Vàng ơi!

15:55 04/09/2008
NGUYỄN THỊ THÁI Ngoài vườn có tiếng đánh sạt. Lại một chiếc tàu cau rơi. Con Vàng buồn bã đứng dậy, thất thểu đi ra. Hình như tiếng rơi khiến nó đau lòng.

Nó làm cái công việc của ngày xưa một cách vô thức, không còn hân hoan như trước nữa. Tới bên tàu cau nó ngậm đầu mo kéo lê uể oải. Đằng sau ngọn lá màu vàng úa còn tươi cong lên vẫy vẫy theo nhịp đi, va vào nhau kêu tách tách chậm buồn, u uẩn. Đến mép sân, con Vàng dừng lại nhẹ nhàng nhả cái tàu cau. Nó đứng nhìn mông lung rồi nằm ẹp xuống, đầu gối lên hai chân trước chắp chéo vào nhau. Mắt ngước lên trời nó nhớ đôi guốc mà nó từng hí hửng tha từ cổng vào nhà mỗi bận cô giáo đi đâu về gọi: "Vàng ơi!..."

Năm cô giáo Chuộng đổ bệnh rồi mất, người làng Lưu Bảo thường thấy con Vàng đi thơ thẩn. Đôi khi nó đứng đầu đường cúi ngóng về làng Thượng. Nó ngóng về đó bởi hồi nhỏ nhiều lần nó chạy theo xe đạp của cô chủ. Nó không biết chủ nó ngày ngày đi dạy học, chỉ biết chủ đi đúng giờ về đúng giờ; tự nhiên cũng thành nếp cho nó. Tình mơ nó vui vẻ chạy loanh quanh; sáng, nằm im giữ nhà, giữ vườn; gần trưa và xế chiều nằm phấp phỏng ngóng đợi tiếng líp xe.
Đã thành lệ, đến cổng lần nào cô giáo Chuộng cũng gọi "Vàng ơi". Nó chỉ chờ thế là tí tửng chạy ra tha chiếc guốc có cái quai trong suốt chủ thả rơi cho nó ngậm vào nhà. Trò chơi mà nó rất thích bởi động tác đó mang ý nghĩa của sự vui mừng. Hồi mới học trò này nó đã bị ăn roi một lần vì thấy cái quai hấp dẫn quá nên đã tha ra vườn nằm ôm chiếc guốc nhấm nháp. Trưa hôm đó nó không được ăn cơm đúng giờ, lại phải nghe bao nhiêu lời dặn, nó chỉ hiểu là không được làm như vậy. Nghe hoài nó nhớ việc không được nhiều lắm: không được ăn bậy, không được đi chơi xa, không được cắn người ta...
Ngày ấy những lúc xế chiều, dòng sông Bạch Yến nhuộm màu vàng sậm. Con Vàng nằm khoan khoái trong hơi xanh mát của làng quê, trong mùi thơm của bếp nấu. Đó là nỗi vui của sự đợi chờ, là dịp nó bày tỏ tình cảm, ánh mắt nó chan chứa niềm thương mến nhìn cảnh nhìn người. Cô giáo Chuộng cũng vui lây nhờ nó.
Cô sống một mình. Thời trẻ chắc cô đẹp lắm. Giờ tuổi đã lưng chừng, tuy cao gầy nhưng dáng dấp, gương mặt nom rất quý phái, nghiêm nghị mà ân cần.
Dân làng Thượng nể trọng cô đã đành. Đám học trò vỡ lòng hay khóc hay quậy thế mà cô dạy chúng cũng ngoan dần lên. Chúng quý cô và mê luôn con Vàng của cô.
Những lúc ra vườn, cô cho con Vàng theo, tập cho nó lượm củi. Lúc đầu hễ lượm được cây củi nào là nó nằm xuống gặm que ấy. Bị la mắng hoài, nó hiểu. Khi nào chủ ôm củi vào sân phơi mới là lúc nó được quyền gặm que củi của mình.
Một chiều ngoài vườn đã giăng mắc lưới nhện, không gian tím sẫm, đột ngột tiếng tàu cau rụng sắc, gọn. Con Vàng giật mình. Cô giáo Chuộng quá quen với âm thanh ấy. Nhưng tiếng rơi giữa mênh mông chiều tím cũng làm cô chạnh lòng nghĩ tàu cau cũng như đời người. Xanh hết mình rồi cũng có lúc thảng thốt vì úa vàng và héo khô. Mới ngày nào... Miên man theo bóng mình thuở đang còn tuổi thanh xuân cô giáo Chuộng bỗng bật cười khi thấy con Vàng đang cố kéo tàu cau về phía mình. Cô cười vì nghĩ con Vàng tưởng chiếc tàu cau là que củi. Hay là nó nhớ giữa sân phơi bên cạnh những mớ củi cũng có tàu cau. Cô bước nhanh lại ôm nó vào lòng, còn nó thì khều khều ôm lấy mo cau.
- Ôi! Vàng ơi...
Cô kêu lên nhẹ nhàng. Cô yêu nó vô hạn, nó là nguồn vui, là nỗi sẻ chia đằm thắm. Những khi trở trời trái gió, cô mỏi người, nó cũng uể oải. Cô ngắt vài cọng cỏ bã trầu, ít lá sả đem tận miệng cho nó. Nhìn nó nhai cô yên tâm quên cả đau nhức.
Đôi khi cô lo sợ. Một năm của mình bằng bảy năm của nó, liệu nó có bỏ cô mà đi trước? Rồi cô xua tay vui vẻ cốc nhẹ lên đầu nó mắng yêu:
- Mẹ mày chứ!...
Trời đã chạng vạng. Cô giáo Chuộng ôm củi vào sân, theo sau là con Vàng đang xung xăng kéo cái tàu cau. Cô nhìn nó lòng tràn niềm vui. Tối hôm đó, cô chơi đùa và nói chuyện với nó:
- Từ nay hễ nghe tàu cau rụng là Vàng chạy ra lượm vào sân phơi nghe chưa?
- Vàng là đứa hảo tâm của cô. Cô yêu Vàng lắm đấy!
Vừa nói cô vừa dịu dàng vuốt ve nó. Vàng được thể liếm tay, liếm mặt và cắn hờ vào cô.
Đêm đêm ngồi chấm vở cho học sinh, cô Chuộng thấy yên bình bên cạnh con Vàng đang cuộn tròn nằm dưới chân. Chốc chốc cô gọi nhỏ "Vàng ơi" là nó đứng dậy nhìn cô ư, ử. Đôi bận nó sủa lên một tiếng khiến cô thấy ấm áp, mọi nỗi cô đơn trong lòng tan biến...

Con Vàng lim dim như người già ít ngủ. Nó thường thở dài đứng dậy đổi thế nằm. Giờ đây nó không nhìn thấy bóng cô chủ nữa!. Nó không nguôi nhớ cô. Nó biết ngôi mộ nơi cô chủ nằm nhưng chạy đến dù cào đau cả móng nó cũng không tìm được cô. Quay về với ngôi nhà quen thuộc, nó trở nên già nua và lún sâu vào hoài niệm...
Bây giờ nó nằm giữ nhà, giữ vườn của cô như một trách nhiệm. Nỗi mong chờ tan theo năm tháng. Mắt nó đờ đẫn dần... Khu vườn vẫn râm mát như xưa và ngôi nhà đã có gia đình người cháu của cô giáo đến ở để hương khói. Hai vợ chồng còn trẻ đi làm suốt nên khu vườn càng thêm vắng vẻ, thanh tịnh. Nổi bật lên là tiếng lắc rắc của củi rụng, tiếng đánh sạt của tàu cau rơi. Và ngoài xa, nơi xóm bờ sông, tiếng trẻ con nô đùa í ới gọi nhau. Bất giác con Vàng vểnh tai nghe đâu đó xa xăm vọng về tiếng: "Vàng ơi!..."
Trại viết Vũng Tàu 05/02
N.T.T
(nguồn: TCSH số 164 - 10 - 2002)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • HOÀNG TRỌNG ĐỊNHPhòng giam chật chội, tối tăm...  Gần trần có một lỗ thông hơi. Bên ngoài lỗ thông hơi là bức tường tôn xám xỉn. Khe hở dài chừng 10 mét, rộng chừng 3 tấc, nằm song song và gần sát với mặt đường bên ngoài. Đứng trong phòng giam, từ lỗ thông hơi nhìn qua khe hở của bức tường, chỉ có thể thấy những bước chân người đi.

  • NGUYỄN TRƯỜNGThấy tôi ngồi chăm chú đọc thư, miệng cứ tủm tỉm cười, vợ tôi mới giả giọng, hỏi đùa:- Có việc chi thích thú mà cười một chắc rứa?- Có chuyện vui bất ngờ đấy em ạ! - Tôi vừa trả lời vừa kéo tay vợ ngồi xuống, rồi đọc lại một mạch toàn văn bốn trang thư của ba tôi từ Huế mới gửi vào.

  • VIỆT HÙNGGa H. một đêm mưa phùn ảm đạm.Khách chờ tàu nằm la liệt dọc các hành lang.Tôi bước vào phòng đợi, trong tâm trạng không vui mà cũng chẳng buồn. Tìm một chỗ ngồi bất kỳ…

  • TRẦN KIÊM ĐOÀN Ngôi nhà một thời là tổ ấm trên đồi bỗng trở thành rộng gấp đôi, gấp ba và vắng vẻ như một tòa lâu đài cổ từ khi Bé Út dọn ra khỏi nhà để lên miền Bắc học. Đứa con 18 tuổi trên đất Mỹ nầy rời nhà đi học xa thường có nghĩa là đang bước vào đời, ra khỏi vòng tay cha mẹ, thật khó lòng về lại. Những bước tiếp nối là học ra trường, kiếm việc làm, chọn nhiệm sở như cánh buồm đưa tuổi trẻ ra khơi. Bất cứ nơi nào có thể an cư lạc nghiệp trên 50 tiểu bang sẽ là nơi đất lành chim đậu. Tuổi thành niên tiêu biểu của văn hóa Âu Mỹ là tự lập, gắn liền với  vai trò chuyên môn và xã hội chứ không phải quanh quẩn với đời sống gia đình.

  • ĐỖ PHẤNĐêm rất khuya dưới chân núi H. Khó khăn lắm chúng tôi mới tìm được một con đò bằng tôn móp méo xác xơ. Chẳng hiểu ban ngày trông nó thế nào. Có lẽ đây là chiếc đò bị cấm lưu hành? Không thể có mặt ở bến vào ban ngày. Cũng là cấm làm phép. Dòng suối không có chỗ nào đủ sâu để có thể chết đuối.

  • ĐỖ KIM CUÔNGBây giờ bạn bè ít được gặp anh lang lang trên phố. Thảng hoặc dăm bữa nửa tháng, có khi hơn mới tóm được anh. Ấy là khi anh phải ra khỏi nhà đi nạp bài cho những tờ báo mà anh thường cộng tác, hoặc đi nhận nhuận bút một vài bài thơ lẻ in trên báo.

  • VŨ NAM TRỰC           Truyện ngắn

  • TRẦM NGUYÊN Ý ANHÔng Nhâm bước chầm chậm theo con đường tráng xi-măng ngoằn ngoèo trong con hẻm nhỏ. Căn nhà ông ở cuối xóm, một trệt, một lầu... mới tinh. Cánh cửa sắt đóng im ỉm. Ông ngồi bệt xuống nền xi-măng vì chân ông đã mỏi. Lẽ ra, khi mấy đứa con ông chưa bàn nhau cất lại căn nhà, ông đã có thể đẩy cánh cửa rào bằng tre và đàng hoàng bước vào nhà mình.

  • XUÂN CHUẨNĐể rồi tôi kể cho ông nghe về lai lịch cái quạt, để ông ông khỏi coi tôi là Thằng Bờm có cái quạt mo. Cái thời quạt điện quạt đá, máy lạnh mà cứ bo bo cái quạt kè, thỉnh thoảng lại đạp phành phạch như mẹ hàng cá thách lên giữa chợ. Cũng chẳng có gì li kỳ, hay mùi mẫn rơi lệ, chỉ là chuyện đời tầm phào.Hai ông trải chiếu ngồi giữa sân, nhâm nhi chén trà, ông Thân nói với đại tá Tiến về hưu như vậy khi đại tá ngỏ ý thích cái quạt kè của ông.

  • TRẦN THỊ TRƯỜNG  Bim chào đời vào lúc kém 19 phút. Trăng hạ tuần phun nhẹ màu đục của sữa vào bầu trời. Hôm sau trời lất phất mưa. Bố nói với bà ngoại trước khi đi làm: "Nếu không thấy con về thì bà giúp con cùng nhà con nuôi cháu". Câu nói ám ảnh làm trí tưởng tượng của bà ngoại nhiều lần thắt lại. Sau này nhiều khi bà ngoại sợ cả cái bóng của mình.

  • NAM TRUNG Ông Hãnh cứ đi tới đi lui trong phòng khách nhà ông, vừa đi vừa quạu cọ lẩm bẩm: thằng Hùng nó nói vậy là nó có ý coi thường mình, nó dám trứng khôn hơn vịt. Rồi mày sẽ biết tay ông. Ông sẽ cho mày còn lâu mới được vào Đảng, ông sẽ bác tất cả những đề xuất về mày...

  • HOÀNG THÁI SƠNKhi tôi lớn lên thì nội tôi đã mất từ lâu nhưng thỉnh thoảng dân làng vẫn nhắc đến người với niềm cảm mến về những chuyện không ít ly kỳ. Ông tôi rất khoẻ, người tròn vo, đen như sừng, tục danh Cu Trắt - phương ngữ vùng quê tôi nghĩa là nhỏ và rắn chắc. Ông ham mê võ thuật, thạo côn quyền, thuở trai thường đóng vai ông địa trong đám múa lân. Đám múa năm nào hễ thiếu ông là coi như nhạt trò, dân làng chẳng ai buồn xem. Người ta đồn ông tôi tài ba lỗi lạc, như có thể đi trên lửa, nhảy qua nóc nhà, còn những thứ chui vào hậu cung đình làng mà không cần dở ngói là xoàng... Kho chuyện về ông ngày càng dày do mồm miệng dân gian thêu dệt thêm, tuy nhiên trong đó nhiều chuyện là có thật.

  • PHAN XUÂN HẬUTôi trở về quê sau mười năm xa cách. Quê tôi nằm cuối con sông Vẹn, con sông này là nhánh của sông Dinh, bắt nguồn từ dãy núi Gám, chảy qua bến Dền. Nơi đây xưa kia là kinh đô của vua Dền. Vua Dền tụ tập lực lượng chống lại nhà Trần khi đó đang trấn áp nhà Lý. Vua Dền là hậu duệ của Lý Thái Tổ, ông không chịu sự chuyên quyền của vua tôi Trần Thủ Độ bèn lập căn cứ ở miền Tây Yên Thành, tức quê tôi, và Dền là kinh thành của ông, dân quen gọi ông là vua Dền.

  • NGUYỄN VĂN VINHTết Mậu Thân năm ấy tôi tròn mười sáu tuổi. Soi gương, tôi thấy y xì một con bé tóc lơ xơ hoe nắng, xấu tệ.

  • CHÂU DIÊNĐơn vị của tôi đi bộ từ một tỉnh miền Trung, lên qua Mường Phăng thì Điện Biên đã giải phóng. Sau một tháng đi bộ nhưng gần như chạy bộ, chúng tôi được phép nghỉ lại hai ngày ở một bản, hồi đó bản này nằm khá sâu trong rừng, nhưng nay thì nó đã ở bên một nhánh đường mới làm dẫn ra phố huyện Tuần Giáo để nối vào con đường số 6 chạy tuốt lên Điện Biên Phủ.

  • NGUYỄN TRƯỜNGLàng Hạ nằm phía hạ nguồn sông La Ngà. Đất chật. Người đông. Đói nghèo thành nếp. Hồi hai bên đánh nhau, nơi đây là vùng địch hậu. Giải phóng hơn chục năm mà làng Hạ đói nghèo vẫn hoàn nghèo đói. Không ít người bỏ làng đi xa chẳng thèm ngoái cổ nhìn lại. Vậy mà hơn mười năm lại đây, nhờ vực dậy cái nghề tơ tằm truyền thống vốn có từ xưa, làng Hạ đang trở thành một làng nghề giàu có nhất nhì trong vùng. Nhà cũ lỗi thời phá đi xây mới. Đường làng bùn lầy được thay bê-tông. Trường tiểu học tranh tre nứa lá hồi nào nay lên hai tầng. Điện lưới dọc ngang khắp làng đã đẩy năng suất ươm tơ kéo sợi lên cao chưa từng thấy. Chất lượng tơ tằm đạt chuẩn xuất khẩu. Hàng bán chạy hơn cả tôm tươi. Thu nhập người dân ngày một cao.

  • LÊ TRÂMNgồi với tôi và Kh là một đôi nam nữ còn khá trẻ. Chàng thanh niên, theo lời gã, vừa mới về từ Thái Lan sau khi trúng một hợp đồng béo bở. Gã là đại diện của một công ty xuất nhập khẩu nổi tiếng ở bên ấy.

  • NGÔ TỰ LẬPCó lẽ tôi đã ngủ rất lâu trước khi bị lay dậy một cách dữ dội. Tôi cố nằm thêm, mặc dù đó không phải là thói quen của một người lính cũ. Thường thì tôi bật dậy ngay. Trước khi tôi vào lính, cha tôi, một đại tá từng trải ba cuộc chiến tranh, chỉ dặn mỗi một câu: “Hãy chồm dậy ngay tiếng còi báo động đầu tiên!”. Lời dạy của ông tôi làm theo trong suốt thời gian tại ngũ và cả khi giải ngũ. Nhưng có những lúc ta không làm chủ được mình. Tôi thấy mình đau ê ẩm và phải một lúc khá lâu sau tôi mới chậm chạp mở mắt.

  • PHẠM THỊ CÚCTừ những ngày thơ bé còn cắp sách đến trường cho đến khi đã bước vào đời, con cái đã khôn lớn và trưởng thành, trong ký ức của tôi vẫn luôn lưu giữ những hình ảnh sinh động và kỳ diệu của hàng ngàn con cò trắng rợp cả cánh đồng bát ngát, những cánh rừng và vườn cây trĩu nặng vô vàn chim chóc, hình ảnh chim cò thân thiết đậu cả trên vai người, trên đầu người, quẩn dưới chân người... là chuyện của Vùng Đồng tháp Mười qua những trang viết hấp dẫn của các nhà văn Sơn Nam và Đoàn Giỏi.

  • MAI NINHTrong khoảng giữa buổi chiều thăm viếng cơ sở và dạ tiệc, tôi chạy về nhà thay quần áo. Dưới vòi nước ấm, tôi nao nao xúc động nhớ lại từng khuôn mặt bạn bè. Ngoài một hai người thỉnh thoảng gặp nhau nhờ ở lại nơi này sau khi tốt nghiệp, còn hầu hết thì sau một phần tư thế kỷ đã qua đi, bây giờ mới tái ngộ. Làm sao không ngẩn người trước những tên bạn ngày xưa mặt mũi căng hồng tí tửng nhố nhăng, giờ đây làn da gấp nếp, râu ria đạo mạo, ra dáng sếp lớn sếp nhỏ cả rồi. Và dấu chân chim của thời gian càng rõ rệt hơn nữa, nơi những cô đầm bạn gái của tôi.