Văn học đổi mới - Từ những góc độ diễn giải

08:47 20/07/2021

PHAN TRẦN THANH TÚ    

Công cuộc Đổi mới đã diễn ra hơn 30 năm trong lòng xã hội Việt Nam với dấu mốc trọng đại là Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng.

Tinh thần đổi mới từ năm 1986 đã mang lại những thành tựu lớn lao cho đất nước. Ngọn gió đổi mới cũng đã đem đến những cái “mới”, cái “khác” cho nền văn học nước nhà. Chính sự “cởi trói” về tư tưởng đã du nhập những hệ thống triết học về nghệ thuật khác với truyền thống, mang những lý thuyết phê bình mới vào đời sống văn học Việt Nam, phổ biến những tác giả, tác phẩm lớn của nhân loại, mà vì nhiều lý do, trước đây công chúng văn học trong nước chưa có điều kiện để tiếp cận.

Việc nhìn nhận những thành tựu văn học nước ta thời kỷ Đổi mới vẫn là một thách thức của những người làm công tác nghiên cứu - phê bình văn học. Có nhiều lý do, nhưng trong đó có hai lý do quan trọng: Đổi mới vẫn là thời kỳ “đang diễn ra” chứ không phải “đã kết thúc”, mọi nhận định, đánh giá về thành tựu của văn học Việt Nam thời Đổi mới vẫn phải đặt trong “cái nhìn động”. Thứ hai, đời sống văn học Việt Nam thời Đổi mới thật sự sôi động và phong phú trên nhiều mặt, từ tư tưởng, quan niệm nghệ thuật, phương pháp sáng tác và sự đa dạng của lý thuyết phê bình… Do vậy, đánh giá về thành tựu cũng như giá trị của thời kỳ này cần có một kiến văn đủ rộng để có thể nhìn thấy được mỹ học của cái mới, cái “khác”. Nghĩa là cần đọc các tác phẩm bằng chính lý thuyết căn nền được nhà văn sử dụng trong sáng tác, để không bỏ qua những mã thẩm mỹ của văn bản mà nếu dùng cái nhìn từ bên ngoài, vận dụng những lý thuyết đọc không tương thích thì sẽ không thấy được các mã thẩm mỹ của tác phẩm.

Trước những khó khăn vừa nêu, ta thấy Văn học Việt Nam Đổi mới - từ những điểm nhìn tham chiếu [Nxb. Văn hóa - Văn nghệ, Tp. Hồ Chí Minh, 2019 - mọi trích dẫn trong tiểu luận đều từ nguồn này] của Phan Tuấn Anh là công trình khoa học thật sự có ý nghĩa, có những đóng góp nhất định vào việc thông hiểu sâu sắc hơn những thành tựu của văn học nước nhà trong 30 năm đổi mới.

1. Người phu chữ đa văn

Ấn tượng đầu tiên của người đọc khi tiếp cận công trình này, đó là tác giả có một tinh thần làm việc nghiêm túc và một vốn kiến thức rộng. Phan Tuấn Anh đã vận dụng những lý thuyết như chủ nghĩa hậu hiện đại, thi pháp học, mỹ học tiếp nhận, lý thuyết hệ hình trong nghiên cứu, phê bình một cách phù hợp và hiệu quả… Khi đọc công trình, ta thấy tất cả những lý thuyết được vận dụng không phải để tác giả phô diễn kiến thức cũng như làm tăng tính “thời thượng” cho cuốn sách, mà đó thực sự là một nhu cầu tự thân của nhà nghiên cứu nhằm chỉ ra những giá trị của mỗi tác phẩm được lựa chọn làm “điểm nhìn tham chiếu”. Về việc vận dụng đa dạng các lý thuyết phê bình của tác giả, người đọc thật sự bị thuyết phục bởi Phan Tuấn Anh đã làm chủ những công cụ lý thuyết một cách chắc chắn, đi từ quan niệm triết học nền tảng đến sự vận dụng trong phê bình văn học.

Điển hình, Phan Tuấn Anh đã vận dụng một cách lý thú các lý thuyết phê bình để giải mã các mã thẩm mỹ trong tiểu thuyết Không biết đâu mà lần của Văn Thành Lê. Anh đi từ lý thuyết trò chơi ngôn ngữ (language games) của L. Wittgenstein đến quan niệm của F. de Saussure về tính không tương thích của “cái biểu đạt” và “cái được biểu đạt” trong triết học ngôn ngữ cấu trúc. Anh vận dụng tư tưởng của các nhà triết học giải cấu trúc như J. Derrida, M. Foucault, R. Barthes, J.F. Lyotard để khẳng định tính chất “phì đại ngôn ngữ”, “các câu văn có xu hướng bành trướng, chú ý đến sự diễn trò, sự tách rời giữa chữ và nghĩa, lời và vật” là một đặc trưng thi pháp nổi bật của Văn Thành Lê. Tiểu thuyết Không biết đâu mà lần dưới cách đọc của Phan Tuấn Anh thực sự là một trò chơi ngôn ngữ điển hình, ở đó những thủ pháp như nghịch dị, nhại được sử dụng để nhà văn khái quát lên bản chất hỗn độn (chaos), ngụy tạo của (simulacra) của thế giới.

Với trường hợp tiểu thuyết Chú bé mang ba lô màu đỏ của Nguyễn Đình Tú, Phan Tuấn Anh đã vận dụng mỹ học tiếp nhận (Receptional Aesthetic) để chỉ ra rằng đó thật sự là một kiệt tác dành cho không chỉ thiếu nhi mà tất cả chúng ta, vì nó “có khả năng “lớn lên” cùng bạn đọc”, là tiểu thuyết mà “mỗi độ tuổi sẽ tìm thấy trong thế giới tuổi thơ ấy câu chuyện và thông điệp của riêng mình”. Thành công của tiểu thuyết là đã sử dụng một “chiến lược tự sự kép” để mọi người đọc ở bất kỳ tầm đón nhận nào đều có thể soi mình vào tác phẩm. Từ đó, Phan Tuấn Anh đi đến nhận định, Chú bé mang ba lô màu đỏ dưới góc nhìn mỹ học tiếp nhận, xứng đáng là một kiệt tác. Ở đây, người đọc thật sự được thuyết phục khi nhà phê bình dùng một lý thuyết tương thích để soi chiếu vào tác phẩm mà nếu dùng những lý thuyết khác, những giá trị của tác phẩm chẳng thể nào hiển lộ một cách tường minh như thế. Đó chính là sự tinh tế và tài hoa của người làm công tác phê bình. Anh ta sẽ đề xuất những cách đọc phù hợp để qua đó chắt lọc được tinh huyết của từng tác phẩm.

Với tiểu luận “Lý luận phê bình văn học Việt Nam đổi mới - cấu trúc tam tài”, Phan Tuấn Anh, với cái nhìn bao quát, đã thực hiện một khái quát khá đầy đủ và sinh động về sự thay đổi hệ hình (paradigm shift) trong văn học Việt Nam từ 1975 đến hai thập kỷ đầu thế kỉ XXI.

Về văn học Việt Nam từ 1975 đến 1985, tác giả công trình đã khái quát một cách hình tượng là giai đoạn văn học “hướng thiên” gắn với hệ hình tư duy “tiền hiện đại”. Nhà văn và nhà lý luận phê bình hướng đến những tiêu chí ngoài văn học trong sáng tác và phê bình, tuân thủ “nguyên tắc phản ánh” với những “cấu trúc đồng đẳng”. Văn học giai đoạn này vận động theo quán tính của văn học thời chiến, và hệ quả là dần trở nên “cứng nhắc, thiếu sức sống”. Từ đó, đổi mới và cách tân là một đòi hỏi sống còn của văn học nước nhà.

Tinh thần đổi mới từ Đại hội VI, và văn học nước ta từ 1986 đến hết thế kỷ XX, qua cách nói hình tượng của Phan Tuấn Anh, là giai đoạn “quy địa”, đã thực sự mang ý nghĩa phục hưng lớn lao. Văn học giai đoạn này đã “giải thiêng” phản ánh luận và thực hiện quá trình “nhận thức lại những chức năng và thuộc tính của văn học” một cách sâu sắc. Chính điều đó đã giúp văn học Việt Nam chuyển đổi hệ hình sang tư duy hiện đại, lấy văn bản làm trung tâm và thật sự hướng đến con người trong ý nghĩa toàn vẹn nhất của nó.

Qua cái nhìn của tác giả, giai đoạn từ đầu thế kỉ XXI đến nay, văn học Việt Nam đã tiếp nhận chủ nghĩa hậu hiện đại, chuyển sang hệ hình tư duy hậu hiện đại, lấy người đọc làm trung tâm. Điều này đã góp phần cho văn học tạo sinh những cái mới, giãn nới không gian dân chủ trong sáng tạo và tiếp nhận, giúp văn học Việt Nam hội nhập sâu sắc hơn vào quỹ đạo của văn học khu vực và thế giới.

Đọc toàn bộ công trình, ta thấy tất cả những kiến văn và diễn giải của Phan Tuấn Anh, không có mục đích nào ngoài khao khát thúc đẩy cái mới, cái tiến bộ, cái cách tân của văn học nước nhà trên cả ba phương diện: tác giả, văn bản và người đọc.

2. Suối nguồn tuổi trẻ

Như đã trình bày, công trình Văn học Việt Nam Đổi mới - từ những điểm nhìn tham chiếu của Phan Tuấn Anh thể hiện một khao khát cách tân, đổi mới văn học Việt Nam trong cái nhìn có phạm vi quốc tế. Khát khao đó được gửi gắm ở những người viết trẻ. Cuốn sách, do vậy, dành sự quan tâm đặc biệt về những tác giả trẻ cả trên lĩnh vực sáng tác lẫn nghiên cứu, phê bình.

Ở tiểu luận “Văn học trẻ Việt Nam giai đoạn Đổi mới”, tác giả đã khái quát tiến trình vận động của văn học Việt Nam trong thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI với ba lần chuyển đổi hệ hình: từ văn học trung đại phương Đông sang văn học tiền hiện đại phương Tây vào đầu thế kỷ XX; từ tiền hiện đại sang hiện đại vào những năm 60 của thế kỷ XX; từ hiện đại sang hậu hiện đại từ 1986. Trong đó, Phan Tuấn Anh đã khẳng định, ở mỗi bước chuyển hệ hình, đóng góp quan trọng thuộc về những cây bút trẻ. Cụ thể, vào những năm 30 của thế kỷ XX, “văn học Việt Nam chứng kiến vai trò cách tân quyết liệt và lập ngôn một cách róng riết của thế hệ cầm bút trẻ trên dưới hai mươi tuổi như Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Nguyễn Nhược Pháp, Hàn Mặc Tử…”. Từ thập niên 60 của thế kỷ XX, “Ở miền Bắc có thể ghi nhận vai trò tiên phong của thế hệ cầm bút trẻ trên dưới ba mươi tuổi như Trần Dần, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, Hoàng Cầm… Ở miền Nam là Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Phạm Công Thiện, Bùi Giáng…”. Từ 1986 đến nay, bước chuyển hệ hình từ hiện đại sang hậu hiện đại đã được thực hiện với những đóng góp không nhỏ của những cây bút trẻ như Lê Minh Phong, Trịnh Sơn, Nguyễn Thế Hoàng Linh… trong sáng tác và những cái tên mới như Đoàn Minh Tâm, Nguyễn Mạnh Tiến, Đoàn Ánh Dương, Trần Thiện Khanh, Phạm Xuân Thạch trên lĩnh vực lý luận phê bình… Đồng thời Phan Tuấn Anh nhất quyết định danh họ “thế hệ f” (thế hệ facebook với lối viết status - entry, thế hệ viết trên mười đầu ngón tay).

Người đọc dễ thấy rằng, Phan Tuấn Anh cũng là một người viết trẻ, hoạt động trên cả lĩnh vực sáng tác lẫn lý luận phê bình, nên anh đặt nhiều kỳ vọng vào thế hệ của mình. Đọc hết công trình Văn học Việt Nam Đổi mới - từ những điểm nhìn tham chiếu của anh ta thấy được nhãn quan thức thời, nhạy bén với cái mới, nhưng đồng thời, anh cũng đủ sâu sắc để nhận rõ ưu thế và giới hạn của thế hệ mình. Phan Tuấn Anh khẳng định, những người cầm bút trẻ của Việt Nam giai đoạn Đổi mới hôm nay “có nhiều cơ hội học hỏi thế giới cũng như có nhiều đất diễn hơn cho các thể nghiệm của mình… tiếp cận nhanh và trực tiếp hơn các trào lưu nghệ thuật đương đại”, họ cũng là những “người của công chúng, biết vận dụng các phương tiện truyền thông nhằm tiếp cận bạn đọc và quảng bá tư tưởng nghệ thuật cho tác phẩm”. Tuy vậy, tác giả cuốn sách cũng thẳng thắn chỉ ra rằng, “điểm yếu của những nhà văn trẻ hiện nay, đó là chưa kết hợp lại được thành những trường phái nghệ thuật một cách tự giác. Sự đa dạng đến mức tự phát và thiếu định hướng nghệ thuật một cách kiên trì và căn cốt đã biến chất lượng nghệ thuật giữa các tác phẩm hết sức bấp bênh… Chính vì vậy, giá trị đỉnh cao từ sáng tác trẻ trong giai đoạn này có lẽ vẫn phải chờ đợi ở tương lai”.

Những khái quát, nhận định của Phan Tuấn Anh về vai trò và vị trí của người viết trẻ trong sự vận động của văn học Việt Nam đổi mới vẫn còn đôi chỗ có thể cần đối thoại, song từ những trang viết, ta thấy được lòng nhiệt thành và thái độ nghiêm túc của một người viết trẻ. Có thể nói, đến nay, Phan Tuấn Anh là một trong những nhà phê bình viết nhiều nhất để xác lập vị trí của những người viết trẻ trong quá trình đổi mới văn học dân tộc, bởi anh khát khao cống hiến, cách tân, thay đổi, và đặc biệt, dám đặt cược bản thân và thế hệ mình vào hành trình sáng tạo.

3. Ngọn hải đăng không bao giờ tắt

Phan Tuấn Anh, trong mọi công trình khoa học hay tác phẩm thơ được in, đều giới thiệu mình là người con xứ Huế. Huế là một phần quan trọng kiến tạo nên bản sắc, cốt cách và tinh thần của anh. Với cuốn Văn học Việt Nam Đổi mới - từ những điểm nhìn tham chiếu, Phan Tuấn Anh cũng không quên dành một phần lớn dung lượng để viết về văn học vùng đất Cố đô, như một cách kín đáo để thể hiện tình yêu với mảnh đất và con người nơi anh được sinh ra.

Tiểu luận “Sự vận động hệ hình của thơ ca Cố đô Huế ba mươi năm đổi mới” là một khái quát khá toàn diện và sâu sắc về thành tựu của thơ ca xứ Huế giai đoạn này. Từ tiểu luận, chúng ta thấy được mối cảm hoài của tác giả khi Huế không còn là kinh đô của cả nước. Khi không còn là kinh đô của Việt Nam, “đã khiến Huế không còn là trung tâm lý luận phê bình văn học nói riêng và nghiên cứu văn học nói chung”. Với văn xuôi, “Huế chỉ xứng đáng là “cố đô” (ngoại biên) hơn là “kinh đô” (trung tâm) của nền văn xuôi nước nhà”. Duy chỉ trên địa hạt thơ ca, và cũng chỉ nhờ thơ ca, Huế vẫn duy trì được vị thế là “ngọn hải đăng không bao giờ tắt” của văn học cả nước trong thời Đổi mới. Phan Tuấn Anh đã vận dụng lý thuyết hệ hình để chỉ ra rằng, thời kỳ Đổi mới, tại Huế cũng đã diễn ra những sự biến đổi hệ hình thơ ca, và với hệ hình nào cũng xuất hiện những thành tựu có ý nghĩa.

Với hệ hình thơ ca tiền hiện đại, thì Huế có những “cây đa cây đề” như Nguyễn Khoa Điềm, Lâm Thị Mỹ Dạ, Trần Vàng Sao, Hồng Nhu, Ngô Minh… Với hệ hình thơ hiện đại, Huế có nhiều tên tuổi lớn với những phong cách riêng. Phạm Nguyên Tường là “người đi tiên phong trong cách tân thơ” để vươn đến bến bờ của mỹ học tượng trưng, siêu thực. Nguyễn Trọng Tạo với khát vọng dân chủ cháy bỏng trong thơ cùng cảm quan “đổ vỡ niềm tin về các đại tự sự” nên mang cốt cách rất “hậu hiện đại”. Nguyễn Khắc Thạch với phong cách “thiền định nắm bắt mắt thơ qua đốn ngộ”, trình diễn một phong cách thơ kiệm lời như quan niệm của John Barth: “Thời đại chúng ta đang sống là thời đại của sự lặng im”.

Bước sang hệ hình thơ ca hậu hiện đại, Huế vẫn xuất hiện những tác giả và thi phẩm để lại dấu ấn như Họng đêm của Nguyễn Lãm Thắng hay Tơ sương của Hồ Thế Hà. Nhưng theo Phan Tuấn Anh, chính Tân hình thức mới là điều mang lại vị thế của thơ Huế trên thi đàn Việt Nam. Bởi “thơ Tân hình thức là một trào lưu/thể loại thơ hậu hiện đại có tầm ảnh hưởng rộng lớn, với sự tham dự của nhiều nhà thơ cả trong và ngoài nước”, mà Huế “là quê hương thứ hai của thơ Tân hình thức, nơi chứng kiến sự hưng thịnh của thể loại/trào lưu này” qua cuộc hôn phối với Tạp chí Sông Hương trên cơ sở tình tri âm giữa chủ soái Tân hình thức Khế Iêm và nhà thơ Hồ Đăng Thanh Ngọc.

Bằng sự trải nghiệm cùng hiểu biết sâu sắc về thơ ca nơi vùng đất mình sinh sống, Phan Tuấn Anh đã có những khái quát và nhận định đầy sức thuyết phục để người đọc thấy được, với thơ ca, Huế luôn là một trong các trung tâm lớn của cả nước trong thời kỳ Đổi mới và thậm chí cả tương lai, mãi là ngọn hải đăng không bao giờ tắt trong sự vận động của tiến trình thơ Việt Nam (hậu) hiện đại.

Như vậy, với dung lượng gần 300 trang sách, Văn học Việt Nam Đổi mới - từ những điểm nhìn tham chiếu của Phan Tuấn Anh đã đưa người đọc phiêu lưu qua những vùng đất chữ, chiêm ngưỡng và tận hưởng những hoa trái viên thành từ suối nguồn dòng nước canh tân. 300 trang sách không phải là một dung lượng quá đồ sộ, nhưng chừng đó cũng đủ cho độc giả có một cái nhìn khái quát về thành tựu của văn học Việt Nam 30 năm đổi mới, trên tất cả các lĩnh vực: sáng tác, lý luận, phê bình. Tác giả cũng cho người đọc hình dung rõ hơn về sự vận động không ngừng nghỉ, mặc dù có khi hiển lộ, khi âm thầm của văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới qua các bước chuyển hệ hình quan trọng. Cuốn sách cũng đã thể hiện cái nhìn, sự đánh giá không ngần ngại về thành công cũng như hạn chế của những người viết trẻ hôm nay. Và, điều đặc biệt là công trình đã dành một dung lượng lớn để khái quát nên tiến trình vận động cũng như những thành công của thơ ca Huế trong dòng chảy văn học Việt Nam Đổi mới như một sự tri ân đối với vùng đất nơi Phan Tuấn Anh được sinh ra. Dẫu còn một vài chỗ cần phân tích thấu đáo hơn và đôi chỗ cần có thêm những đối thoại, trao đổi, nhưng nhìn một cách tổng quan, Văn học Việt Nam đổi mới - từ những điểm nhìn tham chiếu là cuốn sách có nhiều tác động tích cực trong nghiên cứu, tổng kết khái quát thành tựu của văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới.

P.T.T.T  
(TCSH388/06-2021)



 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • INRASARA (Tiếp theo Sông Hương số 245 tháng 7-2009)

  • HÀ VĂN THỊNH Những cái tên - có lẽ không giản đơn như cách nói của người Nga - " Người ta gọi tôi là...”  Ở đây, lớp vỏ của ngôn từ chỉ diễn tả một khái niệm mù mờ nhất của một lượng thông tin ít nhất.Trong khi đó, có bao giờ ta nghĩ rằng một cái tên, không ít khi hàm chứa thật nhiều điều - thậm chí nó cho phép người khác biết khá rõ về tính cách, khả năng và ngay cả một phần của số phận của kiếp người?

  • HÀ VĂN LƯỠNG1. Ivan Bunhin (1870-1953) là một nhà văn xuôi Nga nổi tiếng của thế kỷ XX. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của ông trải qua những bước thăng trầm gắn với nhiều biến động dữ dội mang tính chất thời đại của nước Nga vào những năm cuối thế kỷ XIX và mấy chục năm đầu thế kỷ XX.

  • LÊ THÀNH NGHỊCâu hỏi “ta là ai?”, “ta vì ai” nổi tiếng của Chế Lan Viên tưởng đã tìm ra câu trả lời có chứa hạt nhân hợp lý của thời đại trong thơ chống Mỹ đã không còn đủ sức ôm chứa trong thời kì mới, khi nhu cầu xã hội và cá nhân đã làm thức tỉnh cái tôi trữ tình của người làm thơ. Nhu cầu xã hội thường là những gì bức thiết nhất của thực tại, do thực tại yêu cầu. Chẳng hạn, thời chống Mỹ đó là độc lập tự do của dân tộc. Tất cả những hoạt động tinh thần, trong đó có sáng tác thơ văn, nếu nằm ngoài “sự bức thiết thường nhật” này không phù hợp, không được đón nhận... và vì thế không thể phát triển. Kể từ sau năm 1975, đặc biệt là sau 1986, với chủ trương đổi mới, trong xã hội ta, nhu cầu bức thiết nhất, theo chúng tôi là khát vọng dân chủ.

  • LÝ TOÀN THẮNG“Văn xuôi về một vùng thơ” là một thể nghiệm thành công của Chế Lan Viên trong “Ánh sáng và phù sa”, về lối thơ tự do, mở rộng từ thấp lên cao - từ đơn vị cấu thành nhỏ nhất là Bước thơ, đến Câu thơ, rồi Đoạn thơ, và cuối cùng là cả Bài thơ.

  • INRASARA1. Đó là thế hệ thơ có một định phận kì lạ. Người ta vội đặt cho nó cái tên: thế hệ gạch nối, thế hệ đệm. Và bao nhiêu hạn từ phái sinh nhợt nhạt khác.Đất nước mở cửa, đổi mới, khi văn nghệ được cởi trói, nhà thơ thế hệ mới làm gì để khởi sự cuộc viết? Cụ thể hơn, họ viết thế nào?

  • VÕ VĨNH KHUYẾN Tiểu luận nhằm tìm hiểu thành tựu thơ ca trong khoảng 16 tháng giữa 2 cột mốc lịch sử (19.8.1945 - 19.12.1946). Bởi khi phân chia giai đoạn văn học nói chung (thơ ca nói riêng) trong tiến trình lịch sử văn học, các công trình nghiên cứu, các giáo trình ở bậc Đại học - Cao đẳng và sách giáo khoa trung học phổ thông hiện hành, không đặt vấn đề nghiên cứu thơ ca (cũng như văn học) nói riêng trong thời gian này. Với một tiêu đề chung "Văn học kháng chiến chống Pháp 1946 - 1954". Đây là nguyên do nhiều sinh viên không biết đến một bộ phận văn học, trong những năm đầu sau cách mạng.

  • HỒ THẾ HÀ1. Diễn đàn thơ được tổ chức trên đất Huế lần này gắn với chương trình hoạt động của lễ hội Festival lần thứ 3, tự nó đã thông tin với chúng ta một nội dung, tính chất và ý nghĩa riêng. Đây thực sự là ngày hội của thơ ca. Đã là ngày hội thì có nhiều người tham gia và tham dự; có diễn giả và thính giả; có nhiều tiếng nói, nhiều tấm lòng, nhiều quan niệm trên tinh thần dân chủ, lấy việc coi trọng cái hay, cái đẹp, cái giá trị của nghệ thuật làm tiêu chí thưởng thức, trao đổi và tranh luận. Chính điều đó sẽ làm cho không khí ngày hội thơ - Festival thơ sẽ đông vui, phong phú, dân chủ và có nhiều hoà âm đồng vọng mang tính học thuật và mỹ học mới mẻ như P.Valéry đã từng nói: Thơ là ngày hội của lý trí (La poésie est une fête de l'intellect).

  • THẠCH QUỲThơ đi với loài người từ thủa hồng hoang đến nay, bỗng dưng ở thời chúng ta nứt nẩy ra một cây hỏi kỳ dị là thơ tồn tại hay không tồn tại? Không phải là sự sống đánh mất thơ mà là sự cùn mòn của 5 giác quan nhận thức, 6 giác quan cảm nhận sự sống đang dần dà đánh mất nó. Như rừng hết cây, như suối cạn nước, hồn người đối diện với sự cạn kiệt của chính nó do đó nó phải đối diện với thơ.

  • NGUYỄN VĨNH NGUYÊNNhững năm gần đây, người ta tranh luận, ồn ào, khua chiêng gõ mõ về việc làm mới văn chương. Nhất là trong thơ. Nhưng cái mới đâu chẳng thấy, chỉ thấy sau những cuộc tranh luận toé lửa rốt cục vẫn là: hãy đợi đấy, lúc nào đó, sẽ... cãi tiếp...

  • TRẦN VĂN LÝAi sản xuất lốp cứ sản xuất lốp. Ai làm vỏ cứ làm vỏ. Ai làm gầm cứ làm gầm. Nơi nào sản xuất máy cứ sản xuất máy. Xong tất cả được chở đến một nơi để lắp ráp thành chiếc ô tô. Sự chuyên môn hoá đó trong dây chuyền sản xuất ở châu Âu thế kỷ trước (thế kỷ 20) đã khiến cho nhiều người mơ tưởng rằng: Có thể "sản xuất" được thơ và sự "mơ tưởng" ấy vẫn mãi mãi chỉ là mơ tưởng mà thôi!

  • HOÀNG VŨ THUẬTChúng ta đã có nhiều công trình, trang viết đánh giá nhận định thơ miền Trung ngót thế kỷ qua, một vùng thơ gắn với sinh mệnh một vùng đất mà dấu ấn lịch sử luôn bùng nổ những sự kiện bất ngờ. Một vùng đất đẫm máu và nước mắt, hằn lên vầng trán con người nếp nhăn của nỗi lo toan chạy dọc thế kỷ. Thơ nảy sinh từ đó.

  • BÙI QUANG TUYẾNThơ mới là một hiện tượng nổi bật của văn học Việt Nam nói chung và thơ ca nói riêng trong thế kỷ XX. Nó vừa ra đời đã nhanh chóng khẳng định vị trí xứng dáng trong nền văn học dân tộc với các "hoàng tử thơ": Thế Lữ , Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử v.v... Đồng thời, Thơ mới là một hiện tượng thơ ca gây rất nhiều ý kiến khác nhau trong giới phê bình, nghiên cứu và độc giả theo từng thời kỳ lịch sử xã hội, cho đến bây giờ việc đánh giá vẫn còn đặt ra sôi nổi. Với phạm vi bài viết này, chúng tôi điểm lại những khái niệm về Thơ mới và sự đổi mới nghệ thuật thơ của các bậc thầy đi trước và tìm câu trả lời cho là hợp lý trong bao nhiêu ý kiến trái ngược nhau.

  • MẠNH LÊ Thơ ca hiện đại Việt Nam thế kỷ XX đã thu được những thành tựu to lớn đóng góp vào sự phát triển của lịch sử thơ ca dân tộc. Đặc biệt từ ngay sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời thay thế chế độ phong kiến thực dân hơn trăm năm đô hộ nước ta cùng với khí thế cách mạng kháng chiến cứu nước theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh tháng 12 năm 1946 đã thổi vào đời sống văn học một luồng sinh khí mới để từ đó thơ ca hiện đại Việt Nam mang một âm hưởng mới, một màu sắc mới.

  • NGUYỄN KHẮC THẠCHNếu gọi Huế Thơ với tư cách đối tượng thẩm mĩ thì chủ thể thẩm mĩ của nó trước hết và sau cùng vẫn là sự hoá sinh Thơ Huế. Đương nhiên, không hẳn chỉ có Thơ Huế mới là chủ thể thẩm mĩ của Huế Thơ và cũng đương nhiên không hẳn chỉ có Huế Thơ mới là đối tượng thẩm mĩ của Thơ Huế. Huế Thơ và Thơ Huế vẫn là hai phạm trù độc lập trong chừng mực nào đó và có khi cả hai đều trở thành đối tượng thẩm mĩ của một đối tượng khác.

  • ĐỖ LAI THÚYThanh sơn tự tiếu đầu tương hạc                                  Nguyễn KhuyếnNói đến Dương Khuê là nói đến hát nói. Và nói đến hát nói, thì Hồng Hồng, Tuyết Tuyết làm tôi thích hơn cả. Đấy không chỉ là một mẫu mực của thể loại, mà còn làm một không gian thẩm mỹ nhiều chiều đủ cho những phiêu lưu của cái đọc.

  • NGUYỄN NGỌC THIỆNHải Triều tên thật là Nguyễn Khoa Văn, sinh năm 1908 trong một gia đình Nho học, khoa bảng. Năm 20 tuổi, trở thành đảng viên trẻ của Tân Việt cách mạng Đảng, Nguyễn Khoa Văn bắt đầu cầm bút viết báo với bút danh Nam Xích Tử (Chàng trai đỏ). Điều này đã khiến trong lần gặp gỡ đầu tiên, người trai có "thân hình bé nhỏ và cử chỉ nhanh nhẹn theo kiểu chim chích" (1) ấy đã gây được cảm tình nồng hậu của Trần Huy Liệu- chủ nhiệm Nam Cường thư xã, người bạn cùng trang lứa tuy vừa mới quen biết, nhưng đã chung chí hướng tìm đường giải phóng cho dân tộc, tự do cho đất nước.

  • TÔ VĨNH HÀ Huế đang trở lạnh với "mưa vẫn mưa bay" giăng mờ như hư ảo những gương mặt người xuôi ngược trên con đường tôi đi. Tôi giật mình vì một tà áo trắng vừa trôi qua. Dáng đi êm nhẹ với cánh dù mỏng manh như hơi nghiêng xuống cùng nỗi cô đơn. Những nhọc nhằn của tuổi mơ chưa đến nỗi làm bờ vai trĩu mệt nhưng cũng đủ tạo nên một "giọt chiều trên lá(1), cam chịu và chờ đợi nỗi niềm nào đó hiu hắt như những hạt mưa...

  • NGUYỄN HỒNG DŨNG1. Một cuộc đời lặng lẽ và những truyện ngắn nổi danhO' Henry, tên thật là William Sydney Porter, được đánh giá là người viết truyện ngắn xuất sắc nhất của nước Mỹ những năm đầu thế kỷ XX. Ông sinh tại Greenboro, tiểu bang North Carolina vào năm 1862. Năm 15 tuổi (1877), ông thôi học và vào làm việc trong một hiệu thuốc tây. Vào tuổi hai mươi, ông bị đau nặng và sức khoẻ sa sút nên đã đến dưỡng sức ở một nông trại tại tiểu bang Texas. Ông đã sống ở đấy hai năm, đã làm quen với nhiều người và hiểu rất rõ tính cách miền Tây. Sau này, ông đã kể về họ rất sinh động trong tập truyện ngắn có tựa đề đầy xúc cảm Trái tim miền Tây.

  • MAI KHẮC ỨNGCó thể sau khi dẹp được loạn 12 sứ quân, Đinh Tiên Hoàng (968- 979) thống nhất lãnh thổ và lên ngôi hoàng đế, đã đặt được cơ sở ban đầu và xác định chủ quyền Đại Cồ Việt lên tận miền biên cương Tây Bắc vốn là địa bàn chịu ảnh hưởng Kiểu Công Hãn. Trên cơ sở 10 đạo thời Đinh nhà vua Lý Thái Tổ (1010- 1028) mới đổi thành 24 phủ, lộ. Nguyễn Trãi viết Dư địa chí (thế kỷ XV) vẫn giữ nguyên tên gọi đạo Lâm Tây. Tức vùng Tây- Bắc ngày nay.