Văn học Việt Nam về đề tài chiến tranh - những giá trị và sáng tạo chưa kết thúc

11:04 26/11/2008
HỒ THẾ HÀLTS: Văn học Việt về đề tài chiến tranh là chủ đề của cuộc Toạ đàm văn học do Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế tổ chức ngày 20 tháng 12 năm 2005. Tuy tự giới hạn ở tính chất và phạm vi hẹp, nhưng Toạ đàm đã thu hút đông đảo giới văn nghệ sĩ, nhà giáo, trí thức ở Huế tham gia, đặc biệt là những nhà văn từng mặc áo lính ở chiến trường. Gần 20 tham luận gửi đến và hơn 10 ý kiến thảo luận, phát biểu trực tiếp ở Toạ đàm đã làm cho không khí học thuật và những vấn đề thực tiễn của sáng tạo văn học về đề tài chiến tranh trở nên cấp thiết và có ý nghĩa. Sông Hương trân trọng giới thiệu bài Tổng lược và 02 bài Tham luận đã trình bày ở cuộc Toạ đàm.

Hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc Việt Nam, chống đế quốc Pháp và  Mỹ cùng hai cuộc chiến tranh ở biên giới phía Bắc và Tây Nam của tổ quốc đã trở thành đề tài và cảm hứng bất tận trong ý thức nghệ thuật của các nhà văn, nhà thơ. Và thực tế, ta đã có một dòng chảy mãnh liệt của văn học Việt Nam về đề tài kháng chiến với  nhiều cách tiếp cận và lý giải chiến tranh và con người trong chiến tranh khác nhau với những thành tựu khác nhau. Vinh dự và niềm tự hào ấy dành cho những nhà văn mặc áo lính qua nhiều thế hệ mà tên tuổi của họ đã đi vào lịch sử văn học với tư cách là những nhà văn chiến sĩ đầy bản lĩnh và tài năng.

Như ta đã từng chứng kiến, chiến tranh ở bất kỳ dân tộc nào khi đi qua, nó nghiễm nhiên trở thành kho tư liệu và ký ức tâm hồn của dân tộc ấy. Vì vậy, nó có sức sống vĩnh cửu trong nhân dân bằng việc các nhà văn tái hiện nó trong tác phẩm với cái nhìn của người trong cuộc, bằng mệnh lệnh của trái tim và sự thôi thúc viết lên sự thật tối đa của ngòi bút. Sự thật chiến tranh và con người trong chiến tranh lại có dịp được đánh thức mọi tiềm lực bằng cái nhìn khách quan, nhân bản với độ lùi cần và đủ của nhà văn trong thời bình. Văn học về chiến tranh sau chiến tranh ở Việt Nam nhanh chóng chiếm lĩnh hiện thực cuộc sống và con người bằng một quan niệm thống nhất nhưng đa dạång, có bổ sung những mặt còn bỏ ngỏ mà một thời binh lửa, chúng chưa được thể hiện, vì cần phải như thế.

Toạ đàm Văn học Việt Nam về đề tài chiến tranh do Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế tổ chức là một động thái tích cực và cần thiết để khuấy động không khí học thuật, văn chương về một mảng đề tài đang còn và luôn luôn hấp dẫn trong ý thức và mong mỏi của bạn đọc - những người tiếp nhận có bản lĩnh và tài năng hôm nay.
Ban tổ chức nhận được 15 báo cáo của nhiều nhà giáo, nhà nghiên cứu và nhà văn trong và ngoài tỉnh, từ các trường Đại học ở Huế. Chúng tôi cũng vui mừng nhận được đăng ký phát biểu, thảo luận của nhiều anh chị em văn nghệ sĩ có mặt với tư cách là người trong cuộc, những người đã một thời mặc áo lính, là chứng nhân của 2 cuộc chiến, trở về từ những cánh rừng bom đạn, từ các chiến trường, các mặt trận.

Các báo cáo tập trung nghiên cứu và đề cập ở các chủ điểm như sau:
-  Bàn về thi pháp chung ở quan niệm nghệ thuật về nhân vật, về các cấp độ hình tượng của tác phẩm.
-  Bàn về sự hình thành đội ngũ những người cầm bút, về hành trình văn học chiến tranh, cả trong và ngoài nước.
-  Bàn về từng tác giả, tác phẩm; suy nghĩ về hiện thực chiến tranh và vị thế của nền văn học chiến tranh hôm nay.
Sau đây, chúng tôi xin tổng lược những nét cơ bản của các báo cáo như một biểu thị đồng tình, tuy chưa đầy đủ, về thành công của buổi Toạ đàm.

1. Chủ điểm bàn về những vấn đề chung của văn học chiến tranh, có báo cáo của Hồ Thế Hà với tiêu đề: “Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh sau chiến tranh” đã cắt nghĩa cơ sở xã hội và tư duy nghệ thuật của nhà văn ở việc chiếm lĩnh hiện thực đời sống trong chiến tranh và sau chiến tranh, từ đó, nắm bắt và thể hiện thành quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác của mình. Bài viết đi đến nhận định tổng quát “Xuất phát từ cái nhìn biện chứng, nhân bản và đạo đức của người trong cuộc với nhu cầu nhận thức tối đa, cộng với không khí dân chủ hoá trong đời sống xã hội, nhà văn có cảm hứng nói đúng sự thật, nói thẳng vấn đề. Đó là trách nhiệm đối với con người hôm nay và hôm qua, trong đo,á có những người đã vĩnh viễn hoá thân vào lòng đất mẹ... Những gì về cuộc chiến tranh đã qua, đi vào tác phẩm của các nhà văn sau chiến tranh đã chứng tỏ sự ý thức cao độ và trách nhiệm công dân tích cực của từng tác giả trong việc dựng lại đời sống tinh thần của dân tộc, dựng lại chân dung nhân dân, chân dung người lính một cách trọn vẹn và nghệ thuật. Và vì vậy, cũng xúc động nhất, nhân bản nhất trong việc nối liền hiện tại với quá khứ   tương lai cho con người hôm nay và mai sau”.

Nhà văn Nguyễn Khắc Phê đã nhìn nhận, chiêm nghiệm từ các tác phẩm về đề tài chiến tranh và đặt ra nhu cầu cấp thiết trong bài viết “Đã đến lúc cần có một cách nhìn toàn diện, tôn trọng sự thật”. Bằng việc điểm qua những mặt được và chưa được của văn học về chiến tranh từ trước đến nay, tác giả đã nêu ra một hiện thực như sau: “Mấy chục năm qua, văn học nghệ thuật đã tạo ra được nhiều điển hình về người anh hùng nhưng vẫn còn mắc nợ với nhân dân, vì nếu nhìn thẳng vào sự thật, thì hình tượng người anh hùng chưa có sức lay động mãnh liệt, chưa có sức sống lâu bền trong tâm hồn công chúng”. Từ đó, tác giả bàn đến quan niệm và cách nhìn về chiến tranh, về người anh hùng, về nhu cầu nhận thức tối đa hiện thực thời chiến cả bên ta và bên đối phương một cách toàn vẹn hơn. Có thế, văn học “mới giúp mở rộng chân trời sáng tạo để có những tác phẩm sâu sắc hơn, nhân bản hơn, và như thế, sẽ có giá trị lâu bền hơn”.

Trong cảm hứng nói lên sự thật và khát vọng tái hiện sâu sắc và trách nhiệm về cuộc chiến tranh vừa qua, nhà văn Nguyễn Quang Hà đã khẳng định trong bài viết có tiêu đề “Chúng ta không thể không viết về đề tài chiến tranh”, đặc biệt là viết về vùng đất lửa huyền thoại Trị Thiên, bởi vì đây là vùng trắng anh hùng, là “vùng chiến lược của đầu cầu giới tuyến quân sự tạm thời”. Những ký ức chiến trường ấy đã và sẽ đi vào những trang sách về chiến tranh của anh và đồng nghiệp một cách nhức buốt, vừa như những ký ức sống vừa như huyền thoại -sử- thi- anh hùng ca.

Tại cuộc Toạ đàm này, tác giả Nguyễn Hồng Dũng có bài viết “Chiến tranh Việt trong văn học Mỹ- Từ sự thật đến tác phẩm”. Đây là bài viết tổng quan tiếp cận nền văn học về đề tài chiến tranh Việt của các nhà văn Mỹ- là cựu binh hoặc từng tham gia trực tiếp với nhiều cương vị khác nhau trong cuộc chiến ở Việt . Bài viết đã cắt nghĩa cái gọi là “Hội chứng Việt Nam” mà những cựu binh Mỹ đã ám ảnh và dẫn đến hơn 50% trong số họ bị chấn thương thần kinh vì những tội ác mà họ gây ra đối với nhân dân Việt Nam. Những hội chứng kinh hoàng ấy được họ ghi lại trên giấy trắng, mực đen và những câu trả lời tự thú, sám hối thông thường của họ là: “Cuộc chiến tranh này đã chà đạp lương tri, lẽ phải, nó đã xô đẩy những con người bình thường vào những hoàn cảnh phi lý, và sự điên rồ đã trở thành phản ứng bình thường đối với nó”. Ngoài thơ, ký, truyện ngắn nhiều không kể xiết, tác giả cho biết, chỉ riêng tiểu thuyết Mỹ về chiến tranh Việt lên đến con số trên 500 quyển. Đó là con số có ý nghĩa thông báo giúp ta thấy chính những người lính Mỹ- nhà văn cựu chiến binh luôn “sống trong hối hận và cay đắng, lương tâm bị cắn rứt và mọi giá trị đạo đức đều bị sụp đổ”; ở họ “đều có số phận bi đát, chết mòn vì sự suy sụp thần kinh ngay giữa những người thân”. Tất cả đều tự nhận “Cuộc chiến tranh mà Mỹ tiến hành ở Việt là một cuộc chiến tranh dã man và vô nghĩa”. Văn học về chiến tranh Việt ở Mỹ chính là bài học để “Người Mỹ tìm ra chính bản thân mình” và đồng thời cũng là lời cảnh tỉnh cho mọi cuộc chiến tranh phi nghĩa khác cả hôm qua và hôm nay.

2. Từ góc nhìn và cách lý giải sự hình thành đội ngũ sáng tác, nhà giáo Phạm Phú Phong có bài viết “Kháng chiến qua hồi ức của các nhà văn kháng chiến Bộ”. Bài viết giúp ta thấy được con đường hình thành và đến với văn học của đông đảo công chúng và lực lượng nhà văn cách mạng để trở thành những tên tuổi và tác phẩm lớn, có giá trị càng khẳng định và chứng minh một hiện thực có tính quy luật của cuộc sống lớn cách mạng: “Mỗi người có một điểm xuất phát khác nhau, một cách thức đến với kháng chiến riêng biệt, nhưng ở họ đều có chung một con đường là đến với kháng chiến với tất cả nhiệt huyết của tuổi trẻ, với khí thế hào hùng để giải quyết vấn đề số phận từng con người với vận mệnh của dân tộc và sự nghiệp văn chương: Từ thuở mang gươm đi mở cõi - Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long” (Huỳnh Văn Nghệ).

 Nguyễn Đắc Xuân, bằng vốn ký ức chiến trường của người trong cuộc đã kể lại những câu chuyện đầy xúc động về sự thật bi hùng của nhân dân và người lính để làm nên chiến công mùa xuân 1975. Sự thật ấy phải được làm sống lại trong tác phẩm với tinh thần dũng cảm nói lên sự thật như một sự biết ơn, như lòng ngưỡng mộ và tự hào của nhà văn. Điều ấy, chỉ dành cho những nhà văn dũng cảm và đầy trách nhiệm công dân. Và cũng như cách thế để chống lại sự giả trá, đớn hèn của những người vô đạo đức với quá khứ, với lịch sử trước đây và hiện nay để trở thành kẻ “ăn mày dĩ vãng” .
Nhà văn Hoàng Vũ Thuật góp tiếng nói ở Toạ đàm về chân dung một nhà thơ quen thuộc cuả Huế chúng ta - Nhà thơ Thanh Hải. Anh đã đi ngược hành trình thơ Thanh Hải trong từng thời gian và không gian với từng bài thơ đỉnh, cắm từng cột mốc trong từng chặng đường thơ để phân tích, lý giải, chỉ ra cái hay, cái đẹp và sự chuyển biến về tư tưởng, về hình thức biểu hiện của Thanh Hải, và cuối cùng chỉ ra vị trí của Thanh Hải trong dòng thơ chung của thế hệ những nhà thơ cùng thời: “Thơ Thanh Hải xúc động, như ngọn lửa bùng lên chói sáng, một lời khiêm tốn tự khép lại đời thơ của mình với những trang thơ viết bằng mồ hôi và máu ba mươi năm qua: Một mùa xuân nho nhỏ - Lặng lẽ dâng cho đời - Dù là tuổi hai mươi - Dù là khi tóc bạc”.

Đặc biệt, cuộc toạ đàm đã nhận được truyện ngắn của nhà văn Nhất Lâm viết về chiến tranh có tên Con tắc kè. Tác phẩm nói về một người lính Mỹ ở chiến trường Alưới 1972. Ông về Mỹ và trở lại Việt trong tâm trạng của người có lỗi, nhưng lại được đối xử như một người bạn từ phía Việt . Từ đó, đã làm cho ông càng thấy chủ nghĩa nhân bản tuyệt vời của nhân dân Việt trong và sau chiến tranh. Đó chính là sức mạnh chiến đấu và làm nên chiến thắng kỳ diệu.
Lê Trọng Sâm cũng tham gia toạ đàm với bài viết “Vài cảm nghĩ về văn học đề tài chiến tranh hôm nay” qua đội ngũ những người cầm bút trong 2 cuộc kháng chiến. Sự liên hệ quá khứ của dân tộc để thấy phong cách, tư cách công dân và tư cách nghệ sĩ của nhà văn đã làm cho trang viết của họ trở thành ký ức tâm hồn và bản lĩnh anh hùng của dân tộc Việt .

 Vĩnh Nguyên với tham luận “Văn học Cách mạng không ngừng giải quyết mâu thuẫn” đã đề cập đến những đối lập và phân hoá từ bản thân những người lính trở về sau chiến tranh. Họ tự chọn cho mình một hướng đi không mấy tốt đẹp, mà lẽ ra, với vai trò và tư cách người lính một thời, họ phải xa lánh. Vì vậy, họ phải lặng lẽ đóng vai trò người khác trong “ngày hội hoá trang” giả tạo của chính mình.

3. Bàn về từng tác giả, tác phẩm, có ba bài viết nổi bật của TS. Trần Huyền Sâm, TS. Nguyễn Thành và Thạc sĩ Trần Thanh Hà. Các tác giả chọn 2 tác phẩm tiêu biểu của Bảo Ninh và Chu Lai là Nỗi buồn chiến tranh, Ăn mày dĩ vãng để khảo sát và chỉ ra những đặc điểm thi pháp của hai nhà văn này. Trần Huyền Sâm với bài: “Bảo Ninh và nỗi ám ảnh chiến tranh” đề cập đến nội dung nổi trội nhất của tác giả này qua tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh. Đó là tính chân thật trong và sau chiến tranh mà người lính phải nếm trải và nhận thức trong nhiều trạng thái, hoàn cảnh ở thời bình. Từ đó, bài viết đề cập đến kỹ thuật tiểu thuyết của Bảo Ninh. Đó là biện pháp dòng ý thức, kỹ thuật đồng hiện không- thời gian, lắp ghép kiểu điện ảnh, những tín hiệu thẩm mỹ  mà người đọc phải nắm vững để giải mã và tiếp cận thế giới nghệ thuật của Bảo Ninh ở các lớp hình tượng và cấu trúc chìm của tác phẩm.

Cũng về Nỗi buồn chiến tranh, Trần Thanh Hà tìm hiểu tác phẩm Bảo Ninh ở góc nhìn Hiện thựcVĩnh cửu. Đó là hiện thực chiến trường với nỗi đau buồn của người lính trong và sau chiến tranh, để từ đó, chứng minh cho khát vọng vĩnh cửu của những thế hệ con người Việt Nam hôm nay và tương lai từ bài học xương máu của chiến tranh có tên là nỗi buồn.
Nguyễn Thành, từ góc nhìn so sánh để chỉ ra sự đổi mới trong nghệ thuật của Bảo Ninh và Chu Lai qua hai tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh Ăn mày dĩ vãng. Tác giả nghiên cứu sự tiếp cận chiến tranh từ góc độ phi sử thi của 2 tiểu thuyết này để thấy sự chuyển biến, thay đổi điểm nhìn nghệ thuật của Chu Lai và Bảo Ninh. Nỗi buồn chiến tranh và thân phận tình yêu trong hai tiểu thuyết được lồng ghép trong các kiểu thời gian nghệ thuật khác nhau để nói lên hiện thực cuộc sống của từng nhân vật người lính trong và sau chiến tranh là cách tiếp cận độc đáo của các nhà văn. Đó là khuynh hướng đảo tuyến, xoá bỏ dần lối kể chuyện theo trình tự thời gian của văn xuôi trung đại, do vậy, tính chất, tâm trạng và tình cảm của nhân vật hiện lên đa dạng, phức cảm và nhức nhối, gấp gáp hơn nhiều, góp phần thể hiện chủ đề và các cung bậc của tâm lý. Tác giả cũng chỉ ra chất thơ, lời văn đa thanh và vai trò của người trần thuật trong hai cuốn tiểu thuyết nói trên.

4. Tham gia toạ đàm, còn có một phần nội dung rất hấp dẫn và sinh động, đó là các ý kiến phát biểu, trao đổi tại chỗ xuất phát từ kinh nghiệm sáng tác và kinh nghiệm nghề nghiệp, kinh nghiệm đời của các anh chị từng là nhà văn ở chiến trường như Tô Nhuận Vỹ, Ngô Minh, Nguyễn Đắc Xuân... Các ý kiến đều tập trung nêu và đề xuất cách tiếp cận chiến tranh và thể hiện con người trong chiến tranh với sự tiếp biến nghệ thuật hiện đại để làm sao những tác phẩm viết về chiến tranh sắp đến sẽ hấp dẫn hơn, chân thật hơn mà cũng nghệ thuật hơn. Và vì vậy, cũng nhân bản hơn đối với từng cá nhân con người hôm qua, hôm nay và mai sau. Đó là mệnh lệnh của trái tim, là sứ mệnh cao cả của nghệ thuật mà lịch sử trao cho các nhà văn chúng ta. 
Huế, ngày 20-12-2005  
H.T.H

(nguồn: TCSH số 205 - 03 - 2006)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • INRASARA 

    1.
    Ch. Fredriksson trả lời cuộc phỏng vấn, cho rằng: “Ý tưởng dường như có tính tiên quyết, xem người nghệ sĩ làm gì và làm như thế nào với tác phẩm của mình, để làm sao cho tác phẩm ấy có hiệu quả nhất khi đến với công chúng.

  • NGUYỄN BÀN 

    Hồi còn học trung học, khi đọc Truyện Kiều, chúng tôi đinh ninh rằng Thúy Kiều gặp Kim Trọng lúc tuổi “xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê”, nghĩa là khoảng 15, 16 tuổi. Nay đọc cuốn Tìm hiểu Truyện Kiều của tác giả Lê Quế (Nxb. Nghệ An, 2004) thì thấy Thúy Kiều gặp Kim Trọng lúc 22 tuổi.

  • PHẠM PHÚ PHONG 

    Nguyễn Hữu Sơn là nhà nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam, là phó giáo sư, Tiến sĩ, Phó Viện trưởng Viện Văn học và Phó Tổng Biên tập Tạp chí Nghiên cứu Văn học.

  • LUÂN NGUYỄN

    Trần Đức Thảo, với người Việt, hiển nhiên là một trí tuệ hiếm có. Trong tín niệm của tôi, ông còn là một trí thức chân chính. Một trí thức dân tộc.

  • MAI VĂN HOAN

    Trong những tháng ngày ở Châu Thai chờ đợi Từ Hải, sau khi diễn tả nỗi nhớ của Kiều đối với quê nhà, cha mẹ, Nguyễn Du viết: Tiếc thay chút nghĩa cũ càng/ Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng.

  • NGUYỄN HỒNG TRÂN

    Vua Minh Mạng (tên hoàng tử là Nguyễn Phúc Đảm) lên làm vua năm Canh Thìn (1820). Ông là một vị vua có tri thức uyên thâm, biết nhìn xa thấy rộng.

  • VĂN NHÂN

    Trong bài thơ viết về dòng sông Hương, Nguyễn Trọng Tạo có bốn câu khá hay: Con sông đám cưới Huyền Trân/ Bỏ quên giải lụa phù vân trên nguồn/ Hèn chi thơm thảo nỗi buồn/ Niềm riêng nhuộm tím hoàng hôn đến giờ (Con sông huyền thoại).

  • THÁI KIM LAN  
    (Đôi điều về Con Đường Mẹ Đi)

    Trước tiên, khi thử nhìn lại con đường của Mẹ - Đạo Mẫu, tôi lại muốn đánh dấu chéo gạch bỏ những khái niệm “Đạo Mẫu”, Tiên Thánh Liễu Hạnh, Thánh Cô và một loạt những nhân vật được tôn sùng cho sức mạnh, thế lực hàng đầu của nữ giới Việt, thường được hóa thánh, sùng thượng một thời.

  • THÁI DOÃN HIỂU

    Thân sinh của Cao Bá Quát là ông đồ Cao Hữu Chiếu - một danh nho tuy không đỗ đạt gì. Ông hướng con cái vào đường khoa cử với rất nhiều kỳ vọng.

  • ANNIE FINCH  

    Chúng tôi khát khao cái đẹp thi ca, và chúng tôi không e dè né tránh những nguồn mạch nuôi dưỡng chúng tôi. Chúng tôi sẵn sàng với chủ nghĩa Toàn thể hình thức (omniformalism), cho một thi pháp phong phú và mở rộng, giải phóng khỏi những doanh trại của những cuộc chiến thi ca đã chết rấp.

  • Chuyên luận THƠ NHƯ LÀ MỸ HỌC CỦA CÁI KHÁC (Nxb. Hội Nhà văn - Song Thuy bookstore, 2012, 458tr) gồm ba phần: Phần một: THƠ NHƯ LÀ MỸ HỌC CỦA CÁI KHÁC, Phần hai: CHÂN TRẦN ĐẾN CÁI KHÁC, Phần ba: NHỮNG NẺO ĐƯỜNG CỦA CÁI KHÁC.

  • NGUYỄN QUANG HUY

    (Khảo sát qua trường hợp "Người sông mê" qua cái nhìn của lí thuyết Cổ mẫu)

  • NGUYỄN HỮU TẤN

    Trong buổi lễ mừng thọ thất tuần, Sigmun Freud đã từng phát biểu: “Trước tôi, các thi sĩ và triết gia đã sớm phát hiện ra vô thức, còn tôi chẳng qua cũng chỉ khám phá ra những phương pháp khoa học để nghiên cứu vô thức mà thôi”.

  • Tóm lược bài nói chuyện trao đổi một số vấn đề về tình hình văn học Xô viết những năm 80, đặc biệt là sau Đại hội 27 của GSTS V. Xmirnốp trong chuyến thăm Huế với Chi hội Nhà văn Bình Trị Thiên của đoàn cán bộ Học viện văn học Gorki (Liên Xô cũ) do nhà thơ Valentin Xôrôkin, phó Giám đốc Học viện và GSTS Vladimia Xmirnốp đã sang Việt Nam giảng dạy tại trường Viết văn Nguyễn Du năm 1987.

  • Tỳ kheo THÍCH CHƠN THIỆN

    Theo Spaulding - The “New Rationlism”, New York, Henry Holt and Conpany, 1918, pp. 106 - 107 -, Aristotle nêu lên ba nguyên lý cơ bản của tư duy:

  • TRẦN NGUYÊN HÀO

    Năm 1987, tổ chức Giáo dục - Khoa học - Văn hóa của Liên hiệp quốc, UNESCO trong cuộc họp Đại hội đồng lần thứ 24 (tại Paris từ 20/10 đến 20/11) đã ra Nghị quyết phong tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh danh hiệu kép: “Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn”.

  • ĐỖ HẢI NINH

    Quan sát hành trình Thơ mới, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, vào đầu thập kỷ 40 của thế kỷ XX, Thơ mới bắt đầu có dấu hiệu chững lại, thậm chí khủng hoảng về cảm hứng và thi pháp.

  • JU. LOTMAN

    Từ “biểu tượng” (symbol, còn được dịch là tượng trưng, biểu trưng, phù hiệu, kí hiệu) là một trong những từ nhiều nghĩa nhất trong hệ thống các khoa học về kí hiệu(1).

  • PHẠM TẤN HẦU

    Trong bản tham luận về mảng thơ trên trang viết đầu tay của Tạp chí Sông Hương do anh Hoàng Dũng trình bày tôi thấy có chủ ý nói đến tính khuynh hướng. Tuy nhiên, vấn đề này chưa được đặt ra một cách chặt chẽ, sâu sắc. Theo tôi, nếu hướng cuộc thảo luận đến một vấn đề như vậy chắc sẽ đem đến cho những người viết trẻ nhiều điều bổ ích hơn.

  • ĐỖ VĂN HIỂU

    Tóm tắt
    Trước tình trạng môi trường toàn cầu đang ngày một xấu đi, giữa thập niên 90 của thế kỷ 20 Phê bình sinh thái đã ra đời với sứ mệnh cao cả là phân tích chỉ ra căn nguyên văn hóa tư tưởng dẫn đến nguy cơ sinh thái, nghiên cứu quan hệ giữa con người và môi trường tự nhiên.