Văn học Nga - Xô viết với thế hệ chúng tôi

15:31 26/09/2008
TRẦN HOÀNGCũng như nhiều bạn bè cùng thế hệ, vào những năm cuối thập niên năm mươi của thế kỷ trước, chúng tôi đã được tiếp xúc với Văn học Nga - Xô Viết thông qua nhiều tác phẩm được dịch từ tiếng Nga ra tiếng Việt. Lứa tuổi mười bốn, mười lăm học ở trường làng, chúng tôi luôn được các thầy, cô giáo dạy cấp I, cấp II động viên, chỉ bảo cho cách chọn sách, đọc sách…

Vì vậy đọc sách đã trở thành niềm hứng thú và say mê của đông đảo học sinh các trường từ tiểu học đến trung học… Văn học Nga - Xô Viết chính là một trong những nguồn sách được chúng tôi tìm đọc nhiều nhất.
Hồi học cấp I, cấp II, 3 cuốn sách viết cho thiếu nhi sau đây là những cuốn sách mà học sinh chúng tôi không mấy người là không biết đến. Đó là các cuốn: “Ti - Mua và đồng đội”, “Vi- chi- a  Ma- lê- ép ở nhà và ở trường”, “Chiếc đồng hồ báo thức hai chuông”. Ba cuốn sách này nói về cuộc sống hàng ngày của các em thiếu nhi Liên Xô (cũ) trong thời chiến và trong cả thời bình. Dưới ngòi bút của nhà văn Gai - đa, hình ảnh chú bé Ti - Mua và các bạn của chú hiện lên thực sinh động. Các em đã tích cực tham gia vào cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của dân tộc bằng những việc làm rất thiết thực của mình. Thời đất nước có chiến tranh là vậy.

Không chỉ biểu dương nhiều tấm gương cao đẹp của thiếu niên, nhi đồng trong thời đất nước có chiến tranh, các nhà văn Xô Viết còn rất tâm huyết khi viết về cuộc sống của các em khi ở trường cũng như khi sinh hoạt ở gia đình. Các nhà văn đã không ngần ngại chỉ ra cái tốt, cái đẹp cũng như các tật xấu, thói hư mà các em còn mắc phải (như lười nhác trong học hành, hoặc thiếu thực thà, dũng cảm…), để góp phần giáo dục cho các em nên người.
Cũng vào thời gian học ở trường làng, bước vào tuổi thanh niên, cuốn sách tạo nên sức cuốn hút kỳ lạ đối với thế hệ chúng tôi chính là cuốn “Thép đã tôi thế đấy” (2 tập) của nhà văn Ốtxtơrốpski qua bản dịch của nhà văn Thép Mới. Chúng tôi chuyền tay nhau đọc đến nhàu nát 2 tập sách này. Rồi khi đi dạy ở miền núi, khi đi bộ đội, trong ba lô của nhiều anh em chúng tôi bao giờ cũng là cuốn “Thép đã tôi…” Tôi và bạn bè cùng trang lứa có thể kể vanh vách cuộc đời của nhân vật Pa ven không bỏ sót một chi tiết nào, hoặc đọc thuộc lòng nhiều đoạn văn hay của tác phẩm.

Chúng tôi yêu kính nhà văn N.Ốtxtơrốpski bởi nghị lực sống của ông; chúng tôi cảm phục người thanh niên Xô Viết Pa ven bởi lý tưởng cao đẹp và sự phấn đấu, sự cống hiến cho quê hương đất nước của anh. Pa ven đã được thử lửa trong  những ngày đầu của Cách mạng tháng 10 Nga, trong nội chiến đánh quân bạch vệ, đã được tôi rèn qua cái rét, cái đói trên công trường đường sát Bai - a- rơ- ca… Sự suy nghĩ, những việc làm, những phẩm chất tốt đẹp được trải nghiệm trong thực tiễn khắc nghiệt, trong đấu tranh cách mạng của Pa ven thực sự làm người đọc xúc động. Từ một cậu bé nghèo sống trong một thành phố nhỏ, Pa ven đã trở thành một đoàn viên Comxomon vững vàng, một chiến sỹ Hồng quân dũng cảm, một chiến sỹ Cách mạng trung kiên, một nhà văn giàu nghị lực, tâm huyết và tài năng. Ngay cả khi bị mù lòa và cận kề bên cái chết, anh vẫn tìm ra được cho mình một lẽ sống, một con đường sống cao đẹp. Tôi nhớ mãi câu nói mà Pa ven hằng tâm niệm:
“… Cái quý nhất của con người là đời sống. Đời người chỉ sống có một lần. Phải sống làm sao cho khỏi phải xót xa, ân hận…”.

Có lẽ nhờ có quan niệm sống đẹp đẽ ấy mà Pa ven đã vượt qua được bao thử thách trong cuộc đời - đặc biệt là vượt qua được chính mình để trở thành một con người hữu ích cho xã hội, cho đất nước… Nói như vậy không có nghĩa Pa ven là con người chỉ biết có chiến đấu, có xả thân. Anh thực sự là một người con với bao điều trăn trở, buồn vui… Anh sống rất chí tình với bè bạn, rất thủy chung với người mà anh yêu mến…
Có lẽ khi đọc đến những điều chúng tôi vừa viết chắc sẽ có người cho rằng chúng tôi đã “lên gân”, đã nói quá đi chăng? Hoặc vào thời đó, những năm 60 của thế kỷ 20 thanh niên có phần bị “xơ cứng”, bị “nhồi nhét” bao nhiêu thứ mà họ không hiểu, không thích? Nói như vậy là không thỏa đáng. Quả thực “Thép đã tôi thế đấy” đã chinh phục trái tim và trí tuệ của cả một thế hệ. Nhà văn N.Ốtxtơrốpski đã viết rất thực, rất sinh động về cuộc đời, về số phận của một con người, một thanh niên công nhân, một người thuộc tầng lớp “con nhà nghèo”. Cuộc sống của Pa ven hoàn toàn không có gì xa lạ đối với thanh niên Việt trong chiến tranh cũng như trong xây dựng hòa bình, hôm qua cũng như hôm nay.

Không chỉ được làm quen với tác phẩm của nhà văn Xô Viết Ốtxtơrốpski, thế hệ chúng tôi còn được biết đến nhiều nhà văn Nga và Xô Viết khác, với nhiều tác phẩm nổi tiếng của họ. Ví như L. Tolstoi, Puskin, Gô Gôn, M.Gorki, Đotxtôiepski, Pautopski, Sôlôkhôp, Maiacopski, Aimatôp, Gamzatôp v.v Các tác phẩm nổi tiếng như “Chiến tranh và hòa bình”, “Ainakarêninna”, “Một anh hùng thời đại”, “Con đầm pích”, “Đêm Ai Cập”, “Kiếm sống”, “Sông Đông êm đềm”, “Số phận một con người”, “Con đường đau khổ”, “Bông hồng vàng”, “Cuộc chiến đấu trên đường Vô - cô - lam - scơ”, “Đaghextan của tôi”, “Trường ca Lênin v.v đã cho chúng tôi rất nhiều hiểu biết về đất nước và con người ở tận trời Âu xa xôi. Tình cảm mến yêu, khâm phục đất nước Xô Viết và Cách mạng tháng 10 vĩ đại, một phần được nhen nhúm, được bồi đắp từ việc chúng tôi được đọc các tác phẩm văn học này.

Chúng tôi chưa một lần được đặt chân đến đất nước Nga, và cũng chưa được đọc nhiều các tác phẩm Văn học Nga, nhất là các tác phẩm văn học đương đại. Nhưng chỉ qua một số tác phẩm Văn học mà chúng tôi được đọc hồi những năm học ở bậc phổ thông và đại học, chúng tôi cũng đã hiểu được ít nhiều những thành tựu to lớn, những cống hiến rất đáng ghi nhận của Văn học Nga - Xô Viết cho nền Văn học thế giới. Đó là điều không ai có thể phủ nhận. Mãi mãi trong lòng bạn đọc chúng tôi là những ấn tượng vô cùng tốt đẹp, vô cùng sâu sắc về một nền Văn học Nga - Xô Viết vừa giàu tính nhân văn - nhân bản, vừa đậm đà bản sắc dân tộc và in rõ dấu ấn của thời đại.
T.H

(nguồn: TCSH số 225 - 11 - 2007)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • NGUYỄN QUANG HÀSông Bồ là con sông không dài, nhưng đẹp ở về phía Bắc Huế. Phía tả ngạn, hữu ngạn vùng thượng lưu sông là hai huyện Phong Điền và Hương Trà, vùng hạ lưu sông chảy qua Quảng Điền rồi đổ vào phá Tam Giang. Làng xóm hai bên bờ sông khá trù mật.

  • MINH CHUYÊN (Tiếp Sông Hương số 12-2008)

  • MINH CHUYÊN (Tiếp theo và hết)

  • LÊ HUỲNH LÂMCó thể gọi xứ Huế là thành phố của những tiếng chuông. Sự khởi đầu của một ngày, một ngày mai hun hút trong tương lai cũng như một ngày tận trong nghìn trùng quá khứ. Một ngày mà âm thanh từ đại hồng chung phát ra; vang, ngân, vọng và im bặt. Người ta gọi âm thanh đó là tiếng chuông. Vậy thì, im bặt cũng là một phần của tiếng chuông.

  • MINH CHUYÊNCảnh làng mới Trà Tân cuối chiều mùa đông. Con suối chảy qua nước trong veo, róc rách. Phía tây con suối cách làng chừng nửa tầm mắt là rừng Sắc Rông, đủ các loại cây tầng tầng, lớp lớp. Cánh rừng đang chìm trong sương chiều. Rừng hoang vắng, huyền bí. Người ta kể sau ngày chiến tranh chấm dứt, rừng Sắc Rông càng trở nên bí ẩn. Người chỉ có vào mà không có trở ra. Vậy mà mấy tháng gần đây lại thường xuyên xuất hiện một người đàn bà ở đó.

  • PHẠM NGUYÊN TƯỜNGNgày xưa nhà mẹ nghèo hung, cơm không có ăn, khố không có mặc, suốt ngày lang thang trong rừng đào củ mài củ sắn kiếm cái cho vào bụng. Có ngày không tìm được chi, bụng đói lắc lư.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊTrước ngày Huế khởi nghĩa 23/8/1945, có một sự kiện khiến cả thành phố náo nức vui mừng: đó là việc lá cờ đỏ sao vàng được kéo lên đỉnh cột cờ Huế ngày 21/8 thay cho cờ quẻ ly. Người chiến sĩ được đồng chí Trần Hữu Dực trực tiếp giao nhiệm vụ quan trọng ấy là chàng thanh niên 25 tuổi Đặng Văn Việt (ĐVV).

  • NGUYỄN QUANG HÀTạp chí văn nghệ của 6 tỉnh Bắc miền Trung gồm: Xứ Thanh, Sông Lam, Hồng Lĩnh, Nhật Lệ, Cửa Việt, Sông Hương có một cam kết thú vị, luôn luôn trong nỗi chờ mong là mỗi năm anh chị em trong tạp chí thay nhau đăng cai luân phiên, mỗi năm gặp nhau một lần, ở thời điểm thích hợp nhất do tạp chí đăng cai tự chọn.

  • NGUYỄN THỊ ANH ĐÀOTháng bảy, nồng nàn hương lúa mới trên những ruộng lúc mới vừa mùa gặt tháng 5, mùi rơm rạ kéo tôi ra khỏi thế giới của những đường phố xênh xang, đầy bụi và chật người. Tôi leo lên một tầng gác và nhìn về hướng quê tôi, hình dung đủ thứ nhưng nhớ vẫn là khói lam chiều với dáng mẹ tôi gầy cong như đòn gánh.

  • VĨNH NGUYÊNPhải nói tôi có ý định dông một chuyến xe máy ra Bắc đã lâu mà chưa có dịp. Nay có điều kiện để đi song tôi vẫn băn khoăn, không hiểu chuyến đi này mình sẽ gặp những ai đây? Hay là phải thở dài dọc đường xa với những cảnh đời khốn khó? Thôi thì tôi chỉ biết đi và đi.

  • VÕ MẠNH LẬP                Ghi chépNhân vật Mười Hương nhiều người đã biết đến qua sách báo và đặc biệt là vùng đất Nam Bộ - Sài Gòn.

  • DƯƠNG THÀNH VŨTrong đêm mỏng yên tĩnh dịu dàng, một mình một cõi với ly rượu trắng, cùng mùi hương của hoa rộn ràng, huy hoàng phát tiết; tôi miên man nhớ tới cõi người đến- cõi người đi nơi xa chốn gần, thời gian tuyến tính lẫn thời gian phi tuyến tính.

  • NHẬT HOA KHANH Mười năm những mấy ngàn ngày... (Tố Hữu: Mười năm )

  • TRUNG SƠNĐoàn văn nghệ sĩ Thừa Thiên - Huế (TTH) lên đường “đi thực tế” một số tỉnh phía Bắc vào lúc lễ giỗ Tổ ở đền Hùng (10 tháng 3 âm lịch) vừa kết thúc. Tiền có hạn, thời gian có hạn chưa biết sẽ tới được những đâu, nhưng ai cũng “nhất trí” là phải lên Phú Thọ thăm Đền Hùng, dù lễ hội đã qua.

  • ALẾCHXĂNG GRINTại Luân Đôn, mùa xuân năm 1921, có hai ngài trung niên ăn mặc sang trọng dừng chân ở góc đường, nơi phố Pakađilli giao nhau với một ngõ nhỏ. Họ vừa ở một tiệm ăn đắt tiền đi ra. Ở đó, họ đã ăn tối, uống rượu vang và cùng đám nghệ sỹ của nhà hát Đriuđilenxky đùa cợt.

  • PHONG LÊQuê tôi là một xã nghèo ven chân núi Mồng Gà, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Từ Hà Nội, việc về thăm quê, đối với tôi không mấy khó khăn. Hồi là sinh viên thì mỗi năm hai lần, lần nghỉ hè lần nghỉ Tết. Khi đã là cán bộ, có gia đình thì mỗi năm một lần, cả nhà dắt díu về, với hai hành trình là tàu hoả từ Hà Nội vào Vinh, rồi là xe đạp từ Vinh về nhà.

  • NGUYỄN TRỌNG HUẤNBạn tôi là nhà thơ. Thơ ông hay, nổi tiếng, nhiều người ái mộ. Thời buổi “nhuận bút không đùa với khách thơ”, kinh tế khó khăn, gia đình ông vẻ như cũng “rất ư  hoàn cảnh”.

  • ĐẶNG NHẬT MINHGia đình tôi ở Huế có một cái lệ: cứ vào dịp trước Tết tất cả nhà cùng nhau lên núi Ngự Bình quét dọn, làm sạch cỏ trên những nấm mộ của nhũng người thân đã khuất. Sau đó trở về nhà thờ của dòng họ, cùng nhau ăn một bữa cơm chay. Cái lệ đó người Huế gọi là Chạp. Ngày Chạp hàng năm không cố định, có thể xê dịch nhưng nhất thiết phải trước Tết và con cháu trong gia đình dù đi đâu ở đâu cũng phải về để Chạp mộ.

  • DƯƠNG PHƯỚC THUMùa xuân năm Đinh Mùi, 1307, tức là chỉ sau có mấy tháng kể từ ngày Công chúa Huyền Trân xuất giá qua xứ Chàm làm dâu, thì những cư dân Đại Việt đầu tiên gồm cả quan binh gia quyến của họ, đã rời khỏi vùng châu thổ sông Hồng, sông Mã theo chân Hành khiển Đoàn Nhữ Hài, vượt qua ngàn dặm rừng rậm, núi cao, biển rộng đến đây cắm cây nêu trấn yểm, xác lập chủ quyền quốc gia.

  • NGUYỄN XUÂN HOÀNGNhững ngọn gió heo may cuối cùng đã tắt. Nắng buổi sáng hanh vàng ngoài bến sông. Hàng cây trên phố Huế đã chừng như thay lá, lung linh một màu lá tơ non, mỏng như hơi thở của bầy con gái trường Hai Bà Trưng đang guồng xe đạp đến trường. Mùa xuân đã về bên kia sông. Đã về những cánh én nâu đen có đôi mắt lay láy màu than đá. Đã về những đóa hoa hoàng mai, vàng rưng rức như một lời chào ngày tao ngộ...