Văn chương như cuộc thể nghiệm với ngôn từ, những thứ nhức nhối mà cuốn hút

08:06 24/01/2017

TRẦN BĂNG KHUÊ

Với văn chương, tôi không biết phải nói về nó như thế nào, về việc bén duyên, hay hoàn cảnh thôi thúc tôi đến với nó. Những ý niệm này, có đôi lần tôi đã lẩn thẩn nghĩ đến, thỉnh thoảng băn khoăn một chút, rồi thì mọi sự dường như diễn tiến theo một cách nào đó tôi cũng không nắm bắt được nữa. Tự nhiên nhi nhiên vậy.

Tôi chỉ biết mình đã từng từ bỏ, chạy trốn với câu chuyện của chữ nghĩa trong những giới hạn về việc hiểu và tầm đón nhận. Nhưng, rõ ràng tôi, hoặc không hẳn là tôi trong những hoàn cảnh đã diễn tiến từ kí ức, quá khứ, từ những trải nghiệm, những thứ tôi gọi là một cơn đau ẩn nghiệm của chính tôi, hoặc xung quanh tôi, về cuộc đời, về con người, về phận kiếp nhân sinh trong vũ trụ này khiến tôi cần, muốn và “nhờ vả” đến ngôn ngữ để được thể hiện sự tồn tại của bản thân, để va đập và sống với đầy đủ mọi nghiệm sinh trọn vẹn nhất mà bản ngã tôi được trao gửi. Tôi có cảm giác, cũng giống như bao nhân vị khác, khi mình được trao ban một ơn huệ, mà tôi cứ đinh ninh rằng, như là thiên tính vậy, mình phải sống đến tận cùng mọi hơi thở của nó, đau đáu, thiết tha, có lúc hoang hoải và có lúc muốn ngồi khóc, nhưng bao giờ cũng lấp lánh hi vọng, cái nhiệt huyết khấp khởi và tràn đầy. Một tồn tại có hi vọng là một tồn tại mà tôi cho là có nghĩa. Tôi sẽ không bàn chuyện tôi đến với văn chương như một kiểu bén duyên, hay hoàn cảnh đưa dẫn. Với tôi, chỉ đơn giản, khi đã nắm bắt được sự đặc biệt từ câu chuyện chữ nghĩa, tôi nghĩ, tôi đã được trao ban cho một sứ mệnh làm người, làm một nhân vị tồn tại đủ đầy cả hai bản thể hoàn hảo của tạo hóa bằng việc thể nghiệm với ngôn từ.

Tôi cảm thấy may mắn, vì rõ ràng, tôi chẳng phải chạy trốn nó, mà ngược lại, khi tắm mình vào nó, tôi thấy như tôi đang tắm mình vào cuộc đời, và cuộc đời tôi như được nhân lên nhiều lần trong cuộc đời của những thân phận khác. Tôi không còn hãi sợ. Tất nhiên, có khi, chính những trải nghiệm ấy có thể khổ đau chút ít, cô đơn chút ít theo cách nghĩ của người đời, nhưng với riêng tôi, nó hoàn toàn khác. Tôi như độc hành mà tràn đầy, như lữ thứ mà hạnh phúc vạn nẻo, bởi đó là cảm giác chiếm hữu chính bản thân mình mà tôi muốn, hoặc chiếm hữu lấy đời sống của kẻ khác, chiếm hữu vũ trụ và hiểu rõ hơn nữa về bản thể của con người. Như một kiểu đi du lịch ấy, trong một cuộc chơi kĩ nghệ cũng nhiêu khê công phu lắm, như phiêu lưu, khám phá, hay khuấy động những thứ còn ẩn giấu rất sâu trong thế giới kì lạ này, những thứ nhức nhối mà cuốn hút.

Tôi nghĩ, văn chương ở ngữ nghĩa khác trước hết là cũng trải nghiệm cá nhân, là nhu cầu nội tại được thể hiện, được nói. Với tư cách là một người cầm bút, tôi cho rằng khi nào con người ta còn muốn làm một cây sậy biết trăn trở, văn chương còn là một sân chơi mà bản thân mỗi chúng tôi đều không muốn làm cầu thủ dự bị, dù mang căn tính Việt hay bất kì màu da sắc tộc nào. Thử nhìn xem văn chương thế giới đã đi một con đường rất dài, rất rộng, và vượt trội về tất cả mọi phương diện, nhất là tầm tư tưởng. Nhưng, trong quá trình hội nhập và mở rộng biên độ giao lưu văn hóa ngôn ngữ, nhờ thế, văn chương đương đại Việt cũng được dự phần kết nối mạnh mẽ với nền văn chương đương đại thế giới, và bắt đầu đạt được một số thành tựu cụ thể qua các giải thưởng văn học quốc tế.

Tôi chỉ là một người cầm bút, thích được lặng lẽ trong góc nhỏ nào đấy, nơi mình được thỏa sức và tung chí. Tôi nghĩ nhiều người cầm bút khác cũng có ước muốn tương tự. Đôi khi ta nói về văn chương và gán nhãn dân tộc tính hay ranh giới địa lý, vô hình chung chúng ta tự đặt mình ra khỏi dòng chảy của văn chương. Cái tôi muốn nói là giới hạn về ngôn ngữ. Song, chúng ta đều thấy, rất nhiều dịch phẩm văn chương thế giới đã có bản Việt ngữ. Tôi thấy nhiều nhà văn Việt có tài, một số tác phẩm khiến tôi mê mải, nhưng dường như vẫn chưa vươn ra được ngoài ranh giới của tiếng Việt, hẳn là do ngôn ngữ hay chuyện dịch thuật và xuất bản.

*

Bản thân tôi khởi đầu bằng những sáng tác truyện ngắn, đây là một thể loại mà tôi lấy làm thích thú. Tôi vẫn đau đáu với những thử sức dài hơi hơn, nơi tôi được tung hoành ngang dọc. Song, chính trong sự ngắn gọn và eo hẹp của câu chữ, truyện ngắn như một thể loại mà sự nín nhịn của nhà văn được đẩy lên cao trào, và thường bùng nổ vào những chữ, những chấm phẩy sau cuối. Như món mầm đá mà người đọc phải chấp nhận chờ đợi để rồi được hân hoan tận cùng, hoang hoải tận cùng hoặc đau đáu tận cùng với nhân vật với người viết và với những hiện sinh của riêng tư độc giả.

Truyện ngắn là một thể loại tưởng dễ nằm lòng, nhưng thực ra sức đẩy và đàn hồi của nó khiến người viết luôn phải đau đáu tìm cho ra được một cách thể hiện uyển chuyển, kết hợp giữa ý tưởng, tình tiết và chuyện dụng ngôn. Tôi nghĩ, có nhà văn khởi nghiệp bằng truyện ngắn và kết nghiệp cùng với nó. Có những nhà văn xuất sắc coi truyện ngắn như ngòi nổ và những thể loại dài hơi, tiểu thuyết chẳng hạn, là phát đại bác. Tôi cứ có cảm giác, sức công phá của một ngòi nổ đôi khi còn rắn rỏi và bùng cháy hơn cả một phát đại bác, nếu như nó gợi mở được sự đồng điệu của người đọc, như những số phận gặp số phận vậy. Bản thân tôi vẫn muốn tiếp tục làm được một cái gì đấy cùng truyện ngắn. Xét đến cùng, truyện có thể ngắn nhưng số phận nhân vật và kiếp tồn sinh vẫn có thể dài. Câu chữ có thể gọn lỏn nhưng những ý vị của nó, sự gợi mở của nó vẫn có thể không cùng. Tất nhiên, trong sự chồng chéo và đan cài của rất nhiều những trải nghiệm văn chương, như một tiên nghiệm vậy, tôi vẫn muốn tìm cho ra một lối đi, một cách thể hiện riêng. Nhưng đôi khi tôi nghĩ, cách tôi thể hiện riêng có thực sự là độc đáo, hay những ý niệm về thân phận con người mới là cái người viết muốn gửi gắm. Tôi muốn những đứa con tinh thần của mình như những củ hành vậy, để người đọc tự bóc tách những lớp ý vị nào đấy mà bản thân tôi cũng không dự phóng. Tôi sẽ rất hạnh phúc với điều ấy, vì tôi tin rằng, tác phẩm không bao giờ là hoàn kết khi chúng ta thông diễn với tư cách độc giả.

Tôi, thực tình, vẫn chỉ là một người viết mới bắt đầu, và đang chập chững leo lên từng nấc bậc thang của sự sáng tạo. Vậy nên, trò chơi tôi đang chơi vẫn là trò chơi lúc còn khai vị. Tôi cũng muốn định hình một phong cách. Người cầm bút nào cũng khao khát có được một cái riêng, cái tôi không ai sánh. Tôi chưa đủ trải nghiệm, hoặc thành tựu để có thể tự nhận mình là một người viết chuyên nghiệp, nhưng ít ra, tôi cảm thấy mình đã và đang định hình được con đường mà tôi theo đuổi khá rõ ràng.

Thỉnh thoảng, tôi lại có cảm giác lười nhác với những chuyện đẽo gọt hay nhuận sắc, kiểu kĩ nghệ gia công quá mức. Có điều, tôi biết, những gì tôi đang viết, những gì tôi đang thể nghiệm, từ bút pháp đến đề tài, đều mang ý hướng dẫn đưa tôi tới việc vươn lên, với một cách thế không giới hạn. Thiết nghĩ, chắc hẳn, không một người viết nào có thể tách rời chính sự hiện hữu của mình với thế giới này, với những hình hài cụ thể của một cuộc hiện sinh đủ đầy cung bậc đang tồn tại ngay xung quanh họ. Riêng cá nhân tôi, lúc này, cùng với sự đổi thay của thế giới vật chất cũng như tinh thần của con người, tôi biết, thử thách lớn nhất đối với công việc mà tôi đang theo đuổi, đó không chỉ là một trào lưu, một xu hướng, mà tôi đánh giá cao sự nhận thức về tầm tư tưởng. Bởi nếu không có tư tưởng, tác phẩm văn chương chỉ là một cuộc dạo chơi nhạt nhẽo, chắp nối, không có chiều sâu. Tất nhiên, với riêng thể loại truyện ngắn nói riêng và văn chương nói chung, tôi nghĩ, nó vẫn phải là chuyện trò chơi, chuyện giải trí. Nhưng sau rốt, nó thắp lên trong lòng người ta một ý niệm nào đấy. Và người ta nhớ được một tay cầm bút cụ thể, là ở ý tưởng và cũng còn ở cách thể hiện. Tôi nghĩ rằng phong cách của tôi là chưa hoàn kết. Nhà văn Lê Anh Hoài đã từng nhận xét và đọc vị về một truyện ngắn của tôi như sau: “Kiểu hành văn theo tư duy liên hệ mờ này nảy sinh khá nhiều liên tưởng thú vị và có thể cũng gây khó chịu với những người đọc quen lối nghĩ văn chương phải là những diễn giải rõ ràng”. Tôi nghĩ, người cầm bút diễn giải thế giới. Và mỗi người là một sắc một hương. Tôi chỉ mong mình làm một loài hoa không cần quá đẹp, nhưng có chút ý vị hay mùi hương gì đấy riêng biệt có thể khiến người ta nhớ đến.

*

Trong xu thế văn học hiện nay, cá nhân tôi nhận thấy, người viết, [nhất là, những người viết trẻ hiện nay], đã thực sự tiếp nhận, tiếp cận rất tinh nhạy về mọi mặt và có sự thay đổi rất lớn trong lối viết cũng như việc đón nhận tư tưởng, dự phóng cho một nguồn năng lượng dồi dào để luôn vươn về phía trước. Họ đã biết cách mở rộng biên độ thể nghiệm từ bút pháp đến đề tài, cũng như mạnh dạn bứt phá, thể nghiệm bản ngã, hòa nhập vào dòng chảy của cuộc sống hiện đại, của lịch sử, thông qua tác phẩm của mình.

Dĩ nhiên không phải tất cả, nhưng, trong số những tác giả trẻ hiện nay mà tôi biết, tôi dõi theo và có hứng thú luôn là những tác giả tự chọn con đường đi riêng biệt, khá trái chiều so với dòng chảy chung, thì lại tràn đầy nội lực. Tôi cảm thấy họ có thể đi được đường dài, họ đã/đang tiếp tục theo đuổi niềm đam mê sáng tạo đẹp đẽ đó với tất cả sức lực của mình.

Tôi những mong bản thân và những người cầm bút giữ được niềm hăng say ấy. Vì xét đến cùng, con đường của người cầm bút là con đường của hân hoan và cả tuyệt vọng, của cô đơn sáng tạo. Đôi khi, cơm áo vẫn khiến người trẻ phải tạm gác lại những hoài vọng chữ nghĩa để vun vén. Tôi, tuy thế, vẫn tin rằng, một khi người cầm bút có đam mê, có khao khát sống thêm những cuộc đời nhiều hơn một cuộc đời khác nữa, sẽ luôn đau đáu với thân phận con người, hẳn anh ta không thể dễ dàng phủi tay rời bỏ cuộc chơi được. Có cái gì đó như định mệnh.

Và với những người trẻ, vấn đề thần tượng văn chương, nói ngắn gọn, tôi không muốn thần tượng bất cứ ai, nhưng hẳn nhiên trong quá trình đọc và viết tôi vẫn phải tìm cảm hứng từ một vài tác giả nào đó mà tôi thích, có thể tôi sẽ học hỏi ở họ một vài thứ mà tôi thấy độc đáo, đặc biệt. Nhưng, có khi, tôi nghĩ, những người thầy của tôi lại chẳng ở đâu xa, họ ở chính ngay trong cuộc sống đời thường của tôi, từ những người bạn mà tôi có duyên được quen biết gặp gỡ, trải nghiệm và chia sẻ với họ về việc sáng tạo, về việc cảm nhận sự sáng tạo ở các thể loại khác nhau không chỉ là văn chương. Nếu có thể đưa ra một vài lựa chọn riêng về tác phẩm, tác giả mà tôi cảm thấy hứng thú. Chẳng hạn, đối với nền văn học đương đại hiện nay. Bởi vì cảm nhận thì mang tính nhất thời, có thể giai đoạn đó, tôi đọc tác phẩm đó, và tôi thấy thích nó, nhưng, chẳng hạn ở một giai đoạn khác, khi cảm quan và tâm thế tiếp nhận của tôi đã thay đổi, tôi có thể sẽ không thích tác phẩm đó nữa. Dĩ nhiên, một tác phẩm có thể để lại ấn tượng lâu dài thì hẳn là tác phẩm ấy phải gây cho tôi ấn tượng mạnh về ý niệm, về khả năng sáng tạo, bút pháp của tác giả, quan trọng nhất là nó có mang tầm tư tưởng đột phá mới mẻ hay không.

Ở đây, tôi sẽ không đề cập chi tiết tác phẩm mà mình yêu thích nhất, vì tôi… thích rất nhiều. Những tác phẩm khiến tôi thấy mình được trải nghiệm người thêm một kiếp sống khác, kể cả những tác phẩm thuần túy giải trí như của Dan Brown, những tác phẩm mang đậm triết thuyết, dù là bản thể luận hay nhận thức luận, như của Camus hay Sartre… đều khiến tôi thấy thích thú. Nhưng, chốt lại, tôi vẫn thích những tác phẩm văn chương mang tính phá cách, có chiều sâu về tư tưởng, triết thuyết. Đôi khi, đơn giản hơn, chỉ là sự thoáng qua về tiêu đề của một trước tác nào đấy mình có biết, hoặc đã đọc cũng đủ để lại ấn tượng, “Đời nhẹ khôn kham” hay “Buồn nôn” chẳng hạn. Cái giai điệu mà chẳng có âm thanh nào của nó cứ khiến mình nhức nhối và trở trăn. Những lúc ấy, với tư cách là một độc giả, tôi càng thấy trân trọng công việc của một người bếp núc chữ nghĩa.

T.B.K
(TCSH335/01-2017)





 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • INRASARA (Tiếp theo Sông Hương số 245 tháng 7-2009)

  • HÀ VĂN THỊNH Những cái tên - có lẽ không giản đơn như cách nói của người Nga - " Người ta gọi tôi là...”  Ở đây, lớp vỏ của ngôn từ chỉ diễn tả một khái niệm mù mờ nhất của một lượng thông tin ít nhất.Trong khi đó, có bao giờ ta nghĩ rằng một cái tên, không ít khi hàm chứa thật nhiều điều - thậm chí nó cho phép người khác biết khá rõ về tính cách, khả năng và ngay cả một phần của số phận của kiếp người?

  • HÀ VĂN LƯỠNG1. Ivan Bunhin (1870-1953) là một nhà văn xuôi Nga nổi tiếng của thế kỷ XX. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của ông trải qua những bước thăng trầm gắn với nhiều biến động dữ dội mang tính chất thời đại của nước Nga vào những năm cuối thế kỷ XIX và mấy chục năm đầu thế kỷ XX.

  • LÊ THÀNH NGHỊCâu hỏi “ta là ai?”, “ta vì ai” nổi tiếng của Chế Lan Viên tưởng đã tìm ra câu trả lời có chứa hạt nhân hợp lý của thời đại trong thơ chống Mỹ đã không còn đủ sức ôm chứa trong thời kì mới, khi nhu cầu xã hội và cá nhân đã làm thức tỉnh cái tôi trữ tình của người làm thơ. Nhu cầu xã hội thường là những gì bức thiết nhất của thực tại, do thực tại yêu cầu. Chẳng hạn, thời chống Mỹ đó là độc lập tự do của dân tộc. Tất cả những hoạt động tinh thần, trong đó có sáng tác thơ văn, nếu nằm ngoài “sự bức thiết thường nhật” này không phù hợp, không được đón nhận... và vì thế không thể phát triển. Kể từ sau năm 1975, đặc biệt là sau 1986, với chủ trương đổi mới, trong xã hội ta, nhu cầu bức thiết nhất, theo chúng tôi là khát vọng dân chủ.

  • LÝ TOÀN THẮNG“Văn xuôi về một vùng thơ” là một thể nghiệm thành công của Chế Lan Viên trong “Ánh sáng và phù sa”, về lối thơ tự do, mở rộng từ thấp lên cao - từ đơn vị cấu thành nhỏ nhất là Bước thơ, đến Câu thơ, rồi Đoạn thơ, và cuối cùng là cả Bài thơ.

  • INRASARA1. Đó là thế hệ thơ có một định phận kì lạ. Người ta vội đặt cho nó cái tên: thế hệ gạch nối, thế hệ đệm. Và bao nhiêu hạn từ phái sinh nhợt nhạt khác.Đất nước mở cửa, đổi mới, khi văn nghệ được cởi trói, nhà thơ thế hệ mới làm gì để khởi sự cuộc viết? Cụ thể hơn, họ viết thế nào?

  • VÕ VĨNH KHUYẾN Tiểu luận nhằm tìm hiểu thành tựu thơ ca trong khoảng 16 tháng giữa 2 cột mốc lịch sử (19.8.1945 - 19.12.1946). Bởi khi phân chia giai đoạn văn học nói chung (thơ ca nói riêng) trong tiến trình lịch sử văn học, các công trình nghiên cứu, các giáo trình ở bậc Đại học - Cao đẳng và sách giáo khoa trung học phổ thông hiện hành, không đặt vấn đề nghiên cứu thơ ca (cũng như văn học) nói riêng trong thời gian này. Với một tiêu đề chung "Văn học kháng chiến chống Pháp 1946 - 1954". Đây là nguyên do nhiều sinh viên không biết đến một bộ phận văn học, trong những năm đầu sau cách mạng.

  • HỒ THẾ HÀ1. Diễn đàn thơ được tổ chức trên đất Huế lần này gắn với chương trình hoạt động của lễ hội Festival lần thứ 3, tự nó đã thông tin với chúng ta một nội dung, tính chất và ý nghĩa riêng. Đây thực sự là ngày hội của thơ ca. Đã là ngày hội thì có nhiều người tham gia và tham dự; có diễn giả và thính giả; có nhiều tiếng nói, nhiều tấm lòng, nhiều quan niệm trên tinh thần dân chủ, lấy việc coi trọng cái hay, cái đẹp, cái giá trị của nghệ thuật làm tiêu chí thưởng thức, trao đổi và tranh luận. Chính điều đó sẽ làm cho không khí ngày hội thơ - Festival thơ sẽ đông vui, phong phú, dân chủ và có nhiều hoà âm đồng vọng mang tính học thuật và mỹ học mới mẻ như P.Valéry đã từng nói: Thơ là ngày hội của lý trí (La poésie est une fête de l'intellect).

  • THẠCH QUỲThơ đi với loài người từ thủa hồng hoang đến nay, bỗng dưng ở thời chúng ta nứt nẩy ra một cây hỏi kỳ dị là thơ tồn tại hay không tồn tại? Không phải là sự sống đánh mất thơ mà là sự cùn mòn của 5 giác quan nhận thức, 6 giác quan cảm nhận sự sống đang dần dà đánh mất nó. Như rừng hết cây, như suối cạn nước, hồn người đối diện với sự cạn kiệt của chính nó do đó nó phải đối diện với thơ.

  • NGUYỄN VĨNH NGUYÊNNhững năm gần đây, người ta tranh luận, ồn ào, khua chiêng gõ mõ về việc làm mới văn chương. Nhất là trong thơ. Nhưng cái mới đâu chẳng thấy, chỉ thấy sau những cuộc tranh luận toé lửa rốt cục vẫn là: hãy đợi đấy, lúc nào đó, sẽ... cãi tiếp...

  • TRẦN VĂN LÝAi sản xuất lốp cứ sản xuất lốp. Ai làm vỏ cứ làm vỏ. Ai làm gầm cứ làm gầm. Nơi nào sản xuất máy cứ sản xuất máy. Xong tất cả được chở đến một nơi để lắp ráp thành chiếc ô tô. Sự chuyên môn hoá đó trong dây chuyền sản xuất ở châu Âu thế kỷ trước (thế kỷ 20) đã khiến cho nhiều người mơ tưởng rằng: Có thể "sản xuất" được thơ và sự "mơ tưởng" ấy vẫn mãi mãi chỉ là mơ tưởng mà thôi!

  • HOÀNG VŨ THUẬTChúng ta đã có nhiều công trình, trang viết đánh giá nhận định thơ miền Trung ngót thế kỷ qua, một vùng thơ gắn với sinh mệnh một vùng đất mà dấu ấn lịch sử luôn bùng nổ những sự kiện bất ngờ. Một vùng đất đẫm máu và nước mắt, hằn lên vầng trán con người nếp nhăn của nỗi lo toan chạy dọc thế kỷ. Thơ nảy sinh từ đó.

  • BÙI QUANG TUYẾNThơ mới là một hiện tượng nổi bật của văn học Việt Nam nói chung và thơ ca nói riêng trong thế kỷ XX. Nó vừa ra đời đã nhanh chóng khẳng định vị trí xứng dáng trong nền văn học dân tộc với các "hoàng tử thơ": Thế Lữ , Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử v.v... Đồng thời, Thơ mới là một hiện tượng thơ ca gây rất nhiều ý kiến khác nhau trong giới phê bình, nghiên cứu và độc giả theo từng thời kỳ lịch sử xã hội, cho đến bây giờ việc đánh giá vẫn còn đặt ra sôi nổi. Với phạm vi bài viết này, chúng tôi điểm lại những khái niệm về Thơ mới và sự đổi mới nghệ thuật thơ của các bậc thầy đi trước và tìm câu trả lời cho là hợp lý trong bao nhiêu ý kiến trái ngược nhau.

  • MẠNH LÊ Thơ ca hiện đại Việt Nam thế kỷ XX đã thu được những thành tựu to lớn đóng góp vào sự phát triển của lịch sử thơ ca dân tộc. Đặc biệt từ ngay sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời thay thế chế độ phong kiến thực dân hơn trăm năm đô hộ nước ta cùng với khí thế cách mạng kháng chiến cứu nước theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh tháng 12 năm 1946 đã thổi vào đời sống văn học một luồng sinh khí mới để từ đó thơ ca hiện đại Việt Nam mang một âm hưởng mới, một màu sắc mới.

  • NGUYỄN KHẮC THẠCHNếu gọi Huế Thơ với tư cách đối tượng thẩm mĩ thì chủ thể thẩm mĩ của nó trước hết và sau cùng vẫn là sự hoá sinh Thơ Huế. Đương nhiên, không hẳn chỉ có Thơ Huế mới là chủ thể thẩm mĩ của Huế Thơ và cũng đương nhiên không hẳn chỉ có Huế Thơ mới là đối tượng thẩm mĩ của Thơ Huế. Huế Thơ và Thơ Huế vẫn là hai phạm trù độc lập trong chừng mực nào đó và có khi cả hai đều trở thành đối tượng thẩm mĩ của một đối tượng khác.

  • ĐỖ LAI THÚYThanh sơn tự tiếu đầu tương hạc                                  Nguyễn KhuyếnNói đến Dương Khuê là nói đến hát nói. Và nói đến hát nói, thì Hồng Hồng, Tuyết Tuyết làm tôi thích hơn cả. Đấy không chỉ là một mẫu mực của thể loại, mà còn làm một không gian thẩm mỹ nhiều chiều đủ cho những phiêu lưu của cái đọc.

  • NGUYỄN NGỌC THIỆNHải Triều tên thật là Nguyễn Khoa Văn, sinh năm 1908 trong một gia đình Nho học, khoa bảng. Năm 20 tuổi, trở thành đảng viên trẻ của Tân Việt cách mạng Đảng, Nguyễn Khoa Văn bắt đầu cầm bút viết báo với bút danh Nam Xích Tử (Chàng trai đỏ). Điều này đã khiến trong lần gặp gỡ đầu tiên, người trai có "thân hình bé nhỏ và cử chỉ nhanh nhẹn theo kiểu chim chích" (1) ấy đã gây được cảm tình nồng hậu của Trần Huy Liệu- chủ nhiệm Nam Cường thư xã, người bạn cùng trang lứa tuy vừa mới quen biết, nhưng đã chung chí hướng tìm đường giải phóng cho dân tộc, tự do cho đất nước.

  • TÔ VĨNH HÀ Huế đang trở lạnh với "mưa vẫn mưa bay" giăng mờ như hư ảo những gương mặt người xuôi ngược trên con đường tôi đi. Tôi giật mình vì một tà áo trắng vừa trôi qua. Dáng đi êm nhẹ với cánh dù mỏng manh như hơi nghiêng xuống cùng nỗi cô đơn. Những nhọc nhằn của tuổi mơ chưa đến nỗi làm bờ vai trĩu mệt nhưng cũng đủ tạo nên một "giọt chiều trên lá(1), cam chịu và chờ đợi nỗi niềm nào đó hiu hắt như những hạt mưa...

  • NGUYỄN HỒNG DŨNG1. Một cuộc đời lặng lẽ và những truyện ngắn nổi danhO' Henry, tên thật là William Sydney Porter, được đánh giá là người viết truyện ngắn xuất sắc nhất của nước Mỹ những năm đầu thế kỷ XX. Ông sinh tại Greenboro, tiểu bang North Carolina vào năm 1862. Năm 15 tuổi (1877), ông thôi học và vào làm việc trong một hiệu thuốc tây. Vào tuổi hai mươi, ông bị đau nặng và sức khoẻ sa sút nên đã đến dưỡng sức ở một nông trại tại tiểu bang Texas. Ông đã sống ở đấy hai năm, đã làm quen với nhiều người và hiểu rất rõ tính cách miền Tây. Sau này, ông đã kể về họ rất sinh động trong tập truyện ngắn có tựa đề đầy xúc cảm Trái tim miền Tây.

  • MAI KHẮC ỨNGCó thể sau khi dẹp được loạn 12 sứ quân, Đinh Tiên Hoàng (968- 979) thống nhất lãnh thổ và lên ngôi hoàng đế, đã đặt được cơ sở ban đầu và xác định chủ quyền Đại Cồ Việt lên tận miền biên cương Tây Bắc vốn là địa bàn chịu ảnh hưởng Kiểu Công Hãn. Trên cơ sở 10 đạo thời Đinh nhà vua Lý Thái Tổ (1010- 1028) mới đổi thành 24 phủ, lộ. Nguyễn Trãi viết Dư địa chí (thế kỷ XV) vẫn giữ nguyên tên gọi đạo Lâm Tây. Tức vùng Tây- Bắc ngày nay.