Vài điều về loại ngũ tự nhạc và cung trung nhạc

17:21 11/08/2008
DƯƠNG BÍCH HÀ1 NGŨ TỰ NHẠCDưới triều Nguyễn, Ngũ tự nhạc không chỉ ra chính xác tính chất của một loại nhạc như tên gọi của nó. Chính Gs. Trần Văn Khê cũng nói là đã mượn từ ngũ tự đã được dùng ở thế kỷ XV để chỉ loại nhạc tế lễ khác với Giao nhạc. Theo ông, Ngũ tự nhạc là nhạc trong tế xã tắc, mỗi năm hai lần, xuân thu nhị kỳ; tế Tiên nông, một năm một lần vào mùa hạ.

Theo một số nhà nghiên cứu gần đây, thì Ngũ tự nhạc dùng trong tế Ngũ tự, là 5 dịp cúng tế ở miếu Đô Thành hoàng mỗi năm 2 lần, xuân và thu), Đàn Xã tắc (mỗi năm 2 lần, xuân và thu), và đàn Tiên nông ( mỗi năm một lần vào mùa hạ. Tất cả có 5 lần tế ở các miếu này trong một năm, nên gọi là ngũ tự. (1)
Tuy vậy, tế Ngũ tự dưới triều Nguyễn thực chất là những cuộc tế lễ nông nghiệp ở đàn Xã tắc,(2) mà nghi lễ hàng đầu là nghi lễ cày ruộng Tịch điền. Lễ này có tử thời cổ đại ở Trung Hoa, mang ý nghĩa khuyến nông. khuyến khích dân chúng chăm lo việc cày cấy. Theo J. Lan. (3) ở Trung Hoa từ cổ đại, các triều đại đều có làm lễ Tịch điền một cách trang nghiêm. Trong lễ này, nhà vua phải xuống ruộng tịch điền tự tay cày 3 luống, các đại quan cày 9 luống. "Ở An Nam, lễ Tịch điền lần đầu diễn ra dưới triều Lê Đại Hành (950 -1005 )... tổ chúc rất long trọng dưới thời Lý (1009 - 1225), bị xao lãng dưới thời Trần (1225 - 1413), đã mất hẳn dưới thời Lê chỉ còn một lễ tế thần ngũ cốc. Vào thời kỳ Hồng Đúc (1470 - 1497), Hoàng đế Thái Tôn trực tiếp tế lễ và ra lệnh cho toàn dân phải đến cày... Dưới triều đại Nguyễn, niên hiệu Minh Mạng, Hoàng đế ra chiếu dụ:... Lễ trọng thể các Hoàng đế cày 3 luống ghi trong sử sách, cho ta thấy tầm quan trọng, sự ích lợi. Trong vương quốc âm nhạc nam, các Hoàng đế nhà Trần và nhà Lê có vài lần làm lễ long trọng nhưng vẫn còn lơ là. Từ khi Trẫm lên ngôi, luôn luôn nghĩ đến an dân, nên quan tâm đến việc chính này"... Vua định ngày lễ Tịch điền tháng 2... và phải xây tại ruộng Tịch điền các dinh thự là Quan Canh (nhìn cày), Cụ phục (mặc áo), đàn Tiên Nông, kho lúa dự trữ để cúng thờ (thần Thương)...
Theo tài liệu Sơ lược âm nhạc truyền thống Việt Nam, Gs. Trần Văn Khê cho biết trong tế Xã tắc có mặt cả 3 dàn nhạc: nhạc huyền, nhã nhạc và cổ xúy đại nhạc. Nhạc Huyền chỉ để trưng bày. Nhã nhạc tấu lúc mở đầu lễ giữa lễ Sơ hiến và Á hiến; giữa lễ Chung hiến và Triệt soạn (hạ cỗ). Đại nhạc tấu sau lễ Nghinh thần, trước lễ Triệt soạn và khi vua lên xa giá về cung.
Đại Nam Hội điển Sử lệ quyển 69 và 99 có ghi chép bài bản tấu tế đàn Xã tắc trước năm 1835, là Nhạc chương mang chữ Phong, gồm 7 chi chương:
Diên phong (trong lễ Nghinh thần)
Tuy phong (lễ hiến ngọc bạch và Sơ hiến)
Tú phong (lễ Á hiến).
Mậu phong
(lễ Chung hiến)
Hòa phong
(lễ Triệt soạn)
Dự phong (lễ Tống thần)
Khanh phong
(lễ tất).
Bát dật múa trong lễ Sơ hiến, múa Văn trong lễ Á hiến và Chung hiến.
Tập san B.A.V.H 4 (tập 6 - 1919B) và Những Đại lễ và Vũ khúc của Vua chúa Việt Nam mô tả một cuộc lễ Tịch Điền dưới thời Minh Mạng, cho biết trong đội hình đoàn diễu hành của vua quan đến đàn Tiên Nông có 8 nhạc công hòa nhạc và 14 ca sinh vừa đi vừa hát khúc Hòa tứ. Sau khi xong lễ thức 3 lần dâng rượu, Thượng thư bộ Hộ rước vua xuống ruộng Tịch điền cày ruộng, thì Đại nhạc, Nhã nhạc tấu nhạc và đoàn ca sinh hát khúc Hòa tử. Vua cày xong 3 đường đi, 3 đường lại thì khúc ca vừa dứt. Khúc hát Hòa tử có 36 câu thơ thất ngôn bằng chữ Hán. J. Lan và Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề chỉ chép lại lời ca.
Trích từ câu 5 đến câu 10:
..."Thánh hoài đôn bản trọng canh tang,
Dân sự gian nan niệm bất vương.
Triều tịch Mân Phong thất nguyệt chương,
Khuyến dân nhất đức cẩn vô hoang.
Khác tuân thành hiến tức tư phường,
Lai như lai tư triệu lý cương"
Trần Gia Am dịch thơ:
... "Lòng vua chú trọng việc nông tang,
Khó nhọc thương dân tính mọi đường,
Thất nguyệt Mân Phong ghi sớm tối,
Khuyên dân chớ để ruộng đồng hoang.
Kinh theo phép cũ đến nơi đây,
Gây dựng vì dân đất nước này "...
2. CUNG TRUNG NHẠC
Theo các nhà nghiên cứu, thì Cung trung nhạc (hay Cung nhạc) triều Nguyễn là nhạc tấu trong cung Hoàng Thái Hậu, hoặc trong cung điện của vua.
Tài liệu Sơ lược Âm nhạc truyền thống Việt của Trần Văn Khê cho biết: Ngoài dàn Nhã nhạc, còn thấy dàn nữ nhạc nhưng không biết có bao nhiêu nhạc công. Năm Minh Mạng thứ 8 (1827), trong lễ lục tuần Hoàng Thái Hậu, một dàn nhạc gồm 8 loại nhạc cụ, mà ông cho là rất gần với dàn Nhã nhạc ngày nay.
Từ Yến nhạc trở đi múa tỏ ra phong phú về bài bản hơn. Các điệu múa trong cung thường ít gắn với tế lễ, mà nghiêng về chức năng tiêu khiển. Cũng theo Trần Văn Khê, có 3 điệu múa sau thường tham gia vào Cung trung nhạc:
- Múa Văn - Võ (hay gọi là Bát dật)
- Múa các nhành hoa.
- Múa hoa đăng.
1 Múa anh hùng (?) khi Hoàng Thái Hậu lên tòa.
2. Múa Thanh hoa chi khi dâng thọ lần đầu.
3. Múa Xích hoa chi khi dâng thọ lần hai.
4. Múa Huỳnh hoa chi khi dâng thọ lần ba.
5. Múa Tiên đào quả khi Hoàng Thái hậu về cung.
Khi trời tối mới múa Hoa đăng đến lúc gần sáng.
Đến năm Khải Định thứ 2 (1917) vẫn có điệu múa mà ca vũ sinh tay cầm cành hoa vàng (huỳnh hoa chi) khi hát chương khúc Tập khánh và tay cầm quả đào (tiên đào quả) khi tấu chương khúc Bảo khánh trong lễ sinh nhật ngũ tuần Hoàng Thái phi. Tuy vậy, sách Những Đại lễ và vũ khúc của vua chúa Việt của Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề, lại không thấy đề cập đến điệu múa này trong danh mục các điệu múa cung đình.
Nhạc chương tấu trong cung Hoàng Thái hậu gồm 5 chương khúc mang chử Khánh có từ thời Gia Long và vẫn còn thấy dưới thời Khải Định như: Sùng Khánh, Tập Khánh, Chương Khánh, Bảo Khánh, Thành Khánh.
Năm Khải Định thứ 2 (1917), trong lễ ngũ tuần của Hoàng Thái phi, các nữ ca vũ sinh múa hát - chương khúc mang chữ Khánh, như Sùng Khánh Tập Khánh, Bảo Khánh. Nội dung của chương khúc Sùng Khánh được dịch từ bản tiếng Pháp trong Tập san Những Người bạn Cố Đô Huế (B.A.V.H) như sau:
Hạnh phúc và vinh quang (của đức bà Hoàng Thái hậu) đạt đỉnh cao.
"Đức bà như là quả đất thanh khiết và trong trắng!
"Ba nghìn cửa bằng đá quý ngời sáng rực rỡ.
"Chín mươi ngày ánh sáng đầy không khí trong lành.
"'Trong không gian yên tĩnh của bầu trời xanh, chòm sao Bửu vụ toả sáng trong trẻo
"Chúng ta hãy vui mừng vái lạy với tình cảm ca ngợi hân hoan"... (5)

Trong 3 ngày lễ, vào giờ ăn trưa của Hoàng Thái phi thì Hoàng thượng đều đến dâng rượu, trong khi các nữ nhạc công hát những bài chúc thọ...
Qua một số bài bản được coi là Cung trung nhạc của triều Nguyễn trên, chúng ta không thể không nêu ra đây một vài điều còn nghi ngại: Một là, chúng ta chưa tìm thấy những bài bản xác thực của loại nhạc này; hai là, chẳng hề tồn tại một sinh hoạt âm nhạc nào dưới triều Nguyễn mang tính độc lập theo kiểu Cung trung nhạc, nhưng vẫn cố kê ra cho đủ thành phần, như cơ chế triều nhạc thời Lê?
Bởi vì, ngay với Yến nhạc, phần nào đó, cũng còn là một bộ phận của Đại triều nhạc đến Cung trung nhạc thì bài bản, trình thức và không gian diễn tấu cũng như chức năng phục vụ lại trùng lặp với Yến nhạc. Đó đều là các bài bản nhạc và múa trong lễ Vạn thọ, lễ Thánh thọ... mà trong trình thức, luôn luôn có thủ tục vua ban yến hoặc dâng thọ, chúc mừng, tạ ơn, và đều ở trong cung.
Vì có cùng chức năng và bài bản - cùng hình thức và nội dung, như trên, theo chúng tôi, hai loại nhạc này, dưới triều Nguyễn, chỉ là một: Yến nhạc là Cung trung nhạc. Còn chức năng khác, bài bản khác của Cung trung nhạc, như chức năng tiêu khiển, hoặc không có hoặc chưa có tư liệu, thì cũng chỉ là một thành phần, một bộ phận nhỏ trong đó mà thôi.
Vì vậy 7 loại nhạc lễ thường được nhắc đến trong một số tư liệu, công trình về âm nhạc cung đình triều Nguyễn, chúng tôi thấy:
Yến nhạc là một bộ phận của Cung trung nhạc thì hợp lý hơn về không gian, chức năng và bài bản. Và với tiêu chí trên, các loại nhạc lễ cung đình triều Nguyễn cũng có thể chỉ gồm 4 loại chính như sau:
1. Giao nhạc. Nhạc trong tế lễ Nam Giao.
2. Miếu nhạc. Gồm cả:
- Nhạc tế Miếu.
- Nhạc tế Ngũ tự.
3. Triều nhạc. Nhạc trong lễ Đại triều và Thường triều.
4. Cung trung nhạc. Gồm:
Yến nhạc. Nhạc trong lễ ban yến và lễ dâng rượu chúc thọ (dâng thọ) Hoàng Thái hậu và chúc thọ Vua (trong lễ Vạn thọ, Thánh thọ...)
- Những sinh hoạt âm nhạc mang chức năng tiêu khiển thuần túy trong nội cung, không ràng buộc bởi lễ nghi...chẳng hạn, Ca Huế thính phòng. Tuy vậy, hiện nay chúng tôi vẫn chưa có tư liệu đầy đủ về loại này.
Trên đây là 2 trong số 7 loại nhạc cung đình triều Nguyễn thường được nhắc đến. Ngoài Giao nhạc, Miếu nhạc, Đại triều nhạc, mà không gian diễn tấu cũng như thể chế lễ nhạc đầy đủ tư cách là một loại nhạc. Còn lại trên đây là 2 trong 4 loại nhạc, theo chúng tôi là chưa được "chính danh" lắm trong tư cách một loại nhạc độc lập, so với 3 loại trên.
D.B.H

(nguồn: TCSH số 157 - 03 - 2002)

 


-------------------------------
(1) Phan Thuận An: Bài giảng lớp Đại học Nhã nhạc, Trường ĐHNT Huế, 1998
(2) Theo Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn: Xã (thổ thần), Tắc (thần ngũ cốc). Sđd, tr.12
(3) Cây lúa: Pháp chế, thờ cúng, tín ngưỡng, B.A.V.H, tập 6-1919B. Nxb Thuận Hoá, Huế 1998, tr.258.
(4) Bản đã dịch của Nhà Xuất bản Thuận Hoá: Những người bạn cố đô Huế (đã dẫn).
(5) Những người bạn cố đô Huế. Nxb Thuận Hoá, Huế, 1998. Tập 5-1998, tr.143.

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • Hưởng ứng cuộc vận động sáng tác Văn học Nghệ thuật hướng về thiên tai với chủ đề “Nguyện cầu cho nạn nhân động đất tại Nhật Bản” do Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế tổ chức.

  • VIỆT ĐỨCCâu trả lời đầu tiên vẫn thuộc về môi trường sinh hoạt âm nhạc. Hiện nay ở thành phố Hồ Chí Minh mỗi đêm có đến 50 tụ điểm ca nhạc hoạt động với cơn sốt ca sỹ leo thang đến chóng mặt.

  • Dương Bích HàCũng như các loại hình nghệ thuật khác, nền âm nhạc cổ truyền luôn tồn tại hai dòng: âm nhạc bác học và âm nhạc dân gian.Ở Huế, trên một thế kỷ là kinh đô của triều đại phong kiến Việt Nam, nên đặc biệt, tính chất này được bộc lộ rất rõ và triệt để, là nơi phân chia rạch ròi nhất các giai tầng trong xã hội, trong văn hóa nghệ thuật.

  • NGUYỄN ĐẮC XUÂNNgày xưa, xã hội Việt Nam thực hiện nguyên tắc “phụ truyền tử kế” (cha truyền con nối), cho nên ông nội tôi - cụ Nguyễn Đắc Tiếu (sinh 1879), người làng Dã Lê chánh, xã Thủy Vân, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, lúc mới lên mười tuổi, đã được cố tôi (lính trong đội Nhã nhạc Nam triều) đem vào Đại nội học Nhạc cung đình (Musique de Cour).

  • PHAN THUẬN THẢONhã nhạc là loại hình âm nhạc chính thống được sử dụng trong các cuộc tế, lễ của các triều đình quân chủ ở Việt Nam và một số nước khu vực Đông Á. Trong các cuộc triều hội, cúng tế, âm nhạc luôn theo suốt quy trình của buổi lễ, từ lúc mở đầu cho đến hồi kết thúc. Nó tham gia vào từng tiết lễ, là một thành tố không thể thiếu của cuộc lễ, đồng thời, là phương tiện giúp con người giao tiếp với thế giới thần linh. Loại hình âm nhạc này được các triều đại quân chủ hết sức coi trọng, được phát triển thành một thứ quốc nhạc và là một trong những biểu tượng cho sức mạnh của vương quyền và sự vững bền của triều đại.

  • THÂN VĂN1. Phương thức liên kết về bài bản.Đặc điểm chung nhất của hệ thống bài bản hòa tấu nhạc cung đình thường là ngắn gọn, gắn liền và phù hợp với các ca chương trong mỗi nghi thức tế lễ. Những nghi thức này được tiến hành theo một trật tự trang trọng và nghiêm ngặt, nên mỗi bài bản ca chương và âm nhạc buộc phải trình tấu đúng với thời gian cho phép của từng nghi thức. Những bài bản này đương nhiên hoàn toàn độc lập về nội dung, nhưng do nằm trong một trật tự trình tấu nối tiếp liên tục, nên ngẫu nhiên đã hình thành các thể loại liên hoàn khúc khác nhau. Trong đó, độ dài, ngắn của mỗi liên hoàn khúc, tuỳ thuộc vào tính chất quan trọng của cuộc lễ, tuỳ thuộc vào số lượt nghi thức và số ca chương mà cuộc lễ quy định.

  • YAMAGUTI OSAMUTháng Giêng năm 1994, trong lúc đang còn ngất ngây hương vị Tết, thì đột nhiên điện thoại và fax từ Paris đến tới tấp. Đó là vì UNESCO đã nhận lời yêu cầu của chính phủ Việt Nam để mở một Hội nghị Quốc tế thảo luận về vấn đề nên làm gì và cái gì có thể làm được để bảo tồn và phát huy tài sản văn hoá vô hình của Việt Nam, vì vậy họ muốn mời tôi tham gia hội nghị và đưa ra đề nghị cụ thể. Ông Tokumaru Yosihiko (giáo sư của Đại học Nữ Ochanomizu, lúc đó còn là Trưởng khoa của Khoa Văn hoá- Giáo dục) cũng nhận được lời mời như vậy, nên tôi đã liên lạc với ông và cả hai quyết định nhận lời mời này.

  • VIỆT HÙNGCuộc toạ đàm với chủ đề Sự cần thiết phải thành lập nhạc viện ở Huế vừa diễn ra vào ngày 10/3/2004. Đây là một trong những hoạt động nằm trong khuôn khổ của Trại sáng tác khí nhạc dân tộc và phê bình lý luận âm nhạc, do Chi hội Nhạc sĩ Việt Nam Thừa Thiên Huế phối hợp với Trường Đại học Nghệ thuật Huế tổ chức từ 9/3 đến 17/3/2004.

  • THÂN VĂNSau hơn 2 tháng phát động và 9 ngày chính thức dự trại (từ ngày 09 đến 17/3/2004), với 14 tác phẩm khí nhạc dân tộc và 5 tác phẩm lý luận phê bình âm nhạc của 17 nhạc sĩ có mặt tham dự trại. Lễ bế mạc chiều ngày 17/3/2004 Trại sáng tác khí nhạc dân tộc & lý luận phê bình âm nhạc tại Huế đã gây được ấn tượng tốt đẹp và những tín hiệu đáng mừng trong lòng nhân dân Cố Đô. Điều đáng nói là các nhạc sĩ của Hà Nội, Huế và TP.Hồ Chí Minh đã gặp nhau từ một ý tưởng sáng tạo chủ đạo là nhằm tôn vinh và phát huy các giá trị của di sản văn hoá phi vật thể và truyền khẩu ở Huế, góp phần định hướng cho mô hình và mục tiêu đào tạo của Nhạc viện Huế trong tương lai.

  • TRẦN VĂN KHÊNhạc Cung đình là một bộ môn nhạc truyền thống Việt Nam dùng trong Cung đình. Nhưng người sáng tạo và biểu diễn Nhạc Cung đình hầu hết là những nhạc sĩ, nghệ sĩ từ trong dân gian, có tay nghề cao, được sung vào Cung để phụng sự cho Triều đình. Nhạc Cung đình Huế là một bộ môn âm nhạc truyền thống Việt Nam rất đặc biệt và có một giá trị lịch sử, nghệ thuật rất cao.

  • THÁI CÔNG NGUYÊNMột nhà văn nước ngoài khi đến thăm Huế đã nói: “Huế là một bảo tàng kỳ lạ chứa đựng trong lòng mình những kho tàng vô giá, những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần Việt Nam”. Đúng vậy, bên cạnh kho tàng di sản văn hóa kiến trúc đồ sộ có giá trị tầm vóc quốc tế, Huế còn là một tụ điểm di sản văn hóa tinh thần phong phú, một vùng văn hóa Phú Xuân đặc sắc “Huế đẹp và thơ” nổi tiếng.

  • PHÙNG PHUNgày 07 tháng 11 năm 2003, ông Koichiro Matsuura, Tổng Giám đốc UNESCO đã chính thức công bố trong một buổi lễ long trọng nhân kỳ họp toàn thể lần thứ 32 của Ðại hội đồng UNESCO tại Paris: UNESCO đã ghi tên 28 Kiệt tác vào Danh mục Kiệt tác Di sản Văn hóa Phi vật thể và Truyền khẩu của Nhân loại.

  • LTS: Đại hội khoá II (nhiệm kỳ 2003 - 2008) của Chi hội Nhạc sỹ Việt Nam Thừa Thiên Huế vừa diễn ra vào trung tuần tháng 9. Nhạc sỹ Hồng Đăng, Phó Tổng thư ký Hội Nhạc sỹ Việt Nam, thay mặt cho BCH Hội Nhạc sỹ Việt Nam vào tham gia chỉ đạo Đại hội. Tại Đại hội, nhiều tham luận, ý kiến phát biểu của các nhạc sỹ đã thể hiện được sự trăn trở về thực trạng và hướng phát triển của nghệ thuật âm nhạc đương đại Huế. Sông Hương xin trích đăng một số ý kiến đã trình bày tại đại hội.

  • LÂM TÔ LỘCĐại tá - nhạc sĩ Đức Tùng, sinh năm 1926 tại Huế đẹp và thơ, đã mãi mãi xa quê: Ông mất ngày 25/01/2003. Ông viết ca khúc từ trước Cách mạng tháng Tám như Kỷ niệm ngày hè, Bên trời xa, Dòng Dịch thủy, Dưới ánh trăng mơ. Ông đã từng biểu diễn ca nhạc tại nhà hát Accueil, là cây Accordéon cầm chịch của ban nhạc gia đình ở phố Hàng Bè.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊ Năm nay (2003), nhạc sĩ Trần Hữu Pháp (NSTHP) “mới” tròn 70 tuổi, nhưng dễ đã mấy chục năm, sau khi nhạc sĩ Trần Hoàn rời Cố đô ra Hà Nội nhận các trọng trách, NSTHP nghiễm nhiên ngồi “chiếu trên”, là “già làng” của giới âm nhạc Thừa Thiên Huế. Kể cũng phải; từ bốn mươi năm trước, khi hàng triệu thiếu nhi miền Bắc đội mũ rơm dắt lá nguỵ trang đến trường, miệng líu lo ca bài hát ông vừa sáng tác “Tiếp đạn nào / Tiếp đạn chuyền tay trên chiến hào / Cho chú dân quân bắn nhào phản lực...” thì không ít các nhạc sĩ nổi danh bây giờ có lẽ còn... bú mẹ! Vậy mà trước mắt tôi (và chắc là với không ít người nữa) - nói ông anh đừng giận nhé - vị nhạc sĩ lão làng này lại rất...trẻ con!

  • NGUYỄN TRỌNG TẠO...Người ta thường nhắc tới Thái Quý như nhắc tới một con người giàu tình cảm, dễ khóc, dễ cười, dễ nóng giận và cũng rất vị tha. Nói đến khuyết điểm của mình trong cuộc họp, anh khóc đã đành, nhưng khi chỉ trích khuyết điểm của đồng đội, anh cũng khóc...

  • NGUYỄN THANH TÚNăm ngoái, tôi tình cờ gặp nhạc sĩ Thái Quý khi ông đang bận rộn chỉ đạo "đoàn thành phố Huế" trước giờ ra sân khấu tham gia hội diễn ca múa nhạc công - nông - binh - trí thức do tỉnh Thừa Thiên Huế tổ chức tại nhà hát Trung tâm Văn hoá.

  • VĨNH PHÚCNếu kinh đô Thăng Long xưa từ trong cung phủ đã có một lối hát cửa quyền phát tán thành một dòng dân gian chuyên nghiệp là hát Ả đào và vẫn thịnh đạt dưới thời vua Lê chúa Trịnh, thì kinh đô Phú Xuân sau này, hoặc là đã từ trong dinh phủ của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong phát tán thành một lối gọi là Ca Huế (gồm cả ca và đàn). Vậy cũng có thể gọi Ca Huế là một lối hát Ả đào của người Huế, một lối chơi của các ông hoàng bà chúa xét trên quan điểm tiếp biến trong tiến trình của một lối hát truyền thống và tiến trình lịch sử từ Thăng Long đến Phú Xuân-Huế.

  • VĂN THU BÍCHTừ bao đời nay, tình yêu Huế vẫn mãi chìm sâu trong lòng những người con xứ Huế, dù đang sống trên đất Huế hoặc đã biền biệt xa xứ và Huế mộng mơ cũng len nhẹ vào hồn du khách khi đến thăm vùng đất thần kinh này.

  • TRẦN NGỌC LINHBạn còn thương bạn biết gửi sầu về nơi mô?Trước khi tôi vào Huế, chị tôi dặn: “Vào muốn gặp bà Minh Mẫn cứ đến đường Nhật Lệ mà hỏi”. Theo cách nhớ đường của một người viễn khách từ xa đến thì đến phố đó cứ thấy đầu ngõ nào có một giàn hoa tử đằng với những dây hoa buông thõng chấm xuống nền đất vỉa hè thì đó chính là lối rẽ vào ngõ nhà danh ca Minh Mẫn.