DƯƠNG VIỆT QUANG
Sử cũ cho thấy rằng, triều Nguyễn đã rất chú trọng việc đầu tư thủy lợi, giao thông đường thủy. Một thống kê từ “Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ” cho biết, có đến gần 60 lần các vua Nguyễn ban hành chỉ dụ về việc đào sông, nạo vét kênh rạch… ở 15 tỉnh trong cả nước.
Sông đào Lợi Nông khắc trên Chương đỉnh
Đào sông lớn ở Huế
Trong 3 triều vua đầu, các vua đã cho đào nhiều con sông lớn trong cả nước, trong đó có những con sông ở Huế: sông Như Ý, Lợi Nông, Phổ Lợi (Huế), sông Thoại Hà (Long Xuyên), sông Vĩnh Tế (Châu Đốc - Hà Tiên), Vĩnh Điện (Quảng Nam), Vĩnh Định (Quảng Trị), Cửu Yên (Hưng Yên), Phổ Lợi (Huế), Tân Châu (Tiền Giang).
Triều Gia Long đã đào 3 con sông lớn ở các tỉnh miền Trung và miền Nam. Sông Lợi Nông (An Cựu) được đào từ năm Gia Long thứ 13 (1814), bắt đầu từ sông Hương, sông chảy qua làng mạc rồi đổ vào đầm Hà Trung, tổng cộng dài gần 20km. Trong bài thơ “Đông Lâm dực điểu” (Bắn chim ở Đông Lâm), vua Thiệu Trị có đoạn thơ về sông, toàn bộ bài thơ được khắc vào bia đá dựng ven sông, đoạn chảy qua làng Thần Phù, Hương Thủy:
“Loại tháo lô phì tẩy lục sa
Giang thôn thu thụ tịch dương tà
Không lâm ẩn ước quy cầm tập
Tiểu giãn tì liên phiếm nghịch qua
(Nước rút đi, những chòm lau tươi trên cỏ xanh/ khắp vùng giang thôn đón rợp ánh dương tà/ từng đàn chim bay về hội tụ ẩn hiện trong khoảng rừng/ trong dòng nước lá sen, bầy chim nghịch lội qua)
Triều Minh Mạng cho đào sông Phổ Lợi (từ 1836). Con sông này thông từ sông La Ỷ đến hạ lưu sông Diên Trường với chiều dài khoảng 11km, phần đào thêm khoảng 2km có khả năng chia nước sông Hương vào mùa lũ, cấp tưới nước vào mùa hè. Năm sau, 1837, khi thấy việc đào sông Phổ Lợi không đạt yêu cầu, vua Minh Mạng chỉ dụ: “Năm trước khai đào sông Phổ Lợi để cho có lợi muôn đời không cùng. Lần ấy vì mưa lụt, chưa được thành công. Đã chuẩn ý cho sang xuân tiếp tục làm. Nay thời tiết tạnh nắng, chính là lúc có thể thi công được. Vậy giao cho kinh doãn liệu thuê dân hạt 3000 người, cứ chiếu chỗ nào năm ngoái hiện chưa làm xong và một đoạn hướng mới làm tiếp. Lấy ngày tháng giêng năm nay khởi công, theo đúng quy thức mà khai đào, sao cho trong tháng 2 phải nhất loạt hoàn thành”. Vua Thiệu Trị trong khi tuần du về Thuận An, qua sông này đã tức cảnh bài thơ “Quá Phổ Lợi hà cảm tác” cũng khắc bia đá dựng bên bờ. Mở đầu có đoạn:
“Ngưỡng duy phòng hải niệm
Cánh thả vị nông trù
Tùy thế kỳ giang quýnh
Hưng công phát nô tu”
(Ngưỡng vọng công người xưa trong phòng thủ biển/ vì sự trù phú của nhà nông mà giúp canh tác/ tùy thế đất thế sông mà lo toan/ kho công lại lo chi tiền bạc).
Bài thơ cũng nhắc lại sự kiện dân 6 xã như Dương Nỗ, La Ỷ… nguyện đem hết già trẻ, gái trai cùng đào sông, cho thấy tinh thần và trách nhiệm của người dân Huế trong việc trị thủy.
Hình ảnh sông Phố Lợi sau được khắc trên Nhân đỉnh, cùng 5 con sông đào khác. Năm 1826, vua cho vét sông Ngự Hà với 6000 dân binh cùng làm…
Thủy lợi và đắp đê trong các làng xã
Năm 1820, dân xã An Vân và Đốc Sơ (Hương Trà) dinh Quảng Đức tâu xin được miễn lao dịch để đào mương lấy nước tưới ruộng đồng. Năm 1821, dân xã An Lai (Quảng Đức) tâu xin miễn 6 tháng lao dịch để đào sông. Vua khen, cấp thêm cho 100 phương gạo để giúp phí tổn. Năm Minh Mạng thứ 18, vua chuẩn tấu cho xã Thế Lại Thượng (huyện Hương Trà) khai đào sông từ Kim Long về Bao Vinh. Năm 1881, miễn trừ việc thuế, sưu dịch cho Thanh Thủy Chánh, Thanh Thủy Thượng để khới vét sông…
Việc đào sông không tiến hành theo cá nhân mà là sự chung sức từng làng, liên thôn, có khi liên tỉnh như hai xã Lễ Môn (Quảng Trị), An Ninh (Quảng Đức) do “khe ngòi bị tắc, xin rút binh xã về để khơi đào” (Đại nam thực lục). Các làng cũng tự đứng ra làm thủy lợi dưới sự chỉ huy của cai đội làng như trường hợp ở làng Hiền Lương dưới thời Minh Mạng. Cai đội trực tiếp chỉ huy binh lính và nhân dân trong tổng cùng đào con mương qua trảng cát, lấy nước ngầm từ dãy Trường Sơn giải khát cách đồng Hiền Lương và toàn vùng lân cận.
Ở vùng Truồi, đầu thập niên 60 của thế kỷ XIX, Dinh điền sứ 2 tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên là Trần Đình Túc đã cùng với cụ Vệ nông Lê Dõng chỉ huy dân làng đắp đập sông Truồi ngăn mặn, giữ ngọt; chủ động tưới tiêu hàng vạn mẫu ruộng, biến ruộng 1 vụ thành 2 vụ ở 2 tổng An Nông và Lương Điền. 100 năm qua, phù sa sông Truồi được chặn lại bồi đắp nên hàng ngàn mẫu ruộng nhất đẵng điền ở các xứ Ba Gò, Cồn Nổi, Bàu Mới, Đồng Rớ, Càng Cua… Cụ Lê Dõng được dân quý trọng đặc cách thờ ở đình Bàn Môn sau khi qua đời, dân xứ Truồi cũng lập miếu thờ ông.
Bên cạnh mương, hói tưới tiêu, nhiều làng xã cũng tiến hành đắp đê nhằm ngăn lũ lụt và giữ nước trong ruộng. Năm 1828, xã Phù Bài (Thừa Thiên) xin phép cho biền binh gia cố đê. Năm 1832, dân 2 xã Vĩnh Xương (Phong Điền) và Thủ Lễ (Quảng Điền) hiệp lực bồi đắp đê vệ nông. Năm 1839, dân xã Diên Trường (Phú Vang, phủ Thừa Thiên) đắp con đê nhỏ ngăn nước phía tây sông Phổ Lợi.
Những làng gần biển cũng đã đắp đê ngăn mặn, tránh triều cường. Ngoài những đê công do nhà nước đắp, từng làng cũng chủ động đắp các đoạn đê sung yếu. Năm 1824, xã Thanh Hương (Quảng Điền, Thừa Thiên) xin vua nghỉ phu dịch 3 tháng để bồi đắp đê ngăn mặn; năm 1825, lại xin mượn binh biền chung sức bồi đê trong làng. Năm 1827, đê ngăn mặn làng Dương Nổ (Phú Vang, Thừa Thiên) bị vỡ, dân xin miễn lao dịch để tu sửa, vua y cho…
Thời Pháp thuộc, việc thủy lợi không còn được quan tâm như trước. Năm 1930, chính quyền bắt dân khai hoang 2 mẫu ruộng ở đầm Cầu Hai trả công rất rẻ mạt, 1 ngày công chỉ trả 1 lon gạo, vì vậy dân chỉ đi làm gượng ép chứ không nhiệt thành như trước. Năm 1935, nhân dân Bàn Môn, Lộc An, Lộc Bổn, Thủy Tân (Phú Vang, Phú Lộc) đã kết hợp đấu tranh yêu cầu chính quyền thực dân phong kiến phải tiến hành đắp đập Hà Trung ngăn mặn cứu lúa…
Hương ước tham gia quản lý thủy nông
Hầu như trong tất cả các hương ước làng xã của Thừa Thiên những năm 1802 - 1945 đều có đề xuất các quy định về việc đắp đê phòng chống lụt, hộ đê, coi sóc, duy tu các tuyến đê, kênh mương dẫn thủy nhập điền. Thời Minh Mạng, năm 1836, lý trưởng xã Phù Bài đệ tờ trình xin cấm trâu bò, vịt, người làm nghề cá gây ảnh hưởng đến đê đập, làm tắc nghẽn kênh mương. Thời Thiệu Trị, năm 1847, điều lệ xã Đông Xuyên (Quảng Điền) nghiêm cấm thả trâu bò dẫm đạp làm hư hỏng bờ đạp, chặt phá tre ở hai bên bờ đê ở xứ Miếu Đồng. Người nào vi phạm phải chịu phạt 1 con heo trị giá 5 quan tiền, ngoài ra còn thu thêm 2 quan tiền để thưởng cho người có công phát hiện. Thời Tự Đức, điều lệ xã An Gia quy định: “Phàm những đường nhánh nước chảy trong xã, hễ người nào tự tiện đắp lại bắt cá, người phát hiện sẽ được thưởng tiền 1 quan, người bị bắt phải chịu phạt vạ 1 heo và một bàn trầu cau rượu”. Thời Thành Thái, hương ước làng Phong Lai nghiêm cấm đi tắt làm sụt lở dãy đê quai để bảo hộ nhà cửa và phòng ngừa nước lụt…
Nhiều làng quy định khi đồng ruộng đã gieo cấy xong, trâu bò phải thả đến nơi hoang nhàn để chăn đón, không được cho trâu bò ăn nơi bờ ruộng… Ví như hương ước làng Phù Bài năm 1831: răn những ai ăn lương điền và khẩu phần điền ở gần sông lớn, đường nhỏ thì trừ dư ra 5 thước, nếu gần khe nhỏ thì nên dư 3 thước. Răn từ nay hai bên bờ sông và các rạch lớn nhỏ đến kỳ hạn hán nên được đưa nước vào ruộng để cứu lúa nhưng đến tháng 7 thì tất cả phải đắp lại để khỏi nước lụt sạt lở… Làng Bàn Môn quy định nếu làng tổ chức nạo vét kênh mương định kỳ, tất cả các gia đình phải tham gia; nếu có 1 mẫu ruộng thì phải cử 2 người, 3 - 5 sào thì phải có 1 người. Trước khi gieo lúa, làng cắm cây nêu đầu làng, trên cột 3 cái roi để nhắc dân làng không được đưa trâu bò ra phá, phải đi cắt cỏ trữ sẵn trong nhà. Mõ làng lại đi rao: “Cấm trâu leo kè, cấm nghé leo đường, cấm đập cấm đường, bao nhiêu cấm hết”…
Lại có hương ước về việc coi sóc tu bổ thủy lợi trong làng, như điều lệ làng An Gia định lệ cứ tháng giêng, tháng hai, tháng ba, tháng bảy thì lý dịch phải sức dân dự phòng tu bổ các nơi cầu cống đường sá, đê điều trong xã. Tờ cấm xã Thủ Lễ (Quảng Điền) quy định việc xây dựng nhà ở cạnh đe đập, bất kể quan viên, lính tráng, già lão hay nhân dân thì đều phải trình lên, hội đồng lý trưởng, hương chức xem xét, bàn thảo. Nếu thuận cho ai thì vuông đất bề dài 12 thước, bề rộng tùy theo bờ đê bên đường phải đắp đúng y như cũ, không được đào phá đường đê, vùi lấp bờ sông…
Bộ máy hành chính làng xã đều phải chịu trách nhiệm trong quản lý đê đập, đường sá, cầu cống. Các làng xã đều xây điếm canh, cử tuần đinh canh phòng, kiểm tra các công trình công cộng, đặc biệt là hệ thống thủy nông.
Với sự quan tâm từ triều đình đến địa phương, sự chung sức của toàn dân, việc trị thủy, thủy lợi tại Thừa Thiên Huế dưới triều Nguyễn đã có những thành tựu lớn, làm thay đổi bộ mặt kinh tế nông thôn, cảnh quan môi trường, người dân gắn bó với nhau hơn trong quá trình xây dựng thủy lợi và hộ đê… Âu đó cũng là bài học cho hậu thế khi nhìn lại những gì mà cha ông xưa đã thực hiện.
D.V.Q
(SHSDB23/12-2016)
Tải mã QRCode
TRẦN THỊ THANH…Núi Thuý Vân và chùa Thánh Duyên vì trước kia được xem là một trong những thắng cảnh của đất Thần Kinh nên các Chúa và các vua Nguyễn thường về đây thưởng ngoạn và làm thơ phú ca ngợi. Tuy nhiên, nổi tiếng hơn cả vẫn là những bài thơ được khắc trong hai tấm bia - một dựng trong chùa, một dựng dưới chân núi…
HỒ VĨNHĐồi Vọng Cảnh nằm cách thành phố Huế 7km về phía tây nam, vùng sơn phận này gồm nhiều núi đồi gối đầu lên nhau trong một khu vực rộng khoảng 2.400 ha diện tích đất tự nhiên. Về mặt địa hình của ngọn đồi, từ vị trí của tấm bia cổ Lý Khiêm Sơn (núi gối hậu của Khiêm Lăng - Tự Đức) kéo dài lên Vọng Cảnh là một dãy liên hoàn.
NGUYỄN QUANG HÀChùa Huyền Không Sơn Thượng tan trong non xanh và lá xanh. Dẫu đang còn tranh tre mộc mạc, nhưng thanh thoát, duyên dáng và thảnh thơi như lòng người ở đây. Đúng như nhà sư Minh Đức Triều Tâm Ảnh tâm sự: “Cảnh là tơ duyên của đời”. Đến Huyền Không Sơn Thượng cảm giác đầu tiên của tất cả du khách là thấy lòng mình ấm lại.
MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNHChùa Linh Mụ đẹp quá, nên thơ quá. Nói vậy cũng chưa đủ. Nó tịnh định, cổ kính, an nhiên, trầm mặc. Nói vậy cũng chưa đủ. Phải nói nó là một bài thơ Thiền lồng lộng giữa không gian mây nước, giữa khói sương, giữa mênh mang dâu bể và lòng người. Nó là bức tranh thủy mặc thuộc họa phái Sumiye, Nhật Bổn, mà, nét chấm phá tuy giản phác nhưng lung linh, ảo diệu; vượt thời gian và đi vào vĩnh cửu. Nó là bài kinh vô ngôn, tuy không nói một chữ, mà đã làm lắng đọng trăm ngàn xôn xao của cuộc thế; và, gợi nhắc vô biên cho con người hướng đến điều chân, lẽ thiện...
NGÔ MINHHuế trên 350 năm là thủ phủ Chúa Nguyễn Đằng Trong và Kinh Đô của Đại Việt đã tích tụ nhân tài, vật lực cả quốc gia tạo ra một hệ thống Di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc và nổi tiếng như nhã nhạc, lễ hội dân gian, văn hóa ẩm thực... Trong Di sản văn hóa ẩm thực Huế, Văn hóa ẩm thực Cung đình là bộ phận tinh hoa nhất, giá trị nhất!
HÀ MINH ĐỨC Ký Sau chặng đường dài, vượt qua nhiều đồi núi của vùng Quảng Bình, Quảng Trị, khoảng 3 giờ chiều ngày 25/9/2003, đoàn chúng tôi về đến thành phố Huế. Xe chạy dọc bờ sông Hương và rẽ vào khu vực trường Đại học Sư phạm Huế. Anh Hồ Thế Hà, Phó Chủ nhiệm khoa Văn; chị Trần Huyền Sâm, giảng viên bộ môn Lý luận văn học cùng với các em sinh viên ra đón chúng tôi. Nữ sinh mặc áo dài trắng và tặng các thầy những bó hoa đẹp.
BĂNG SƠN Tuỳ bútDòng sông Hồng Hà Nội là nguồn sữa phù sa và là con đường cho tre nứa cùng lâm sản từ ngược về xuôi. Dòng sông Cấm Hải Phòng là sông cần lao lam lũ, hối hả nhịp tầu bè. Dòng sông Sài Gòn của thành phố Hồ Chí Minh là váng dầu ngũ sắc, là bóng cần cẩu nặng nề, là những chuyến vào ra tấp nập... Có lẽ chỉ có một dòng sông thơ và mộng, sông nghệ thuật và thi ca, sông cho thuyền bềnh bồng dào dạt, sông của trăng và gió, của hương thơm loài cỏ thạch xương bồ làm mê mệt khách trăm phương, đó là sông Hương xứ Huế, là dòng Hương Giang đất cố đô mấy trăm năm, nhưng tuổi sông thì không ai đếm được.
PHAN THUẬN THẢO Chiều chiều trước bến Vân Lâu Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm, Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông. Thuyền ai thấp thoáng bên sông, Đưa câu Mái đẩy chạnh lòng nước non. (Ưng Bình Thúc Giạ)
LÃNG HIỂN XUÂNChẳng hiểu sao, từ thuở còn thơ ấu, tôi đã có một cảm nhận thật mơ hồ nhưng cũng thật xác tín rằng: Chùa chính là nơi trú ngụ của những ông Bụt hay bà Tiên và khi nào gặp khó khăn hay đau khổ ta cứ đến đó thì thế nào cũng sẽ được giải toả hay cứu giúp!
BÙI MINH ĐỨCNói đến trang phục của các Cụ chúng ta ngày xưa là phải nhắc đến cái búi tó và cái khăn vấn bất di bất dịch trên đầu các Cụ. Các Cụ thường để tóc dài và vấn tóc thành một lọn nhỏ sau ót trông như cái củ kiệu nên đã được dân chúng đương thời gọi là “búi tó củ kiệu”. Ngoài cái áo lương dài, cái dù đen và đôi guốc gỗ, mỗi khi ra đường là các Cụ lại bối tóc hình củ kiệu và vấn dải khăn quanh trên đầu, một trang phục mà các cụ cho là đứng đắn nghiêm trang của một người đàn ông biết tôn trọng lễ nghĩa. Trang phục đó là hình ảnh đặc trưng của người đàn ông xứ ta mãi cho đến đầu thế kỷ thứ 20 mới bắt đầu có nhiều biến cải sâu đậm
MAO THUỶ THANH (*)Tiếng hát và du thuyền trên sông Hương là nét đẹp kỳ thú của xứ Huế. Trên sông Hương có hai chiếc cầu bắc ngang: cầu Phú Xuân và cầu Trường Tiền nhưng trước đây người dân Huế thường có thói quen đi đò ngang. Bến đò ở dưới gốc cây bồ đề cổ thụ, nằm đối diện với trường Đại học Sư phạm Huế. Một hôm, tôi và nữ giáo sư Trung Quốc thử ngồi đò sang ngang một chuyến. Trên đò đã có mấy người; thấy chúng tôi bước xuống cô lái đò áp đò sát bến, mời chúng tôi lên đò.
VÕ NGỌC LANBuổi chiều, ngồi trên bến đò Quảng Lợi chờ đò qua phá Tam Giang, tôi nghe trong hư vô chiều bao lời ru của gió. Lâu lắm rồi, tôi mới lại được chờ đò. Khác chăng, trong cảm nhận tôi lại thấy bờ cát bên kia phá giờ như có vẻ gần hơn, rõ ràng hơn.
HỒNG NHUTôi vẫn trộm nghĩ rằng: Tạo hóa sinh ra mọi thứ: đất, nước, cây cỏ chim muông... và con người. Con người có sau tất cả những thứ trên. Vì vậy cỏ cây, đất nước... là tiền bối của con người. Con người ngoài thờ kính tổ tiên ông bà cha mẹ, những anh hùng liệt sĩ đã mất... còn thờ kính Thần Đất, Thần Nước, Thần Đá, Thần Cây...là phải đạo làm người lắm, là không có gì mê tín cả, cho dù là con người hiện đại, con người theo chủ nghĩa vô thần đi nữa! Chừng nào trên trái đất còn con người, chừng đó còn có các vị thần. Các vị vô hình nhưng không vô ảnh và cái chắc là không vô tâm. Vì sao vậy? Vì các vị sống trong tâm linh của con người, mà con người thì rõ ràng không ai lại tự nhận mình là vô tâm cả.
MẠNH HÀTôi không sinh ra ở Huế nhưng đã có đôi lần đến Huế, khác với Hà Nội hay Thành phố Hồ Chí Minh, Huế có nét trầm lắng, nhẹ nhàng, mỗi lần khi đến Huế tôi thường đi dạo trên cầu Trường Tiền, ngắm dòng Hương Giang về đêm, nghe tiếng ca Huế văng vẳng trên những chiếc thuyền rồng du lịch thật ấn tượng. Cho đến nay đã có biết bao bài thơ, bài hát viết về Huế thật lạ kỳ càng nghe càng ngấm và càng say: Huế đẹp, Huế thơ luôn mời gọi du khách.
VÕ NGỌC LANNgười ta thường nói nhiều về phố cổ Hội An, ít ai biết rằng ở Huế cũng có một khu phố cổ, ngày xưa thương là một thương cảng sầm uất của kinh kỳ. Đó là phố cổ Bao Vinh. Khu phố này cách kinh thành Huế chừng vài ba cây số, nằm bên con sông chảy ra biển Thuận An. Đây là nơi ghe, thuyền trong Nam, ngoài Bắc thường tụ hội lại, từ cửa Thuận An lên, chở theo đủ thứ hàng hoá biến Bao Vinh thành một thương cảng sầm uất vì bạn hàng khắp các chợ trong tỉnh Thừa Thiên đều tập trung về đây mua bán rộn ràng.
NGUYỄN XUÂN HOATrước khi quần thể di tích cố đô Huế được công nhận là di sản văn hoá thế giới, thành phố Huế đã được nhiều người nhìn nhận là một mẫu mực về kiến trúc cảnh quan của Việt Nam, và cao hơn nữa - là “một kiệt tác bài thơ kiến trúc đô thị” như nhận định của ông Amadou Mahtar M”Bow - nguyên Tổng Giám đốc UNESCO trong lời kêu gọi tháng 11-1981.
DƯƠNG PHƯỚC THU Bút kýXứ Thuận Hóa nhìn xa ngoài hai ngàn năm trước, khi người Việt cổ từ đất Tổ Phong Châu tiến xuống phía Nam, hay cận lại gần hơn bảy trăm năm kể từ ngày vua Trần Anh Tông cho em gái là Huyền Trân Công chúa sang xứ Chàm làm dâu; cái buổi đầu ở cương vực Ô Châu ác địa này, người Việt dốc sức tận lực khai sông mở núi, đào giếng cày ruộng, trồng lúa tạo vườn, dựng nhà xây đình, cắm cây nêu trấn trị hung khí rồi thành lập làng xã.
TRƯƠNG THỊ CÚCSông Hương, một dòng sông đẹp, sôi nổi với những ghềnh thác đầu nguồn, mềm mại quàng lấy thành phố như một dải lụa, hài hoà tuyệt diệu với thiên nhiên xinh đẹp và hệ thống thành quách, cung điện, lăng tẩm, đền chùa; với hàng trăm điệu hò, điệu lý; với những ngày hội vật, hội đua trải, đua ghe; với mảnh vườn và con người xứ Huế, là nguồn cảm hứng vô tận của người nghệ sĩ, thu hút sự say mê của nhiều khách phương xa. Không những là một dòng sông lịch sử, sông Hương còn là không gian văn hoá làm nẩy sinh những loại hình nghệ thuật, những hội hè đình đám, là không gian của thi ca, nhạc hoạ, là dòng chảy để văn hoá Huế luân lưu không ngừng.
TÔN NỮ KHÁNH TRANG Khi bàn về văn hoá ẩm thực, người ta thường chú trọng đến ẩm thực cung đình, hay dân gian, và chủ yếu đề cập đến sinh hoạt, vai trò, địa vị xã hội... hơn là nghĩ đến hệ ẩm thực liên quan đến đời sống lễ nghi.
TRƯƠNG THỊ CÚC• Bắt nguồn từ những khe suối róc rách ở vùng núi đại ngàn A Lưới - Nam Đông giữa Trường Sơn hùng vỹ, ba nhánh sông Tả Trạch, Hữu Trạch và nguồn Bồ đã lần lượt hợp lưu tạo thành hệ thống sông Hương, chảy miên man từ vùng núi trung bình ở phía đông nam A Lưới, nam Nam Đông, băng qua những dãy núi đồi chập chùng ở Hương Thuỷ, Hương Trà, Phong Điền rồi xuôi về đồng bằng duyên hải, chảy vào phá Tam Giang để đổ nước ra biển Đông.