Văn học Việt Nam về đề tài chiến tranh - những giá trị và sáng tạo chưa kết thúc

11:04 26/11/2008
HỒ THẾ HÀLTS: Văn học Việt về đề tài chiến tranh là chủ đề của cuộc Toạ đàm văn học do Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế tổ chức ngày 20 tháng 12 năm 2005. Tuy tự giới hạn ở tính chất và phạm vi hẹp, nhưng Toạ đàm đã thu hút đông đảo giới văn nghệ sĩ, nhà giáo, trí thức ở Huế tham gia, đặc biệt là những nhà văn từng mặc áo lính ở chiến trường. Gần 20 tham luận gửi đến và hơn 10 ý kiến thảo luận, phát biểu trực tiếp ở Toạ đàm đã làm cho không khí học thuật và những vấn đề thực tiễn của sáng tạo văn học về đề tài chiến tranh trở nên cấp thiết và có ý nghĩa. Sông Hương trân trọng giới thiệu bài Tổng lược và 02 bài Tham luận đã trình bày ở cuộc Toạ đàm.

Hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc Việt Nam, chống đế quốc Pháp và  Mỹ cùng hai cuộc chiến tranh ở biên giới phía Bắc và Tây Nam của tổ quốc đã trở thành đề tài và cảm hứng bất tận trong ý thức nghệ thuật của các nhà văn, nhà thơ. Và thực tế, ta đã có một dòng chảy mãnh liệt của văn học Việt Nam về đề tài kháng chiến với  nhiều cách tiếp cận và lý giải chiến tranh và con người trong chiến tranh khác nhau với những thành tựu khác nhau. Vinh dự và niềm tự hào ấy dành cho những nhà văn mặc áo lính qua nhiều thế hệ mà tên tuổi của họ đã đi vào lịch sử văn học với tư cách là những nhà văn chiến sĩ đầy bản lĩnh và tài năng.

Như ta đã từng chứng kiến, chiến tranh ở bất kỳ dân tộc nào khi đi qua, nó nghiễm nhiên trở thành kho tư liệu và ký ức tâm hồn của dân tộc ấy. Vì vậy, nó có sức sống vĩnh cửu trong nhân dân bằng việc các nhà văn tái hiện nó trong tác phẩm với cái nhìn của người trong cuộc, bằng mệnh lệnh của trái tim và sự thôi thúc viết lên sự thật tối đa của ngòi bút. Sự thật chiến tranh và con người trong chiến tranh lại có dịp được đánh thức mọi tiềm lực bằng cái nhìn khách quan, nhân bản với độ lùi cần và đủ của nhà văn trong thời bình. Văn học về chiến tranh sau chiến tranh ở Việt Nam nhanh chóng chiếm lĩnh hiện thực cuộc sống và con người bằng một quan niệm thống nhất nhưng đa dạång, có bổ sung những mặt còn bỏ ngỏ mà một thời binh lửa, chúng chưa được thể hiện, vì cần phải như thế.

Toạ đàm Văn học Việt Nam về đề tài chiến tranh do Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế tổ chức là một động thái tích cực và cần thiết để khuấy động không khí học thuật, văn chương về một mảng đề tài đang còn và luôn luôn hấp dẫn trong ý thức và mong mỏi của bạn đọc - những người tiếp nhận có bản lĩnh và tài năng hôm nay.
Ban tổ chức nhận được 15 báo cáo của nhiều nhà giáo, nhà nghiên cứu và nhà văn trong và ngoài tỉnh, từ các trường Đại học ở Huế. Chúng tôi cũng vui mừng nhận được đăng ký phát biểu, thảo luận của nhiều anh chị em văn nghệ sĩ có mặt với tư cách là người trong cuộc, những người đã một thời mặc áo lính, là chứng nhân của 2 cuộc chiến, trở về từ những cánh rừng bom đạn, từ các chiến trường, các mặt trận.

Các báo cáo tập trung nghiên cứu và đề cập ở các chủ điểm như sau:
-  Bàn về thi pháp chung ở quan niệm nghệ thuật về nhân vật, về các cấp độ hình tượng của tác phẩm.
-  Bàn về sự hình thành đội ngũ những người cầm bút, về hành trình văn học chiến tranh, cả trong và ngoài nước.
-  Bàn về từng tác giả, tác phẩm; suy nghĩ về hiện thực chiến tranh và vị thế của nền văn học chiến tranh hôm nay.
Sau đây, chúng tôi xin tổng lược những nét cơ bản của các báo cáo như một biểu thị đồng tình, tuy chưa đầy đủ, về thành công của buổi Toạ đàm.

1. Chủ điểm bàn về những vấn đề chung của văn học chiến tranh, có báo cáo của Hồ Thế Hà với tiêu đề: “Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh sau chiến tranh” đã cắt nghĩa cơ sở xã hội và tư duy nghệ thuật của nhà văn ở việc chiếm lĩnh hiện thực đời sống trong chiến tranh và sau chiến tranh, từ đó, nắm bắt và thể hiện thành quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác của mình. Bài viết đi đến nhận định tổng quát “Xuất phát từ cái nhìn biện chứng, nhân bản và đạo đức của người trong cuộc với nhu cầu nhận thức tối đa, cộng với không khí dân chủ hoá trong đời sống xã hội, nhà văn có cảm hứng nói đúng sự thật, nói thẳng vấn đề. Đó là trách nhiệm đối với con người hôm nay và hôm qua, trong đo,á có những người đã vĩnh viễn hoá thân vào lòng đất mẹ... Những gì về cuộc chiến tranh đã qua, đi vào tác phẩm của các nhà văn sau chiến tranh đã chứng tỏ sự ý thức cao độ và trách nhiệm công dân tích cực của từng tác giả trong việc dựng lại đời sống tinh thần của dân tộc, dựng lại chân dung nhân dân, chân dung người lính một cách trọn vẹn và nghệ thuật. Và vì vậy, cũng xúc động nhất, nhân bản nhất trong việc nối liền hiện tại với quá khứ   tương lai cho con người hôm nay và mai sau”.

Nhà văn Nguyễn Khắc Phê đã nhìn nhận, chiêm nghiệm từ các tác phẩm về đề tài chiến tranh và đặt ra nhu cầu cấp thiết trong bài viết “Đã đến lúc cần có một cách nhìn toàn diện, tôn trọng sự thật”. Bằng việc điểm qua những mặt được và chưa được của văn học về chiến tranh từ trước đến nay, tác giả đã nêu ra một hiện thực như sau: “Mấy chục năm qua, văn học nghệ thuật đã tạo ra được nhiều điển hình về người anh hùng nhưng vẫn còn mắc nợ với nhân dân, vì nếu nhìn thẳng vào sự thật, thì hình tượng người anh hùng chưa có sức lay động mãnh liệt, chưa có sức sống lâu bền trong tâm hồn công chúng”. Từ đó, tác giả bàn đến quan niệm và cách nhìn về chiến tranh, về người anh hùng, về nhu cầu nhận thức tối đa hiện thực thời chiến cả bên ta và bên đối phương một cách toàn vẹn hơn. Có thế, văn học “mới giúp mở rộng chân trời sáng tạo để có những tác phẩm sâu sắc hơn, nhân bản hơn, và như thế, sẽ có giá trị lâu bền hơn”.

Trong cảm hứng nói lên sự thật và khát vọng tái hiện sâu sắc và trách nhiệm về cuộc chiến tranh vừa qua, nhà văn Nguyễn Quang Hà đã khẳng định trong bài viết có tiêu đề “Chúng ta không thể không viết về đề tài chiến tranh”, đặc biệt là viết về vùng đất lửa huyền thoại Trị Thiên, bởi vì đây là vùng trắng anh hùng, là “vùng chiến lược của đầu cầu giới tuyến quân sự tạm thời”. Những ký ức chiến trường ấy đã và sẽ đi vào những trang sách về chiến tranh của anh và đồng nghiệp một cách nhức buốt, vừa như những ký ức sống vừa như huyền thoại -sử- thi- anh hùng ca.

Tại cuộc Toạ đàm này, tác giả Nguyễn Hồng Dũng có bài viết “Chiến tranh Việt trong văn học Mỹ- Từ sự thật đến tác phẩm”. Đây là bài viết tổng quan tiếp cận nền văn học về đề tài chiến tranh Việt của các nhà văn Mỹ- là cựu binh hoặc từng tham gia trực tiếp với nhiều cương vị khác nhau trong cuộc chiến ở Việt . Bài viết đã cắt nghĩa cái gọi là “Hội chứng Việt Nam” mà những cựu binh Mỹ đã ám ảnh và dẫn đến hơn 50% trong số họ bị chấn thương thần kinh vì những tội ác mà họ gây ra đối với nhân dân Việt Nam. Những hội chứng kinh hoàng ấy được họ ghi lại trên giấy trắng, mực đen và những câu trả lời tự thú, sám hối thông thường của họ là: “Cuộc chiến tranh này đã chà đạp lương tri, lẽ phải, nó đã xô đẩy những con người bình thường vào những hoàn cảnh phi lý, và sự điên rồ đã trở thành phản ứng bình thường đối với nó”. Ngoài thơ, ký, truyện ngắn nhiều không kể xiết, tác giả cho biết, chỉ riêng tiểu thuyết Mỹ về chiến tranh Việt lên đến con số trên 500 quyển. Đó là con số có ý nghĩa thông báo giúp ta thấy chính những người lính Mỹ- nhà văn cựu chiến binh luôn “sống trong hối hận và cay đắng, lương tâm bị cắn rứt và mọi giá trị đạo đức đều bị sụp đổ”; ở họ “đều có số phận bi đát, chết mòn vì sự suy sụp thần kinh ngay giữa những người thân”. Tất cả đều tự nhận “Cuộc chiến tranh mà Mỹ tiến hành ở Việt là một cuộc chiến tranh dã man và vô nghĩa”. Văn học về chiến tranh Việt ở Mỹ chính là bài học để “Người Mỹ tìm ra chính bản thân mình” và đồng thời cũng là lời cảnh tỉnh cho mọi cuộc chiến tranh phi nghĩa khác cả hôm qua và hôm nay.

2. Từ góc nhìn và cách lý giải sự hình thành đội ngũ sáng tác, nhà giáo Phạm Phú Phong có bài viết “Kháng chiến qua hồi ức của các nhà văn kháng chiến Bộ”. Bài viết giúp ta thấy được con đường hình thành và đến với văn học của đông đảo công chúng và lực lượng nhà văn cách mạng để trở thành những tên tuổi và tác phẩm lớn, có giá trị càng khẳng định và chứng minh một hiện thực có tính quy luật của cuộc sống lớn cách mạng: “Mỗi người có một điểm xuất phát khác nhau, một cách thức đến với kháng chiến riêng biệt, nhưng ở họ đều có chung một con đường là đến với kháng chiến với tất cả nhiệt huyết của tuổi trẻ, với khí thế hào hùng để giải quyết vấn đề số phận từng con người với vận mệnh của dân tộc và sự nghiệp văn chương: Từ thuở mang gươm đi mở cõi - Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long” (Huỳnh Văn Nghệ).

 Nguyễn Đắc Xuân, bằng vốn ký ức chiến trường của người trong cuộc đã kể lại những câu chuyện đầy xúc động về sự thật bi hùng của nhân dân và người lính để làm nên chiến công mùa xuân 1975. Sự thật ấy phải được làm sống lại trong tác phẩm với tinh thần dũng cảm nói lên sự thật như một sự biết ơn, như lòng ngưỡng mộ và tự hào của nhà văn. Điều ấy, chỉ dành cho những nhà văn dũng cảm và đầy trách nhiệm công dân. Và cũng như cách thế để chống lại sự giả trá, đớn hèn của những người vô đạo đức với quá khứ, với lịch sử trước đây và hiện nay để trở thành kẻ “ăn mày dĩ vãng” .
Nhà văn Hoàng Vũ Thuật góp tiếng nói ở Toạ đàm về chân dung một nhà thơ quen thuộc cuả Huế chúng ta - Nhà thơ Thanh Hải. Anh đã đi ngược hành trình thơ Thanh Hải trong từng thời gian và không gian với từng bài thơ đỉnh, cắm từng cột mốc trong từng chặng đường thơ để phân tích, lý giải, chỉ ra cái hay, cái đẹp và sự chuyển biến về tư tưởng, về hình thức biểu hiện của Thanh Hải, và cuối cùng chỉ ra vị trí của Thanh Hải trong dòng thơ chung của thế hệ những nhà thơ cùng thời: “Thơ Thanh Hải xúc động, như ngọn lửa bùng lên chói sáng, một lời khiêm tốn tự khép lại đời thơ của mình với những trang thơ viết bằng mồ hôi và máu ba mươi năm qua: Một mùa xuân nho nhỏ - Lặng lẽ dâng cho đời - Dù là tuổi hai mươi - Dù là khi tóc bạc”.

Đặc biệt, cuộc toạ đàm đã nhận được truyện ngắn của nhà văn Nhất Lâm viết về chiến tranh có tên Con tắc kè. Tác phẩm nói về một người lính Mỹ ở chiến trường Alưới 1972. Ông về Mỹ và trở lại Việt trong tâm trạng của người có lỗi, nhưng lại được đối xử như một người bạn từ phía Việt . Từ đó, đã làm cho ông càng thấy chủ nghĩa nhân bản tuyệt vời của nhân dân Việt trong và sau chiến tranh. Đó chính là sức mạnh chiến đấu và làm nên chiến thắng kỳ diệu.
Lê Trọng Sâm cũng tham gia toạ đàm với bài viết “Vài cảm nghĩ về văn học đề tài chiến tranh hôm nay” qua đội ngũ những người cầm bút trong 2 cuộc kháng chiến. Sự liên hệ quá khứ của dân tộc để thấy phong cách, tư cách công dân và tư cách nghệ sĩ của nhà văn đã làm cho trang viết của họ trở thành ký ức tâm hồn và bản lĩnh anh hùng của dân tộc Việt .

 Vĩnh Nguyên với tham luận “Văn học Cách mạng không ngừng giải quyết mâu thuẫn” đã đề cập đến những đối lập và phân hoá từ bản thân những người lính trở về sau chiến tranh. Họ tự chọn cho mình một hướng đi không mấy tốt đẹp, mà lẽ ra, với vai trò và tư cách người lính một thời, họ phải xa lánh. Vì vậy, họ phải lặng lẽ đóng vai trò người khác trong “ngày hội hoá trang” giả tạo của chính mình.

3. Bàn về từng tác giả, tác phẩm, có ba bài viết nổi bật của TS. Trần Huyền Sâm, TS. Nguyễn Thành và Thạc sĩ Trần Thanh Hà. Các tác giả chọn 2 tác phẩm tiêu biểu của Bảo Ninh và Chu Lai là Nỗi buồn chiến tranh, Ăn mày dĩ vãng để khảo sát và chỉ ra những đặc điểm thi pháp của hai nhà văn này. Trần Huyền Sâm với bài: “Bảo Ninh và nỗi ám ảnh chiến tranh” đề cập đến nội dung nổi trội nhất của tác giả này qua tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh. Đó là tính chân thật trong và sau chiến tranh mà người lính phải nếm trải và nhận thức trong nhiều trạng thái, hoàn cảnh ở thời bình. Từ đó, bài viết đề cập đến kỹ thuật tiểu thuyết của Bảo Ninh. Đó là biện pháp dòng ý thức, kỹ thuật đồng hiện không- thời gian, lắp ghép kiểu điện ảnh, những tín hiệu thẩm mỹ  mà người đọc phải nắm vững để giải mã và tiếp cận thế giới nghệ thuật của Bảo Ninh ở các lớp hình tượng và cấu trúc chìm của tác phẩm.

Cũng về Nỗi buồn chiến tranh, Trần Thanh Hà tìm hiểu tác phẩm Bảo Ninh ở góc nhìn Hiện thựcVĩnh cửu. Đó là hiện thực chiến trường với nỗi đau buồn của người lính trong và sau chiến tranh, để từ đó, chứng minh cho khát vọng vĩnh cửu của những thế hệ con người Việt Nam hôm nay và tương lai từ bài học xương máu của chiến tranh có tên là nỗi buồn.
Nguyễn Thành, từ góc nhìn so sánh để chỉ ra sự đổi mới trong nghệ thuật của Bảo Ninh và Chu Lai qua hai tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh Ăn mày dĩ vãng. Tác giả nghiên cứu sự tiếp cận chiến tranh từ góc độ phi sử thi của 2 tiểu thuyết này để thấy sự chuyển biến, thay đổi điểm nhìn nghệ thuật của Chu Lai và Bảo Ninh. Nỗi buồn chiến tranh và thân phận tình yêu trong hai tiểu thuyết được lồng ghép trong các kiểu thời gian nghệ thuật khác nhau để nói lên hiện thực cuộc sống của từng nhân vật người lính trong và sau chiến tranh là cách tiếp cận độc đáo của các nhà văn. Đó là khuynh hướng đảo tuyến, xoá bỏ dần lối kể chuyện theo trình tự thời gian của văn xuôi trung đại, do vậy, tính chất, tâm trạng và tình cảm của nhân vật hiện lên đa dạng, phức cảm và nhức nhối, gấp gáp hơn nhiều, góp phần thể hiện chủ đề và các cung bậc của tâm lý. Tác giả cũng chỉ ra chất thơ, lời văn đa thanh và vai trò của người trần thuật trong hai cuốn tiểu thuyết nói trên.

4. Tham gia toạ đàm, còn có một phần nội dung rất hấp dẫn và sinh động, đó là các ý kiến phát biểu, trao đổi tại chỗ xuất phát từ kinh nghiệm sáng tác và kinh nghiệm nghề nghiệp, kinh nghiệm đời của các anh chị từng là nhà văn ở chiến trường như Tô Nhuận Vỹ, Ngô Minh, Nguyễn Đắc Xuân... Các ý kiến đều tập trung nêu và đề xuất cách tiếp cận chiến tranh và thể hiện con người trong chiến tranh với sự tiếp biến nghệ thuật hiện đại để làm sao những tác phẩm viết về chiến tranh sắp đến sẽ hấp dẫn hơn, chân thật hơn mà cũng nghệ thuật hơn. Và vì vậy, cũng nhân bản hơn đối với từng cá nhân con người hôm qua, hôm nay và mai sau. Đó là mệnh lệnh của trái tim, là sứ mệnh cao cả của nghệ thuật mà lịch sử trao cho các nhà văn chúng ta. 
Huế, ngày 20-12-2005  
H.T.H

(nguồn: TCSH số 205 - 03 - 2006)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNHHôm Tết vừa rồi, anh Đỗ Lai Thúy ghé thăm Huyền Không Sơn Thượng và có tặng tôi một tập sách. Nội dung, anh đã phác thảo chân dung học thuật của 17 nhà nghiên cứu. Công trình thật là công phu, khoa học, nhiều thao tác tư duy, nhiều tầng bậc chiêm nghiệm... hàm tàng một sở học nghiêm túc, đa diện và phong phú.

  • TRÚC THÔNGLTS: Cuộc hội thảo Thơ Huế trong mạch nguồn thơ Việt do Hội Nhà văn TT Huế tổ chức nhân dịp Festival Thơ Huế 2006 đã “truy cập” được nhiều nhà thơ, nhà lý luận- phê bình tham dự.Tiếp theo số tháng 6, trong số tháng 7 này, Sông Hương xin trích đăng thêm một số tham luận và ý kiến về cuộc hội thảo nói trên.

  • PHẠM XUÂN NGUYÊNTrước hết tôi muốn phân định một khái niệm thơ Huế, ít nhất là trong bài viết này của tôi. Thơ Huế là một khái niệm tưởng cụ thể nhưng lại khá mơ hồ. Thế nào là thơ Huế? Có phải đó là thơ viết về Huế và thơ của người Huế viết. Mặc nhiên mọi người đều hiểu thế. Thơ viết về Huế thì có của người gốc Huế, người đang sống ở Huế và người ở khắp mọi nơi.

  • INRASARATham luận Festival Thơ Huế lần 2 tại Huế 05 và 06/6/2006Tràn lan cái giống thơ:Cái giống thơ là sản phẩm dễ gây nhầm lẫn và ngộ nhận. Ngộ nhận nên quá nhiều người làm thơ, nhà nhà làm thơ. Rồi tập thơ được in ra hàng loạt để...tặng. Và khốn thay, không ai đọc cả! Vụ lạm phát thơ được báo động mươi năm qua là có thật. Không thể, và cũng không nên chê trách hiện tượng này. Thử tìm nguyên do.

  • TÂM VĂNĐã hơn hai thế kỷ rồi mà nay đọc bài “Lập học chiếu” (Chiếu chỉ thành lập trường học) của Ngô Thời Nhậm vẫn nóng lên như những dòng thời sự.

  • HỒ THẾ HÀVới điểm nhìn ngược chiều từ khởi đầu thế kỷ XXI (2006) hướng về cội nguồn khai sinh vùng đất Thuận Hoá - Phú Xuân - Huế (1306), chúng ta thấy vùng đất này đã có 700 lịch sử thăng trầm, vinh quang và bi tráng.

  • NGUYỄN ĐỨC TÙNGVô thức là những hoạt động tinh thần mà chúng ta không thể nhận thức ra được. Trong tác phẩm nổi tiếng của mình, Diễn dịch các giấc mơ, Freud lần đầu tiên đề nghị khái niệm vô thức (unconscious) để phân biệt với ý thức (conscious) và tiềm thức (preconscious), sau này gọi là lý thuyết topo.

  • VĂN CÔNG HÙNGKính thưa quý vị, tôi phải xin phép nói ngay là những phát biểu của tôi vô cùng cảm tính và chả có một hệ thống gì hết, trong khi trước mặt tôi đây đều là những người lừng danh về cảm nhận, nhận xét, đúc kết, rất giỏi tìm ra những vấn đề, những quy luật của thơ.

  • TRẦN HOÀI ANH1. Có thể nói yêu cầu đổi mới của các thể loại văn học là một yêu cầu tất yếu trong đời sống văn học. Tính tất yếu nầy luôn đặt cho văn học một hành trình cách mạng. Cách mạng trong đời sống văn học và cách mạng trong bản thân từng thể loại văn học.

  • THÁI PHAN VÀNG ANHTừ sau 1986, sự đổi mới tư duy nghệ thuật, sự mở rộng phạm trù thẩm mĩ trong văn học khiến truyện ngắn không những đa dạng về đề tài, phong phú về nội dung mà còn có nhiều thể nghiệm, cách tân về thi pháp. Mỗi nhà văn đều lí giải cuộc sống từ một góc nhìn riêng, với những cách xử lí ngôn ngữ riêng. Hệ quả tất yếu là truyện ngắn Việt đương đại đã gặt hái được nhiều thành công trên nhiều phương diện, trong đó không thể không kể đến ngôn ngữ trần thuật.

  • TRẦN HOÀI ANH              1. Phân tâm học là lý thuyết có nguồn gốc từ y học, do S.Freud (1856-1939) một bác sĩ người Áo gốc Do Thái sáng lập. Đây là học thuyết không chỉ được áp dụng trong lĩnh vực y học mà còn được vận dụng trong nhiều lĩnh vực khác của đời sống xã hội trong đó có lĩnh vực nghệ thuật.

  • NGUYỄN DƯƠNG CÔN   Từ lâu, Bản thể con người đã trở thành vấn đề cơ bản và sâu sắc nhất của mối quan hệ giữa văn học với hiện thực. Trong mối quan hệ đó, hiện thực với tư cách là đối tượng khám phá và trình diễn của văn học không còn và không phải chỉ là hiện thực cuộc sống như là dành cho các khoa học nhân văn và các nghệ thuật khác nữa.

  • LÝ VIỆT DŨNGThiền tông, nhờ lịch sử lâu dài, với những Thiền ngữ tinh diệu kỳ đặc cùng truyền thuyết sinh động, lại chịu ảnh hưởng sâu sắc văn hóa Á đông xưa và thấm nhuần văn hóa Tây phương ngày nay nên đã cấu thành một thế giới Thiền thâm thúy, to rộng.

  • TRẦN HUYỀN SÂM1. Theo tôi, cho đến nay, chúng ta chưa có những đánh giá xác đáng về hiện tượng Xuân Thu nhã tập: Cả trên phương diện lý thuyết lẫn thực tiễn sáng tác. Có phải là nguyên do, nhóm này đã bị khoanh vào hai chữ “BÍ HIỂM”?

  • PHI HÙNGĐỗ Lai Thuý đã từng nói ở đâu đó rằng, anh đến với phê bình (bài in đầu tiên 1986) như một con trâu chậm (hẳn sinh năm Kỷ Sửu?).Vậy mà đến nay (2002), anh đã có 4 đầu sách: Con mắt thơ (Phê bình phong cách thơ mới, 1992, 1994, 1998, 2000 - đổi tên Mắt thơ), Hồ Xuân Hương - hoài niệm phồn thực (Nghiên cứu thơ Hồ Xuân Hương từ tín ngưỡng phồn thực, 1999), Từ cái nhìn văn hoá (Tập tiểu luận, 2000), Chân trời có người bay (Chân dung các nhà nghiên cứu, 2002), ngoài ra còn một số sách biên soạn, giới thiệu, biên dịch...

  • TRẦN ĐỨC ANH SƠNCuối tuần rảnh rỗi, tôi rủ mấy người bạn về nhà làm một độ nhậu cuối tuần. Rượu vào lời ra, mọi người say sưa bàn đủ mọi chuyện trên đời, đặc biệt là những vấn đề thời sự nóng bỏng như: sự sa sút của giáo dục; nạn “học giả bằng thật”; nạn tham nhũng...

  • HỒ VIẾT TƯSau buổi bình thơ của liên lớp cuối cấp III Trường Bổ túc công nông Bình Trị Thiên, dưới sự hướng dẫn của thầy Trần Văn Châu dạy văn, hồi đó (1980) thầy mượn được máy thu băng, có giọng ngâm của các nghệ sĩ là oai và khí thế lắm. Khi bình bài Giải đi sớm.

  • PHAN TRỌNG THƯỞNGLTS: Trong hai ngày 02 và 03 tháng 3 năm 2006, tại thủ đô Hà Nội đã diễn ra Hội nghị lý luận – phê bình văn học nghệ thuật toàn quốc. Trên 150 nhà nghiên cứu, lý luận, phê bình đã tham dự và trình bày các tham luận có giá trị; đề xuất nhiều vấn đề quan trọng, thiết thực của đời sống lý luận, phê bình văn học nghệ thuật hiện đại ở nước ta, trong đối sánh với những thành tựu của lý luận – phê bình văn học nghệ thuật thế giới.

  • NGUYỄN TRỌNG TẠO1. Con người không có thơ thì chỉ là một cái máy bằng xương thịt. Thế giới không có thơ thì chỉ là một cái nhà hoang. Octavio Paz cho rằng: “Nếu thiếu thơ thì đến cả nói năng cũng trở nên ú ớ”.