Về "con mắt thơ" (1)

09:48 15/03/2024


NGUYỄN VŨ QUỲNH NHƯ

Ảnh: goodreads.com

Phong trào thơ mới ra đời cách đây hơn sáu mươi năm - khoảng thời gian dài cho những biến đổi trong sáng tác và phê bình văn học. Tuy nhiên, trong phê bình, chỉ những năm gần đây mới xuất hiện một số ít cây bút bổ sung cho phê bình văn học truyền thống, kiếm tìm những điều chưa có tên trong tác phẩm văn học: những ám ảnh, sự tồn tại của tác phẩm văn học trong ngôn từ, trong văn bản...

Xuất hiện sau "Thi nhân Việt Nam" (1942) của Hoài Thanh - Hoài Chân tròn một nửa thế kỷ, "Con mắt thơ" (1992) của Đỗ Lai Thúy là cuốn sách gợi mở những chiêm nghiệm Thơ Mới ở nhiều góc độ.

Từ "Khúc dạo: Thơ Mới, nhìn từ góc độ cái tôi" đến "Khúc ngân: Thơ Mới, hành trình cái tôi, hành trình nghệ thuật (2) Đỗ Lai Thúy tạo một cái nhìn triết học có tính nhân sinh về Thơ Mới. Đó là những quan niệm về con người, về thời gian, về không gian. Và thời gian, không gian lại chính là hai trong "số những hình thức nghệ thuật của nghiên cứu thi pháp học - một bộ môn nghiên cứu văn học hướng tới những tiềm ẩn trong tác phẩm từ các hình thức biểu hiện bằng ngôn từ nghệ thuật. Thời gian và không gian trong Con mắt thơ là sự ám ảnh của Xuân Diệu, là nỗi khắc khoải của Huy Cận và hắt bóng nhẹ nhàng lên Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương…; góp phần tạo dựng cái tôi đặc thù ở mỗi nhà thơ. Không phải đến Đỗ Lai Thúy mới nói đến cái tôi mà ngay từ khi Thơ Mới ra đời, nhiều người đã nói đến nó như một trong những yếu tố làm thay đổi toàn bộ nền thơ Việt Nam. "Ngày trước là thời chữ ta, bây giờ là thời chữ tôi" (Thi nhân Việt Nam). Với Đỗ Lai Thúy, câu thơ của Xuân Diệu "Ta là một, là riêng, là Thứ Nhất" mở đầu cho một loạt những cái tôi riêng của từng nhà thơ, cái tôi đa dạng của cả phong trào Thơ Mới. Bắt đầu từ "phạm trù cái tôi" qua "chữ tôi đích thực" được xác định với "diện mạo cụ thể, diện mạo của cá-nhân-chủ-thể-sáng-tạo" để giới thiệu một trong những người mở đầu cho phong trào Thơ Mới. - Thế Lữ "Người bộ hành phiêu lãng". Đỗ Lai Thúy viết: "Thế Lữ dắt tay người khách lạ ấy vào thơ để giới thiệu cùng bạn đọc,... đưa ra rất nhiều định nghĩa về cái tôi" Tiếp sau đó, với bức "Chân dung tự họa", cái tôi phát triển dưới nhiều loại hình "cái tôi đô thị", "cái tôi trữ tình", "cái tôi siêu ngã", cái tôi "đồng hóa nó với nội tâm", "cái tôi cá thể", "cái tôi hiện đại cá nhân", "cái tôi tâm linh bí ẩn"... Đỗ Lai Thúy tạo một thế giới Thơ Mới “ấm nóng cảm xúc cá nhân” mang “dấu ấn cá nhân”. Những giăng mắc, từ đầu đến cuối tác phẩm, có thứ tự của cái tôi - từ lúc ra đời cho đến khi tự khẳng định bản ngã, như vặn xoáy vào đáy lòng người đọc những dấu ấn, những khẳng định của một thời "cải tạo thế giới một cách thi vị".

Trong "Con mắt thơ" cái tôi được phản ánh, được nghiên cứu đan xen giữa không gian, thời gian và những ám ảnh. Những yếu tố này tham gia vận động cùng ngôn ngữ, nhập vào đời sống tâm linh của nhà thơ. Một Xuân Diệu gấp gáp với "nỗi ám ảnh thời gian". Một Huy Cận suy tư trong "sự khắc khoải không gian". Một Nguyễn Bính ôm mối hoài niệm da diết với quê hương. Một Vũ Hoàng Chương khi say "lạc lối đào nguyên" tạo những hư ảnh diệu kỳ. Một Hàn Mặc Tử trữ tình trong "cõi siêu hình cao tột bực". Một nghệ sĩ ngôn từ Bích Khê. Và mơ say những ám ảnh, những con người vĩ đại ấy đã chiếm lĩnh thời gian, chiếm lĩnh không gian, thu vào mình cái chấp chới của thời gian, cái rợn ngợp của không gian để rồi tạo ra "Tôi là một người khác" (Je suis un autre - Arthur Rimbaud). Khi đó con người không còn là một con người giản đơn, mà hòa nhập với "âm thanh, màu sắc, hương thơm", cảm nhận những điều tinh tế, khó nắm bắt của vũ trụ: "cành biếc run run chân ý nhi", "những luồng run rẩy rung rinh lá" (Xuân Diệu) hay "Đang khi mầu nhiệm phủ ban đêm/ Có thứ gì rơi giữa khoảng im/ Rơi tự thượng tầng không khí xuống/ Tiếng vang nhè nhẹ dội vào tim" (Hàn Mặc Tử). "Con mắt thơ" của Đỗ Lai Thúy phóng chiếu cái nhìn thấu thị đến từng nhà thơ, dựa vào văn bản ngôn từ, dò tìm những đáy sâu cảm giác.

Đỗ Lai Thúy viết: "Điểm xuất phát cho hành trình đi tìm "Con mắt thơ" của tôi là tác phẩm... chính xác hơn phải là ngôn ngữ tác phẩm".

Trong lịch sử ngôn ngữ học, ngôn ngữ được mệnh danh là một nữ thần (nàng Vak). Nữ thần thể hiện phép nhiệm màu qua ngòi bút của người sáng tác, tạo nên cấu trúc thơ nằm trên "bề nổi của tảng băng trôi": "Ta là một khách chinh phu” hay "Thế Lữ là một chàng kỳ khôi" (Đỗ Lai Thúy trích thơ Thế Lữ). Mà theo Đỗ Lai Thúy "đây là cú pháp thuần túy khoa học nhằm làm nổi bật bản chất của sự vật, hiện tượng". Nhưng linh thi không được gợi ở chỗ này; Đỗ Lai Thúy nghe về những "tiếng gọi", những "tiếng nói” những biến hoá thần diệu của nàng Vak trong tiềm thức con người; Tiếng, Lời, Khúc, Vần, Điệu trong các tựa đề của thơ Thế Lữ là những yếu tố tạo thành nền thơ, nằm dưới "phần chìm của tảng băng".

Có thể nói, thơ là một diệu biệt của nghệ thuật ngôn từ, của thanh-sắc-hình. Một loại hình ngôn từ có "khoảng cách" với các loại hình ngôn từ khác. Và khi đó, "thi sĩ trở thành người lạ" (Le poète arrive à l’inconnu - Arthur Rimbaud). Đi tìm chất lạ là quá trình nhà "phê bình hoá thân thành "dòng sông trong suốt, trôi và uốn lượn xung quanh tác phẩm" (Jules Lemaître). Dòng sông của Đỗ Lai Thúy tạo ra những chỗ xoáy - những cảm giác hút người đọc, khi bị xô giạt theo những cụm từ như "bẹp dí hình ảnh/ "phồng lên đầy sinh khí", lúc trầm mình xuống với nỗi "buồn khổ, cô đơn đặc quánh, vón cục" hay cuốn theo dòng cảm xúc thơ Bích Khê (trang 176-177)...

Trong khi tìm được những "Con mắt thơ" của Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương, Hàn Mặc Tử, Bích Khê chính Đỗ Lai Thúy đã tìm thấy những "con mắt phê bình" của anh, phương pháp phê bình mới - Thi pháp học đan xen trực giác nghệ thuật tinh tế.

"Con mắt thơ" của Đỗ Lai Thúy là một thành tựu, băng lướt một lối mới vào phong trào Thơ Mới.

Hà nội 21-2-1993
N.V.Q.N
(TCSH57/09&10-1993)

---------------------
(1) Con mắt thơ - Đỗ Lai Thúy. Nxb Lao động, 1992.
(2) Hai khúc mở và kết trong phần viết của Đỗ Lai Thúy.

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN QUANG HÀNgồi đọc NGÀN NĂM SAU mà như đang ngồi nói chuyện tay đôi với Nguyễn Trọng Bính. Giọng thơ anh cũng cứ chân chất, yêu quê hương và say đời như chính con người anh. Từ thời chiến tranh, chúng tôi đã ở trong rừng với nhau. Cứ ngồi với nhau là bộc bạch hết. Một lá thư riêng, một rung động mới, chúng tôi cũng chia sẻ với nhau.

  • PHAN THÀNH MINHĐó cũng là tựa đề tập thơ rất dễ thương của Trần Tịnh Yên - nhà thơ của đất kinh kỳ thơ mộng thuở nào - thú thật  là tôi đã vô cùng hạnh phúc khi nhận được tập thơ này do chính  tác giả gởi tặng, dễ thương ở chỗ khổ giấy nhỏ nhắn, trình bày đẹp trang nhã, sách 80 trang với 46 bài thơ cũng mỏng mảnh như thế nhưng nhìn rất thơ, càng thơ hơn nữa khi chính tác giả tự viết lời phi lộ cho mình, tôi rất hợp với anh ở điểm này bởi lẽ chẳng ai có thể thay thế cho mình bằng mình để nói hộ những gì mình muốn nói...:...năm xưa qua ngõ sân đìnhcó người nhặt được mối tình ai rơi

  • NAM NGỌC            (Về tập truyện ngắn mới nhất của nhà văn Võ Thị Xuân Hà do Công ty Truyền thông Hà Thế liên kết NXB Phụ nữ xuất bản và phát hành quý I năm 2009)Tập truyện gồm 14 truyện  ngắn, với những mô típ khác nhau nhưng cùng chung gam màu thấm đẫm chất liệu hiện thực. Tất cả đã tạo nên một chỉnh thể thống nhất mà ở đó các nhân vật dù xấu dù tốt cũng đều hướng tới cái đẹp, cái nhân bản của con người. Cách viết truyện lạ cùng với những chi tiết, tình tiết được lắp ghép một cách khéo léo, Võ Thị Xuân Hà đã một lần nữa gây ngạc nhiên cho người đọc bằng bút pháp ẩn không gian đa chiều của mình.

  • BÍCH THUHơn một thập niên trước đây, với hai truyện ngắn Hồi ức của một binh nhì và Vết thương lòng, Nguyễn Thế Tường đã đoạt giải cao trong cuộc thi truyện ngắn do Tạp chí Văn nghệ quân đội tổ chức năm 1992 - 1994. Tôi còn nhớ một trong số các nhà phê bình đã thành danh của nhà số 4 Lý Nam Đế không kìm được cảm xúc của mình với chùm truyện dự thi của Nguyễn Thế Tường lúc ấy đã thốt lên: “Tôi thích truyện ngắn Nguyễn Thế Tường”. Từ đó đến nay, Nguyễn Thế Tường vẫn miệt mài viết và lặng lẽ ra sách. Người đàn bà không hoá đá là lần ra mắt thứ năm của anh.

  • HOÀNG VŨ THUẬT                (Đọc “Trăng đợi trước thềm”, thơ Hải Bằng, NXB Thuận Hoá - 1987)Đổi mới là trách nhiệm vừa là bổn phận đang diễn ra sôi động trong đời sống văn học hôm nay. Nhưng ranh giới giữa cũ và mới không dễ dàng phân định khi đánh giá một tác phẩm văn chương nghệ thuật.

  • ĐINH NAM KHƯƠNG               (Nhân đọc “ru em ru tôi” Thơ Trương Vĩnh Tuấn NXB: Hội nhà văn - 2003)Có một nhà thơ nổi danh thi sĩ, làm “quan” khá to ở báo văn nghệ. Nhưng chẳng bao giờ thấy ông vỗ ngực, ngạo mạn nói lời: “ta là quan đây” mà ông luôn dân giã tự gọi mình là hắn, xưng hô với bạn bè là mày tao:                          “...Hình như hắn là nhà quê                          Hình như hắn từ quê ra...”                                                                (Gốc)

  • NGÔ MINHKhông thể đếm là tập thơ đầu tay của cây bút nữ Nguyễn Thị Thái người Huế, sống ở thành phố Buôn Ma Thuột vừa được NXB Thuận Hóa ấn hành. Tôi đã đọc một mạch hết tập thơ với tâm trạng phấn khích. Tập thơ có nhiều bài thơ hay, có nhiều câu thơ và thi ảnh lạ làm phấn chấn người đọc.

  • MINH KHÔICuối tháng bảy vừa qua, giáo sư ngôn ngữ và văn chương Wayne S.Karlin và nữ phóng viên Valerie, công tác ở một Đài phát thanh thuộc bang Maryland, Mỹ đã đến Huế tìm thăm nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, để chuyển cho chị bản hợp đồng in ấn và phát hành tập thơ Green Rice (Cốm Non) do cơ quan xuất bản gửi từ Mỹ sang.

  • FRED MARCHANTCó những vết thương chẳng thể nào lành lặn và có những nỗi đau chẳng bao giờ mất đi. Kinh nghiệm nhân loại khuyên ta không nên “chấp nhận” hay “bỏ đi” hay “vượt lên” chúng. Với một con người mà tâm hồn thương tổn vì đã làm cho người khác khổ đau hay chứng kiến nhiều nỗi đau khổ thì những câu nói như thế hoàn toàn vô nghĩa.

  • BÍCH THU          (Đọc thơ Dòng sông mùa hạ của Hoàng Kim Dung. NXB Hội Nhà văn, 2004)Nhìn vào tác phẩm đã xuất bản của Hoàng Kim Dung, tôi nhận thấy ở người phụ nữ này có sự đan xen giữa công việc nghiên cứu khoa học với sáng tạo thi ca. Ngoài bốn tập thơ và bốn cuốn sách nghiên cứu về nghệ thuật đã in, với tập thơ thứ năm có tựa đề Dòng sông mùa hạ mới ra mắt bạn đọc, đã làm cán cân nghiêng về phía thơ ca.

  • ĐÔNG HÀVăn hoá và văn học bao giờ cũng có một mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Có thể thấy rằng văn học là một bộ phận của văn hoá, nó chịu sự ảnh hưởng của văn hoá. Khi soi vào một thời kì văn học, người đọc có thể thấy được những khía cạnh về phương diện đời sống văn hoá tinh thần của một thời đại, một giai đoạn của xã hội loài người.

  • HÀ KHÁNH LINHViết được một câu thơ hay có khi phải chiêm nghiệm cả một đời người, hoàn thành một tập truyện, một tập thơ là sự chắt chiu miệt mài suốt cả quá trình, sau Đại hội nhà văn Việt Nam lần thứ VII Lê Khánh Mai liên tiếp trình làng tập thơ "Đẹp buồn và trong suốt như gương" (Nhà xuất bản Hội Nhà văn) và "Nết" tập truyện ngắn (Nhà xuất bản Đà Nẵng).

  • NGUYỄN TRỌNG TẠOCó người làm thơ dễ dàng như suối nguồn tuôn chảy không bao giờ vơi cạn. Có người làm thơ khó khăn như đàn bà vượt cạn trong cơn đau sinh nở. Có người không đầy cảm xúc cũng làm được ra thơ. Có người cảm xúc dâng tràn mà trước thơ ngồi cắn bút. Thơ hay, thơ dở, thơ dở dở ương ương tràn ngập chợ thơ như trên trời dưới đất chỉ có thơ. Thơ nhiều đến ngạt thở chứ thơ chẳng còn tự nhiên như hơi thở mà ta vẫn hoài vọng một thời.

  • THẠCH QUỲSuốt đời cần mẫn với công việc, luôn mang tấm lòng canh cánh với thơ, vì thế, ngoài tập “Giọng Nghệ” in riêng và bao lần in chung, nay Ngô Đức Tiến lại cho ra tập thơ này.

  • Trong đội ngũ những người hoạt động văn nghệ tại Thừa Thiên Huế, bên cạnh các Hội chuyên ngành trực thuộc Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật (như Hội Nhà văn, Hội Mỹ thuật, Hội Âm nhạc…) có một tổ chức gọi là “Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Thừa Thiên Huế”(CHNV).

  • Hà Khánh Linh xuất thân trong một gia đình khoa bảng nổi tiếng ở Huế. Tên khai sinh của chị là Nguyễn Khoa Như Ý. Năm 20 tuổi, đang học dở dự bị đại học Khoa Học Sài Gòn thì chị quyết định bỏ học để gia nhập quân Giải phóng. Từ đó cho đến khi nghỉ hưu chị đã từng đi dạy, làm phóng viên Đài phát thanh Giải phóng, Đài phát thanh Bình Trị Thiên, làm biên tập, Thư ký Tòa soạn rồi Phó tổng biên tập Tạp chí Sông Hương. Chị quen biết và giao tiếp khá rộng từ các vị quan chức đến các vị đại đức, linh mục, trí thức... cùng những năm tháng gian khổ ở chiến trường Trị Thiên, những chuyến đi thực tế ở Căm pu chia... đã giúp chị có một vốn sống hết sức phong phú.

  • Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ sinh ra và lớn lên bên bờ sông Kiến Giang thơ mộng. Nhưng tuổi thơ của chị chứa đầy buồn đau và nước mắt: Mẹ không có cửa nhà/  Em đứa trẻ vắng cha/ Như mầm cây trên đá/ Biết khi nào nở hoa? Nỗi tuyệt vọng cứ ám ảnh suốt cả tuổi thơ của chị. Trong một bài thơ đầu tay chị viết: Tuổi thơ tôi như ráng chiều đỏ lựng/ Hắt máu xuống dòng sông đen.

  • Trần Thùy Mai bắt đầu được các bạn trẻ yêu thích văn chương ở Huế biết đến khi chị đang học ở trường Đồng Khánh những năm trước giải phóng (1975). Tốt nghiệp vào loại xuất sắc, chị được giữ lại làm cán bộ giảng dạy ở trường đại học Sư phạm Huế. Dạy ở trường đại học Sư phạm Huế được một vài năm, chị chuyển sang làm công tác biên tập ở nhà xuất bản Thuận Hóa. Đây là một quyết định khá táo bạo và sáng suốt. Làm việc ở nhà xuất bản, chị có điều kiện viết lách hơn.

  • LÊ HUỲNH LÂM                 (Đọc Viết bên Hộ Thành hào - thơ Nguyên Quân -, Nxb Thuận Hoá, 2009)Giữa những đổ nát hoang tàn quá khứ và hiện tại, khi mà thang giá trị bị đảo lộn, những mảnh vỡ đang vung vãi mọi nơi, tác giả lại tìm đến Hộ Thành hào để nhìn ngắm cõi lòng đang hỗn hênh mọi thứ và như chợt nhận ra niềm hy vọng mỏng mảnh, anh đã Viết bên Hộ Thành hào.

  • HOÀNG DIỆP LẠCBất chợt giữa một ngày mưa gió, nhìn những hạt nước toé lên từ mặt đất như những đoá hoa mưa. Một loài hoa của ảo giác. Có thể trong tâm trạng như vậy, Lê Tấn Quỳnh chợt hỏi:Hoa vông vangCó hay không