Có thể nói ký ức về chiến tranh là một chủ đề lớn xuyên suốt "Ngôi nhà hoang bí ẩn". Như một vết thương lòng, chiến tranh đã đi qua nhưng mất mát thì vẫn hãy còn đây... Quá khứ như một thì chưa hoàn thành vẫn tiếp tục nối dài trong hiện tại. Nhân vật Tâm (Những người bạn của tôi) gần như chỉ sống trong quá khứ. Anh trân trọng những mất mát như đã trân trọng yêu thương cuộc đời này. Cái triết lý sống giản dị của Tâm gói trọn trong một câu hỏi là phải sống làm sao khi bao nhiêu bạn bè đã chết cho mình sống. Đó là Hà, Thanh, Bình - những liệt sĩ vô danh trong truyện ngắn "Chuyện về hồn ma liệt sĩ vô danh". Từ những miền quê khác nhau, tuổi đời khác nhau, họ đã hy sinh lặng lẽ cho đất nước. Suốt đời mình, Bình chỉ "ước ao được trở về quê, về với dải đất bồi ven biển có những con dã tràng chạy tíu tít mỗi khi nước triều lên, về với cánh cò trắng lấp loá nắng chiều chấp chới trên những cánh rừng ngập mặn trải xa tít mờ"... Còn với Thanh thì lúc nào anh cũng bồi hồi như thời sinh viên tranh đấu. Nhớ "tiếng hát vọng trời đêm. Hoa phượng rụng xuống và hoa lửa bay lên đều đỏ rực nỗi khát khao. Sáng ra cảnh sát đàn áp. Máu loang trên áo trắng học trò đỏ như màu hoa phượng". Biết bao nhiêu sự hy sinh thầm lặng của một dân tộc bất khuất. Bà Tam (Ngôi nhà hoang bí ẩn) là cơ sở giao liên cách mạng nhiều năm tháng âm thầm đưa bộ đội vượt sông. Vợ chồng bà không hề gian khó và không sợ cả cái chết. Ngày hoà bình khi được hỏi vì sao không kể lại thành tích, bà trả lời với một chân lý đơn giản: "Hồi đó mỗi lần đưa anh em vượt sông, lúc đón lên chẳng bao giờ đủ người. Có đêm xuống hơn ba chục chỉ lên có bốn. Anh em nằm lại dưới đó làm sao kể công?". Trong khi có nhiều người chối bỏ quá khứ, vội quên ngay cả thân phận mình, thắp nhang cho đồng đội "như lần đầu đi tập cấy"... làm quấy quá cho xong chuyện, thì vẫn còn đó những Phú, những Tâm, những bà Tam... nhìn quá khứ (mà ở đây là máu đỏ) với sự biết ơn sâu xa như ơn nghĩa sinh thành. |
Tải mã QRCode
NGUYỄN ĐỨC TÙNG
Trong thơ trữ tình, lịch sử không tồn tại. Trường ca làm chúng tồn tại.
(Ý kiến của Nguyễn Văn Bổng, Xuân Cang, Nguyễn Kiên, Hà Minh Đức, Hoàng Ngọc Hiến)
Sách chuyên khảo “Sự ra đời của đế chế Nguyễn” của A.Riabinin tiến sĩ sử học Xô Viết nghiên cứu lịch sử xã hội - chính trị của Việt Nam vào đầu thế kỷ XIX.
LÊ MINH PHONG
(Nhân đọc: Rừng khô, suối cạn, biển độc… và văn chương của Nguyễn Thị Tịnh Thy, Nxb. Khoa học xã hội, 2017).
TRẦN VIẾT ĐIỀN
Trong sách “Nhìn lại lịch sử”, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2003, tác giả Phan Duy Kha viết bài “Một bài thơ liên quan đến lăng mộ vua Quang Trung”.
BÙI KIM CHI
“Tháng Tám năm Ất Dậu (1945)… Là công dân Việt Nam nên tôi đã tham gia phong trào chống xâm lăng…”. (Truyện ngắn Mũi Tổ).
TRƯƠNG THỊ TƯỜNG THI
Thuật ngữ triết luận gắn với tính trí tuệ hay tính triết lý trong văn học nói chung và trong thơ ca nói riêng xuất hiện từ rất sớm.
NGUYỄN THẾ QUANG
Nói đến nhà văn Nguyễn Khắc Phê thì không gì bằng đọc cuốn tự tuyện của anh. Số phận không định trước(*) đưa ta đi suốt cuộc hành trình sáng tạo nghệ thuật bền bỉ quyết liệt suốt năm chục năm qua của anh.
NGUYỄN HỮU SƠN
Thiền sư Vạn Hạnh (?-1018) gốc họ Nguyễn, người hương Cổ Pháp (nay thuộc phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh), thuộc thế hệ thứ mười hai dòng Thiền Nam phương Tì Ni Đa Lưu Chi.
NGUYÊN QUÂN
Một cảm nhận thật mơ hồ khi cầm trên tay tập sách, vừa tản văn vừa tiểu luận của nhà văn Triệu Từ Truyền gởi tặng. Sự mơ hồ từ một cái tựa rất mơ hồ bởi lẽ chữ là một thực thể hữu hiện và chiếc cầu tâm linh chính lại là một ảo ảnh rất dị biệt với thực thể hữu hạn của những con chữ.
TUỆ AN
Đọc “Ảo giác mù”, tập truyện ngắn của Tru Sa (Nxb. Hội Nhà văn, 2016)
TRẦN VIẾT ĐIỀN
Ngô Thì Nhậm viết bài thơ Cảm hoài cách đây 223 năm, nhân đi sứ báo tang Tiên hoàng Quang Trung băng hà và cầu phong An Nam quốc vương cho vua Cảnh Thịnh.
NGUYỄN THỊ THANH LƯU
Đã từ rất lâu rồi, tôi hài lòng với việc đọc thơ trong màu xám của một nỗi tuyệt vọng - nỗi tuyệt vọng không bao giờ phân tách nổi trắng đen giữa đám sương mù xám đặc dường như chỉ có dấu hiệu đậm dần lên trong những lớp lang chữ nghĩa, trong cách ngắt nhịp, buông vần.
MAI VĂN HOAN
Lẽ ra tôi không viết bài này. Thiết nghĩ văn chương thiên biến, vạn hóa, mỗi người hiểu một cách là chuyện bình thường. Tốt nhất là nên tôn trọng cách nghĩ, cách cảm thụ của người khác.
TRIỀU NGUYÊN
1. Đặt vấn đề
Nói lái được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp thông thường, và trong văn chương (một lối giao tiếp đặc biệt). Để tiện nắm bắt vấn đề, cũng cần trình bày ở đây hai nội dung, là các hình thức nói lái ở tiếng Việt, và việc sử dụng chúng trong văn chương.
NGUYỄN KHẮC PHÊ
(Đọc tiểu thuyết “Huế ngày ấy” của Lê Khánh Căn, Nxb. Quân đội nhân dân, 2006).
HỒ ĐĂNG THANH NGỌC
(Đọc “Song Tử” của Như Quỳnh de Prelle)
VŨ TRỌNG QUANG
Trần Thiên Thị viết tắt TTT hay đọc là 3 Tê, tôi liên tưởng đến những T thơ ca:
GIÁNG VÂN
Tôi gọi chị là “ Người truyền lửa”.
LGT: Trong khi giở lại tài liệu cũ, tình cờ chuỗi thơ xuân năm Ất Dậu 2005 của Thầy Trần Văn Khê xướng họa với chị Tôn Nữ Hỷ Khương và anh Đỗ Hồng Ngọc rơi vào mắt.