Ván cờ

09:30 08/01/2021

Brazil, nhà văn danh tiếng Jorge Amado nói, không phải là một quốc gia mà là một lục địa. Trong phần đóng góp mới nhất của loạt nhà văn trẻ xuất sắc được tạp chí Granta giới thiệu, họ kể những câu chuyện rộng lớn và hấp dẫn của xã hội Brazil hiện đại và ai là tương lai của nó; trong những nhà văn chưa từng được dịch và giới thiệu này góp mặt có Ricardo Lísias đã xuất bản hai tiểu thuyết rất hấp dẫn người đọc.
Xin chuyển dịch sang Việt ngữ từ bản dịch sang Anh ngữ của Daniel Hahn: “My chess teacher”.
                              Dương Đức dịch và giới thiệu

Ảnh: internet

Ván cờ   

RICARDO LÍSIAS   

Phần cơ bản của thời niên thiếu của tôi biến mất vào tuần áp chót. Thầy dạy môn cờ của tôi không lên lớp. Vì vậy, tôi men tới quán cà phê nơi chúng tôi vẫn thường xuyên gặp nhau suốt năm năm qua; tôi lấy bàn và ngồi chờ. Đó là lần đầu tiên thầy trễ giờ như vậy. Những người chơi cờ vốn rất khắt khe về thời gian: thua một ván đấu vì hết giờ thường là kinh nghiệm đau đớn còn hơn bị chiếu tướng thua.

Tôi chưa học chơi cờ vua với ai khác. Chính thầy là người dạy tôi theo dõi thời gian. Khi đó tôi mười hai tuổi, được xem như một tài năng xuất sắc của Brazil trong làng cờ thiếu niên và tôi phải đối mặt với giải đấu quan trọng đầu tiên, với đồng hồ tính giờ trận đấu cùng các thứ khác. Một năm trước, mẹ tôi đã theo lời khuyên của ông tôi, người đã không còn đánh bại đứa cháu của mình, tìm cho tôi một người thầy.

Chỉ bây giờ tôi mới thấy sự trùng hợp đó. Chính xác cách đây một tháng tôi gián đoạn việc học cờ vì ông nội tôi qua đời làm tôi không còn chút tâm trí nào nghĩ tới học tập. Tuy vậy, thầy tôi đảm bảo là tôi vẫn đủ sức để tiếp tục luyện tập. Trò mất một quãng thời gian như vậy, Ricardo, trò hoàn toàn biết rõ phải lập tức tập trung trở lại. Còn bây giờ thì chính thầy biến mất. Vậy là đã gần 30 năm kể từ lúc tôi học bài vỡ lòng với thầy.

Sau thời gian gián đoạn ngắn, tôi hỏi có thể tiếp tục việc học bằng cách nghiên cứu những trận đấu đã diễn ra hay không - những cuộc tấn công bất ngờ mà ông tôi rất ưa thích. Đó là thứ duy nhất mà ông tôi nắm rõ trong trận cờ. Khi đó tôi đã học cách vô hiệu hóa kiểu thí quân như điên mà ông hay sử dụng để không bao giờ thua ông nữa. Ông và cháu trở nên xa cách hơn một chút vì tôi tăng cường theo học ở trung tâm để biết thế cờ tránh sự tấn công từ hai cánh.

Buổi học thường kéo dài một giờ rưỡi. Thời gian tôi đợi ở quán cà phê cũng bằng chừng ấy. Rồi tôi gọi điện thoại để tìm kiếm thầy nhưng cuộc gọi không thông suốt. Lúc đó vẫn có chút thời gian trước khi đi đón con ở nhà trẻ, tôi quyết định dừng lại bên tòa nhà nơi thầy tôi ở đó lúc tôi và thầy biết nhau.

“Vào tuần trước, mẹ của anh ấy cùng đi với một số người đàn ông khác đến đây và đã đưa anh ấy đi.”

“Nhưng bà ấy có để lại thông tin nào không vậy?”

“Tôi chỉ biết chừng đó.”

Tôi để lại số điện thoại của tôi ở quầy lễ tân và yêu cầu nhân viên phục vụ gọi cho tôi nếu biết thêm thông tin về ông. Đêm đó, tôi liên lạc với những bạn chơi cờ. Không ai nghe thấy bất cứ điều gì.

Minh họa: Tô Trần Bích Thúy


*
Lúc đầu, thầy tôi đến nhà tôi. Đó là thời điểm tôi mong đợi nhất mỗi tuần. Tôi dành khoảng sáu tuần chỉ để học các nguyên tắc cơ bản. Ricardo, này, đẩy các quân của trò vào góc, trò đang khiếp sợ rồi. Sau đó, tôi bắt đầu xuất hiện tại một vài giải cờ thiếu niên. Ngày đó là vào năm 1986, tôi nghĩ: trong những ngày đó, không giống như ngày hôm nay, rất ít trẻ em chơi trong các giải thi đấu. Hầu hết được chuẩn bị kém và chỉ nhằm để thực hiện mong muốn của cha mẹ mình. Tôi dễ dàng đánh bại tất cả.

Khi tôi lên mười hai, mẹ tôi bắt đầu đưa tôi tới câu lạc bộ cờ vua. Việc học của tôi được chuyển đến đó. Đó là nơi thầy tôi yêu mến nhất trên thế giới này. Lúc đầu, tôi không thích nó. Nó hoàn toàn tối tăm, và cứ vào lúc 3:00 mỗi buổi chiều thứ tư nó như bị bỏ hoang. Khoảng chạng vạng mọi người bắt đầu đến. Đó là lần mẹ tôi đưa tôi đi. Rõ mồn một, bà đã nhận thấy những loại người nào thường xuyên lui tới chỗ như vậy ở trung tâm thành phố São Paulo.

Tuy nhiên, dần dần, tôi đã bắt đầu giành được sự tự do của mình. Mẹ tôi hoàn toàn tin tưởng vào thầy tôi. Ông hứa sẽ để tôi đi tàu điện ngầm khi tôi đã chơi đôi chút với những người luyện tập tại câu lạc bộ. Lần đầu tiên tôi về nhà muộn, bà hăm dọa không bao giờ để cho tôi đi một mình nữa. Tôi đã đủ tự tin để trả lời lại. Và tôi đã kết thúc khóa học được xếp hạng nhì trong độ tuổi dưới 14 ở Brazil. Tôi xuất hiện trên mặt báo, ông nội tôi hết sức tự hào.

Khi lớn hơn, tôi cần ở lại câu lạc bộ thêm để chơi cờ. Lúc đó tôi vẫn là người trẻ nhất nên thầy tôi chăm sóc tôi. Dù sao, môi trường xung quanh không phải là kẻ thù địch. Cho dù nó cũng đầy người lạ trong thành phố, họ chỉ đến đây để chơi cờ. Câu lạc bộ có cho nhiều người xa xứ từ châu Âu đến ở; những học sinh phổ thông trung học họ nghĩ là họ tuyệt vời nhưng chắc chắn đã chấm hết vì cuối cùng không tìm được bạn gái cho mình; rồi có những người độc thân và các chuyên gia, nhiều người trong số họ vất vả để tìm đủ tiền ăn bữa tối cũng như buổi trưa hôm sau.

Thời gian ở câu lạc bộ cờ, với môi trường hoang dã bản địa, đánh dấu sự bắt đầu thời thanh niên của tôi: sáng học tập, thời gian còn lại chơi cờ. Khoảng trống giữa chừng tôi đọc lại các quyển tiểu thuyết đã xem qua ở nhà.

Có tám người trong chúng tôi tìm kiếm thầy tôi. Không có ai tìm thấy thông tin nào. Hôm qua, trong một giải đấu, J. đưa ra ý tưởng độc đáo, cho đến nay, có vẻ hợp lí: tìm mẹ của thầy. Chúng tôi đã gọi điện cho tất cả các bệnh viện trong thành phố São Paulo; F. lục tìm trong hồ sơ của cảnh sát và nhà xác, thậm chí một số nghĩa trang cũng nhận cuộc gọi của chúng tôi. Không ai biết chút gì cả.

Tôi nhận ra là tôi không biết ngay cả tên cha mẹ của người tôi đã thân quen lâu hơn bất kỳ ai khác, ngoại trừ tên cha mẹ của mình. Chỉ lần đó, cách đây nhiều năm, tôi giáp mặt mẹ ông ở ngoài phố. Trùng hợp ngẫu nhiên: bọn tôi đang đi tới quán bar để chúc mừng kết quả thành công của một giải thi đấu và bà đang từ rạp chiếu bóng ra. Bà chào chúng tôi từ xa rồi lập tức đi khỏi, dường như không muốn xâm phạm vào lĩnh vực không phải của bà. Tôi nghĩ mẹ tôi luôn nhận thức về môi trường dễ gây sa ngã đang bao quanh nghề nghiệp của con trai mình, thậm chí chỉ để bảo vệ con trai, bà bỏ qua hết. Cứ như bà nghĩ thì các phần ý thức tốt đẹp cần thiết đã được gìn giữ ở gia đình.

Hôm qua tôi đã kể chuyện với hai người bạn về sự biến mất của thầy tôi. Ý kiến của họ tiêu biểu cho những người ngộ nhận về những người chơi cờ: Lạy Chúa, nhưng chính có lý do mới có người biến mất như thế! Không có lý do nào cả. Ván cờ của chiến thuật và chiến lược thường không liên quan đến mức tàn nhẫn hơn suy nghĩ hợp lý. Bạn chỉ cần nhìn vào khuôn mặt của Kasparov trên YouTube...

Đối với nhiều người, cờ vua là cách duy nhất có thể cùng ngồi với những người khác. Bao trùm là khả năng mở mang bộ nhớ, tỉnh táo và cứng rắn hơn so với đối thủ, để tìm sự kết hợp và có sự kiên nhẫn sử dụng mưu mẹo một cách chính xác trong ván kết thúc khi cảm thấy giống như một trận hòa. Họ là một nhóm người rất kỳ lạ, với tất cả các loại thói quen đáng thương, bịnh giật gân, thường tự xem mình là trung tâm, tính bạo lực và những thứ làm méo mó cái nhìn về bản thân và khả năng trí tuệ của mình.

Cần ví dụ không? Khi đến Paris, bạn săn tìm chỗ nào đó ở Jardin du Luxembourg nơi những người chơi cờ tập trung về. Nó tự nhiên là một khu vực ít bận rộn nhất. Nếu bạn tỉnh táo có thể ở lại và quan sát một lúc. Bạn sẽ thấy có gã trai đeo băng quanh đầu, dù rằng gã bị đau răng dữ dội không bao giờ dứt; ba gã khác nói chuyện với nhau, vài kẻ hôi hám, thằng bé bên phải bạn không thôi ho hen, hai gã khác vừa kết thúc một ván chơi đang lời qua tiếng lại lăng mạ chủng tộc. Trò chơi của người tử tế đấy ư? Duy nhất có ông tôi, chỉ chơi cờ ở nhà.

Trước khi bạn đi khỏi, có một điều duy nhất tôi cần làm rõ: giữa toàn bộ khối người điên này có hai nhà quán quân người Pháp và một người đạt hạng tư thế giới những năm 1980. Tôi đã gặp gỡ họ vài giờ vào năm trước.

*

Ở Brazil, quang cảnh chưa bao giờ cải thiện. Khi mẹ tôi cuối cùng rồi cũng cho tôi tự do quyết định giờ giấc đi về, tôi trở thành thành viên nhóm bạn cờ của thầy tôi. Tôi trẻ nhất. Hai người mới vào đại học lớn hơn tôi không nhiều. Những người khác chừng 25 và thiếu việc làm, hoặc sống rất tồi tàn, bỏ cả chơi cờ.

Khi quay lại đó, đầu những năm 1990, trung tâm cũ của São Paulo là không gian chia sẻ giữa trẻ em đường phố (chúng hoàn toàn không giống người dùng nức tiếng như bây giờ, thời gian chỉ để dành hít keo) và những câu lạc bộ đêm xuống cấp. Câu lạc bộ cờ vua đối diện với một trong những nơi đó.

Năm mười sáu tuổi, tôi biết tài năng chơi cờ của tôi sẽ không đưa tôi đi xa. Nhưng tôi không có bạn bè ở các lĩnh vực khác nên vẫn chơi cờ tại câu lạc bộ. Cứ cuối tuần, chúng tôi chơi đến hai giờ sáng, khi đó người gác cửa đang nôn nóng về nhà đã đuổi chúng tôi ra. Khi đó chúng tôi đi tới một quán bar xa kín đáo mở cửa thâu đêm và tiếp tục chơi cờ. Chủ quán cũng là một fan của môn cờ. Hai người nhóm bên kia có thầy tôi suốt cả đêm mất tăm mất tích ở một nơi nào đó. Một bộ phận người chơi cờ phong lưu bị lối sống sa đọa nào đó thu hút.

Mặc dù tôi chưa có quan hệ tình dục tuổi trưởng thành, con đường dẫn tới quán bar vẫn quyến rũ tôi: gái mại dâm giá rẻ áp lực lên đối tượng khác giới, các con buôn và bọn côn đồ. Tôi đã chấp nhận rủi ro! Nhưng khi tôi đi cùng nhóm, họ không bao giờ quấy rầy tôi.

Vào bốn giờ sáng, cảnh sát đã quyết định bố ráp, họ có thể phạt toàn bộ quán bar: vào tuổi tôi, dù rằng tôi không uống bia rượu, không có cách gì tôi được phép vào một nơi như vậy vào thời gian đó trong đêm. Nhưng ban đêm ở São Paulo luôn luôn cho phép một điều luật tương tự: chỉ có rắc rối ở ngoại vi thành phố. Miễn là ở trung tâm, ai muốn làm gì theo ý mình thì cứ làm, tất cả chúng tôi đã chà đi chà lại làu làu. Luôn có vài cảnh sát trong những người chơi cờ, dù vậy phong cách đặc biệt trong vở kịch của họ có phần quá mạnh tay đối với tôi.

Tôi đã kiệt sức, nhưng tôi bị mắc kẹt ra ở quán bar, tự hào được đón chờ những người lớn tuổi, đối mặt với họ như một người ngang hàng qua hội đồng quản trị, và trên hết, tự hào là một phần của thế giới cờ vua. Ngay lúc hừng sáng, các chuyến tàu điện ngầm bắt đầu chạy lại, tôi sẽ về nhà. Thầy giáo của tôi chắc chắn say chúi nhủi ở một nơi nào đó.

Khi bắt đầu vào đại học, tôi sống bên ngoài São Paulo và dần dần từ bỏ cuộc sống đó. Chừng vài năm, tôi không học cờ nữa và chỉ thi đấu thất thường. Như đã viết, tôi mất liên hệ với tất cả bạn bè thời niên thiếu.

*

Khi tôi ra khỏi hội đồng quản trị, tôi đã là tiến sĩ văn học Brazil và viết bốn cuốn sách. Thời gian tôi từ nhiệm đủ để làng cờ có nhiều thay đổi. Trước kia, chúng tôi phải đợi các tờ báo xuất bản tường thuật các trận so tài giữa Karpov và Kasparov. Trong thế giới cờ vua, Cuộc Chiến Tranh Lạnh đã hết thời. Bây giờ có thể xem các trận đấu trực tuyến trong thời gian thực. Sự thống trị môn cờ vua không còn thuộc về người Nga nữa: vô địch thế giới hiện nay thuộc về một kì thủ trẻ người Na-uy.

Chính một trong những bất ngờ của số phận bắt tôi quay lại chơi cờ. Năm 2009 tôi xuất bản cuốn tiểu thuyết Sách của quan lại, và ngay sau khi ra mắt tôi thấy một phụ nữ mua nó ở cửa hàng sách của rạp chiếu phim tại São Paulo. Người đó là mẹ của thầy tôi. Tôi hỏi thăm thầy và bà cho tôi số điện thoại của thầy bởi không muốn trực tiếp trao đổi bất cứ điều gì với bạn bè chơi cờ vua của con trai bà.

Chúng tôi chỉ biết chắc một điều: bà thích đi xem phim. J. đề nghị chúng tôi đợi đến thứ bảy và mỗi người đứng canh tại lối ra vào của mỗi rạp chiếu phim. Chắc chắn nó là một kế hoạch khủng khiếp nhưng là lựa chọn duy nhất để bất thình lình chiếu bí vua.

Khi sự sàng lọc cuối cùng kết thúc, chúng tôi trao đổi tin qua điện thoại: không có gì cả. Không ai chạm mặt bà. Vào giờ đầu chúng tôi gặp nhau ở quán bar đề bàn bạc sẽ làm việc gì. Đưa lời thỉnh cầu lên Facebook? Việc này, chúng tôi cần một tấm ảnh của bà. Đặt những dấu hiệu tìm kiếm khắp thành phố? São Paulo có kích thước quá rộng, ý tưởng đó không thực hiện được. Không có cách nào sáng sủa: Thầy tôi đã biến mất và chúng tôi không có cách nào tìm được ông.

Như lẽ thông thường, chúng ta bị đánh bại bởi chính sự thật là cái mà những người chơi cờ rất ghét: cuộc sống không phải là trò chơi.

(Nguồn: http://granta. com/my-chess-teacher)  
(TCSH381/11-2020)


 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • LTS: Mario Bendetti sinh tại Paso de los Toros (Tacuarembó ) ngày 14 tháng 9 năm 1920. Ông theo học tại trường tiểu học tiếng Đức ở Montevideo và trường trung học Miranda, đã từng làm nhiều nghề như nhân viên bán hàng, tốc kí, kế toán, viên chức nhà nước và phóng viên. Từ năm 1938 đến 1941 ông sống chủ yếu ở Buenos Aires . Năm 1945, khi trở về Montevideo, ông viết bài cho tuần báo nổi tiếng Marcha, qua đó trở thành phóng viên bên cạnh Carlos Quijano và rồi trở thành một thành viên trong ê-kíp của ông này cho tới tận năm 1974 khi tuần báo ngừng xuất bản.Năm 1973, vì lí do chính trị, ông phải rời bỏ tổ quốc,bắt đầu cuộc sống lưu vong kéo dài mười hai năm ở những quốc gia: Ác-hen-ti- na và Tây Ban Nha. Quãng thời gian này đã để lại những dấu ấn vô cùng sâu sắc trong cuộc đời ông cũng như trong văn nghiệp.

  • YUKIO MISHIMA (Nhật Bản)YUKIO MISHIMA tên thật là HIRAOKA KIMITAKE (1925-1970). Sinh tại Tokyo.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Tokyo . Nhà văn, kịch tác gia, đạo diễn sân khấu và điện ảnh, diễn viên.Năm 16 tuổi đã xuất bản truyện vừa lãng mạn Khu rừng nở hoa. Tiểu thuyết Lời thú tội của chiếc mặt nạ ra năm 1949 đã khẳng định tên tuổi của nhà văn trẻ tài năng và trở thành tác phẩm được đánh giá là kinh điển của nền văn học Nhật Bản.

  • KOMASHU SAKIO (Nhật Bản)Sinh 28/1/1931 tại Osaka (Nhật Bản). Nhà văn chuyên viết truyện khoa học giả tưởng nổi tiếng của Nhật Bản.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Kyoto , chuyên ngành Văn học Italia.Từ năm 1957 là phóng viên Đài Phát thanh Osaka và viết cho một số các báo. Năm 1961 chiến thắng trong cuộc thi truyện ngắn giả tưởng xuất sắc do tạp chí "SF Magasines" tổ chức.Tác phẩm của Komatsu đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới.

  • S. MROZEK (Ba Lan)Có lần tôi bắt gặp một con chó ác bụng đang rượt đuổi một con mèo. Bởi tôi là người yêu động vật nên tôi bèn vớ ngay một cục đá to sụ quẳng vào con chó khiến nó ngã lăn quay, nằm đứ đừ một hồi lâu. Chú mèo nhỏ không nhà, con vật bé xíu nom mệt phờ râu. Không chút do dự - tôi cho nó nương nhờ. Đây quả là một con mèo đẹp mã, lông mịn màng, mắt long lanh. Tôi đem nhốt nó vào trong nhà, đoạn bỏ đi chơi bời trác táng.

  • KITA MORIO (Nhật Bản)Kita Morio (sinh năm 1927) là nhà văn thuộc thế hệ hậu chiến của Nhật Bản. Tốt nghiệp Đại học Y. Năm 1960 được trao giải thưởng mang tên Akutagawa với truyện ngắn Trong bóng tối đêm, cốt truyện xảy ra trong một bệnh viện tâm thần ở Đức thời kì Chiến Tranh Thế Giới thứ II. Nổi tiếng với các tác phẩm giả tưởng khoa học và chống chiến tranh.

  • SINCLAIR LEWISLGT: SINCLAIR LEWIS (1885 - 1951, giải thưởng Nobel 1930)Ông là tiểu thuyết gia, người viết truyện ngắn có tiếng và nhà viết phê bình có uy tín ở Mỹ.

  • BRUNO LESSINGLGT: Bruno Lessing (1870-1940) sinh tại New York, Mỹ. Tên thật của ông là Rudolp Block nhưng ông nổi tiếng với tư cách là nhà văn chuyên viết truyện ngắn dưới bút danh Bruno Lessing. Ông là phóng viên và sau đó là biên tập viên cho nhiều tờ báo. Mô tả của Lessing về cuộc sống của người Do Thái ở New York được đánh giá cao. Truyện dưới đây được dẫn dắt một cách hấp dẫn, lý thú, làm nổi bật mối quan hệ giữa hai thế hệ: cha và con, vấn đề nhập cư, đồng hóa hay giữ bản sắc văn hóa với một giọng điệu dí dỏm.

  • JUAN JOSÉ ARREOLA (Sinh 1918, Nhà văn Mêhicô)LGT: Arreola là một nhà cách tân lớn về truyện kể. Là một người tự học tài năng, ông sở đắc một nền văn hoá rộng lớn, cũng như trải qua nhiều nghề khác nhau để kiếm sống. Arreola chủ yếu sáng tác những truyện kể ngắn, cô đúc, mỉa mai, hay bí ẩn, ưa thích cái nghịch lý và ông là một trong những bậc thầy của hình thức truyện ngắn này. Ba tuyển tập truyện ngắn của ông là Varia Invencion (1049), Confabulario (1952), Confabulario Définitivo (1087).

  • KAWABATA YASUNARI LGT: KAWABATA YASUNARI (1899 - 1972) là nhà văn đầu tiên của Nhật Bản đoạt giải thưởng Nobel văn chương (1968). Ông nổi tiếng thế giới với những tiểu thuyết như: Xứ Tuyết (1935 - 1947), Ngàn cánh hạc (1949), Tiếng rền của núi (1950), Người đẹp say ngủ (1961), Cố đô (1962)...

  • MATVEEVA ANNALGT: MATVEEVA ANNA (Sinh 1975) là một nhà văn nữ trẻ của văn học Nga đương đại tài năng đầy hứa hẹn. Đã xuất bản một số tập truyện ngắn. Truyện ngắn của cô đã được đăng trong các tạp chí lớn của Nga như Thế giới mới, Tháng Mười. Văn xuôi của cô hóm hỉnh, thể hiện sự tò mò sắc sảo trước cuộc sống và con người. Tác phẩm của cô được xem như thể hiện một số sắc thái và đặc điểm của văn xuôi hậu hiện đại Nga hiện nay. Xin trân trọng giới thiệu truyện ngắn “Con chó” dưới đây của nữ văn sĩ qua bản dịch của nữ dịch giả Đào Tuấn Ảnh.

  • YVELINE FÉRAYLTS: Monsieur le paresseux là cuốn tiểu thuyết lịch sử dày gần 300 trang của nữ văn sỹ Pháp Yveline Féray viết về Đại danh y Việt Nam Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, do Nhà xuất bản Robert Laffont ở Paris ấn hành năm 2000. Trước đó, năm 1989 nữ văn sỹ này đã cho xuất bản ở Pháp cuốn tiểu thuyết dày 1000 trang Dix mille printemps, viết về Nguyễn Trãi - nhà chính trị, quân sự lỗi lạc; nhà thơ lớn của Việt Nam ở thế kỷ XV.

  • MARSEL SALIMOV (LB NGA)Đất nước ta quá giàu! Vì thế tôi nảy ra ý định muốn cuỗm một thứ gì đó. Những tên kẻ cắp ngày nay chả giống như trước đây. Chúng không thèm để mắt đến những thứ lặt vặt. Cả một đoàn tàu bỗng dưng biến mất tăm! Những nhà máy không thể di dời được, thế nhưng người ta lại nghĩ ra kế chiếm đoạt chúng. Nghe đồn nay mai người ta sẽ bắt đầu chia chác cả đất lẫn nước!

  • AKILE CAMPANILE(Nhà văn Italia)LTS: Số Tết này, TCSH chọn một truyện ngắn hài hước của một nhà văn Ý, có nhan đề “Ngón nghề kinh doanh”, qua bản dịch của dịch giả nổi tiếng Lê Sơn, để bạn đọc có dịp thư giãn trong dịp đầu Xuân.

  • HERMANN HESSE Tương truyền thi nhân người Tàu tên Han Fook thuở thiếu thời chỉ thao thức với một khát khao kỳ diệu là muốn học hết mọi điều và tự rèn luyện mình đến hoàn hảo trong tất cả các môn liên quan đến nghệ thuật thi ca.

  • OLGA TOKARCZUK (Nữ nhà văn Ba Lan)LGT: Nữ văn sĩ Ba Lan Olga Tokarczuk sinh năm 1962 tại Sulechow, Ba Lan. Bà là nhà văn “hậu hiện đại” và “nữ quyền”. Năm 1979  những truyện ngắn đầu tay của bà được đăng tải trên Tạp chí Thanh niên, năm 1989 những bài thơ đầu tay được in trong các tạp chí “Rađa” và “Đời sống văn học”.

  • NADINE GORDIMER ( Phi), Giải Nobel 1991LGT: Nữ văn sĩ Nadine Gordimer sinh năm 1923 tại Phi. Bà cho in truyện ngắn đầu tay năm 15 tuổi và tiếp tục nghề văn khi còn là sinh viên Đại học Wirwatersrand. Có thời kỳ sách của bà bị chế độ phân biệt chủng tộc Phi cấm đoán. N.Gordimer được trao tặng nhiều giải thưởng văn học, trong đó có giải Nobel văn chương năm 1991.

  • OLGA TOKARCZUKLGT: Trong số tháng 3 – 2007 (217), Sông Hương đã giới thiệu tới bạn đọc truyện ngắn “Người đàn bà xấu nhất hành tinh” của OLGA TOKARCZUK, một nữ văn sĩ thuộc dòng văn học nữ “hậu hiện đại Ba Lan”. Số báo này, Sông Hương xin giới thiệu tiếp truyện ngắn “Vũ nữ”. Đây là một truyện ngắn độc đáo dựa trên một leimotic “cuộc đối thoại vô hình” giữa người con gái và người cha, láy đi láy lại đến 6 lần, thể hiện cuộc chiến đấu âm thầm dữ dội, tự khẳng định mình trong nghệ thuật, chống lại sức mạnh ám ảnh của mặc cảm “bất tài”.

  • BERNARD MALAMUDLGT: Bernard Malamud sinh năm 1914 tại Brooklyn, New York, lớn lên trong thời kỳ Đại Khủng hoảng Kinh tế, là người Nga gốc Do Thái trong một gia đình bán tạp hoá. Ông đã xuất bản nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn và được nhận nhiều giải thưởng văn học.

  • RADOI RALIN (Bungari)LGT: Đây là một truyện có ý vị sâu xa với các môtíp sự cám dỗ của quyền lực, “sự đồng loã ngây thơ” với tội ác, sự tự nhận thức và tự trừng phạt. Nhưng trên hết là sự vạch trần và tố cáo sự bịp bợm quỷ kế của giới quyền lực. Đây là một truyện ngụ ngôn mới đặc sắc. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.

  • ZACE HAMMERTON (Anh quốc)LGT: Truyện dựng chân dung của một kẻ “Sính khiếu nại” “một cách hài hước, bố của John Peters có “Thú đam mê sưu tập tem”. Cách dẫn chuyện tài tình ở cái chi tiết sự ham mê của anh với một loại tem đặc biệt không đục lỗ chiếu ứng với cái kết bất ngờ của truyện “Có của rơi vào tay mà để vuột mất”. Mời bạn đọc thưởng thức.