thanh Niên tại T.T. Huế đã từ trần vào lúc 0giờ 45 phút ngày 25.7.2005 sau một tai nạn giao thông oan nghiệt.Thương tiếc anh, Sông Hương mở thêm trang để bạn bè, đồng nghiệp cùng chia sẻ và thắp nén tâm hươngKhi chúng tôi được tin buồn về anh San thì số báo tháng 8 đã in xong; Tình thế “chữa cháy” này không sao tránh khỏi những bất cập, mong các tác giả cùng quý bạn đọc lượng thứ.
L.T.S: Đại hội VHNT Thừa Thiên Huế lần thứ X sẽ được tổ chức vào cuối tháng 8 năm nay. Để đại hội có tiếng nói dân chủ rộng rãi, TCSH xin “dành đất” cho các anh chị hội viên, các bạn đọc quan tâm tham gia ý kiến trao đổi về nghề nghiệp, về hoạt động của Hội, về tổ chức hội v.v...Ngoài các ý kiến đã đăng tải trên số này, chúng tôi sẽ tiếp tục in thêm các ý kiến khác trong số tới
ĐÔNG HÀTôi không sinh ra ở Huế, nhưng với tuổi đời chưa quá ba mươi mà đã hơn hai mươi năm sống ở đất Kinh thành, đó cũng một sự gắn bó không thành tên.
THU NGUYỆT (Trích tham luận tại Đại hội VII Hội Nhà văn Việt Nam)
ĐẶNG SĨ THIỆNThời bao cấp, ăn còn đói mà thơ lại hay. Sang thời nay ăn thừa thãi thì người ta lại không quan tâm đến thơ, thậm chí quay lưng lại với thơ (lời Bằng Việt).