Và thế là mùa xuân đang đến

14:32 12/05/2021

NGUYỄN HẢI YẾN  

Khi tôi viết những dòng này, thì ở Hải Dương, cuộc chiến chống Covid-19 vẫn đang trong hồi quyết liệt. Sự thực là tính từ ngày khởi phát làn sóng Covid-19 lần thứ ba tại Việt Nam mà điểm nóng bắt đầu công ti POYUN - thành phố Chí Linh, Hải Dương chúng tôi chưa có một ngày nào bình yên.

Mùa xuân về trên đồng lúa Gia Lộc - Hải Dương

Đây là cuộc chiến vô cùng gian khổ vì kẻ thù vốn vô hình lẩn trong môi trường thuận lợi, chờ đúng thời điểm giáp tết âm lịch bắt đầu bùng phát, khi phát hiện ra thì số người mắc bệnh đã lên tới con số hàng trăm. Hải Dương hoàn toàn bị động trong tình thế ấy nhưng đã làm hết sức mình để khống chế nó và đã vượt qua.

Ở đây tôi không nói thêm về những khó khăn, vất vả, những cơ cực, và đặc biệt là những nỗ lực của Hải Dương trong suốt những ngày qua cùng chung sức đồng lòng quyết tâm đẩy lùi đại dịch, giữ bình yên cho Hải Dương cũng là để giữ bình yên cho đất nước mình. Tôi sẽ không nói về những cánh đồng trồng đào, sau tết cành khô gom thành củi. Không nói về những cánh đồng màu rau củ thối chất đống trên bờ. Không nói về những trang trại gà lợn có nguy cơ bị bỏ đói đến chết vì không có thức ăn… Khi đại dịch hoành hành, lệnh phong tỏa áp dụng, Hải Dương chấp nhận hy sinh tất cả để mong có một ngày đất nước bình an.

Vậy, ở ngày thứ mười sau lệnh phong tỏa của Thủ tướng Chính phủ áp dụng với Hải Dương tôi muốn viết điều gì?

Tôi viết về tình yêu thương và tinh thần đoàn kết. Nó vốn là truyền thống quý báu của dân tộc ta như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói. Và trong gian nguy, trong thử thách chúng tôi càng thấu hiểu sức mạnh của truyền thống ấy. Bạn bè nhiều nơi ngỏ ý khâm phục người Hải Dương vì tinh thần đoàn kết và lòng tin tuyệt đối vào lãnh đạo. Chúng tôi khẳng định rằng: Không phải chỉ Hải Dương mà ở bất cứ tỉnh, thành trên đất nước này, rơi vào tình huống này đều cũng sẽ như chúng tôi. Đặc biệt là sau tết Nguyên đán, khi lệnh phong tỏa ban ra, đối mặt với bao điều tiếng thị phi, những nghi ngờ, chê trách, những bài xích, tẩy chay… nếu không đoàn kết, không tin tưởng vào lãnh đạo, vào chính quyền, Hải Dương chúng tôi không thể nắm tay nhau cùng cả nước vượt qua khó khăn.

“Giải cứu nông sản” - Đó là câu nói người Hải Dương nghe quen nhất trong những ngày phong tỏa. Khi hàng hóa đang nghẽn, trước hết chúng tôi tự cứu nhau. Lá lành đùm lá rách. Lá rách đùm nhau rồi cũng thành lành. Rau củ, ngô, bầu bí, ổi, cam, trứng… sau vài ngày đầu đóng băng, bắt đầu được rất nhiều chàng trai, cô gái Hải Dương đủ các ngành nghề, lứa tuổi, thành phần xuất thân, sau một đêm bỗng biến thành tình nguyện viên, xuống ruộng thu hoạch rau màu giúp đồng bào, theo những chuyến xe thiện nguyện chở đến điểm tập kết cố định như sân chùa hoặc các điểm chốt chặn, kêu gọi mua giải cứu hoặc đóng thành bịch lớn chuyển đến phát miễn phí cho từng nhà.

“Giải cứu nông sản Hải Dương” - đó cũng là câu bạn bè quanh tôi nói nhiều nhất những ngày này. Hải Dương vốn là tỉnh thuần nông. Ngoài những sản vật từ đất đai, chúng tôi không còn gì khác. Sản vật từ đất này đi khắp trong Nam ngoài Bắc và xuất khẩu ra nước ngoài. Dịch bệnh bùng phát, Hải Phòng - cửa ngõ thông thương chính của Hải Dương tuyên bố đóng cửa. Sự việc này tất nhiên gây nhiều tranh cãi và chỉ ngã ngũ sau hàng tuần bằng chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ. Nhưng chính trong những ngày khó khăn này, đầu cầu Hà Nội bắt đầu khởi động cụm từ “Giải cứu”. Đọc bài viết kể người Hà Nội đội nắng đi mua ủng hộ nông sản Hải Dương mà rơi nước mắt. Trong những người trực tiếp đứng giữa chang chang nắng bán hàng ấy có mặt bạn bè tôi. Họ bỏ tiền bạc, công sức, không đòi hỏi được trả lại bất cứ điều gì chỉ cốt để thu về giúp người nông dân những đồng bạc lẻ. Chỉ hai từ “Giải cứu” mà yêu thương biết bao!

Những cánh đồng trồng đào của nông dân ở Gia Lộc - Hải Dương đang được trồng lại sau một mùa thất bát
Những cánh đồng vụ xuân ở Gia Lộc


Không chỉ Hà Nội, Hải Dương chúng tôi còn xin cúi đầu trân trọng cám ơn nghĩa tình bạn bè bốn phương. Nếu như đợt mưa lũ lịch sử cuối năm 2020, Hải Dương đã hướng về đồng bào miền Trung bằng tất cả tấm lòng, làm tất cả những gì có thể để giúp đồng bào thì bây giờ đang được nhận ân tình trao lại. Cả đất nước, trong đó có các tỉnh miền Trung vừa gượng đứng lên trong đau thương mất mát, đang hướng về chúng tôi bằng tất cả tấm lòng. Những bài viết, lời thăm hỏi, những món quà… vẫn từng ngày, từng giờ chuyển tới và được người nhận trao gửi đến tận tay đồng bào tôi với niềm xúc động và biết ơn sâu sắc nhất.

Ngày thứ mười trong vòng phong tỏa, tôi còn viết về những âm thanh nghe thấy quanh   tôi.

Đó là âm thanh thông báo inbox của một người bạn: “Tình hình sao rồi chị?”

Tôi trả lời bốn bề yên tĩnh cả. Hiện giờ tất cả vẫn bình yên! Hải Dương sống chậm lại nhưng ngày mới của tôi vẫn bắt đầu từ 4h sáng. Lúc ấy, tiếng lịch kịch của tổ thu gom rác thải bắt đầu lan dọc đường làng. 365 ngày, đúng giờ ấy, âm thanh ấy không bao giờ sai hẹn. Và sau đó là tiếng chuông báo thức: “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui…” - chúng tôi khởi đầu ngày mới bằng niềm vui mình chọn.

Nhưng ngoài những âm thanh quen thuộc ấy, trong những ngày này chúng tôi còn nghe thấy gì?

Đó là tiếng loa trong hệ thống loa truyền thanh từ huyện, xuống các xã, thị trấn phát huy hết công suất, hoạt động từ hơn 5h sáng, tuyên truyền từ cách phòng chống dịch, những quy định của chính quyền đến chương trình văn nghệ... Đủ các thể loại. Từ Remix “Việt Nam ơi! Cùng đoàn kết chống Corona!”, đến Rap nhưng đoạn đầu nghe rất bi thương: “Corona thật đáng ghét! Chung tay mình vượt qua nhé! Hãy vì cộng đồng, ta tránh xa đám đông…” , đến hát chèo: “Năm nay là năm con Covit. Covit ới ì a…”, rồi đọc thơ, rồi địa phương ca: “Xuân này anh không về” nói về tâm sự của một người chiến sĩ (áo trắng, áo vàng, áo xanh…) nhắn nhủ vợ anh không về vì việc nước, nội ngoại, con cái nhờ em lo vẹn tròn, hẹn hò khi hết dịch, đất nước bình yên, gia đình mình đoàn tụ… Một không khí thời chiến nhưng rất náo nức, rộn ràng.

Đó là tiếng bước chân chạy huỳnh huỵch của con tôi trong trang phục thể dục, giày tất đầy đủ, cầm cây vợt cầu lông ngược lên gác. Nó quay video gửi thầy thể dục đang dạy online. Rồi cằn nhằn chưa gửi được vì thầy đặt chế độ không nhận tin nhắn từ người lạ.

Đó là tiếng hát chào cờ buổi sáng thứ hai hàng tuần qua màn hình Zoom. Tiếng một bà mẹ quát con ngồi vào lớp học. Tiếng chào nhau rộn ràng: “Hello giai đẹp! Cây của lớp em mang về chăm còn sống không?”. “Sống chứ cô! Mà sao cô lại ngồi dạy  trong  bếp  thế?”  “Ngồi  đâu  kệ  tôi!  Ảnh  hưởng  gì”.  “Vâng!  Tại  em  thấy  đằng  sau  cô  toàn  rau  củ.  Giải  cứu hả cô?”

Và  khi  tôi  ngồi  làm  việc  trước  sân  nhà,  nghe  tiếng chim hót trên vòm cây muỗm cổ và cả tiếng  sáo  diều  ngân  giữa  không  trung,  tôi  cứ  băn  khoăn  không biết ai đó vượt qua mấy trạm kiểm soát, ra  được  ngoài  đồng  mà  thả  con  diều  sáo?  Một  người  nông dân nào đó khi đi làm đã mang nó theo chăng?

Mùa  xuân  năm  nay  thật  đẹp.  Không  âm  u  mưa  phùn mà nắng lên trong vắt như đầu thu. Ngô lúa  ấm chân đã xanh đồng bãi. Bên cạnh những ruộng  hoa  màu  rau  củ  vẫn  còn  chất  đống  úa  nhàu,  cạnh  những  đống  cành  đào  khô  cao  như  núi  đã  thấp  thoáng  bóng  người  cặm  cụi  cắt  tỉa,  xới  vun.  Trên  những con đường vẫn vắng bóng người qua, hoa chè  đắng, hoa xoan đang bung nở, hoa muỗm, hoa nhãn  vẫn trổ rồng rồng.  

Mỗi bước qua đều nghe thấy chân mình đất thở,  nghe tiếng diều sáo gọi cả trời xanh mây trắng xôn  xao, tôi muốn nói cho bạn bè cùng biết: Những ngày  cuối cùng trong vòng phong tỏa mùa xuân đang đến  và Hải Dương vẫn bình an!

N.H.Y
(SHSDB40/03-2021)



 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • Trí thức là những người mà lao động hàng ngày của họ là lao động trí óc, sản phẩm của họ làm ra là những sản phẩm trí tuệ, nhưng sản phẩm ấy phải là những sản phẩm có ích cho xã hội...

  • Ở Huế ngày xưa, người học trò nào cũng có một “Tủ sách Học trò” riêng tư cho mình và nhà nào cũng có một “Tủ sách Gia đình” để dùng chung trong nhà. Người Huế rất trọng học vấn, rất trọng sự hiểu biết nên rất trọng sách. Vì vậy, họ cất sách rất kỹ. Họ thường cất sách để làm kỷ niệm riêng tư cho mình về sau đã đành mà họ còn cất sách để dành cho đám đàn em con cháu của họ trong gia đình, dùng mà học sau nầy. Người Huế nào cũng đều cùng một suy nghĩ là ở đời, muốn vươn lên cao thì phải học và đã học thì phải cần sách. Đối với họ, sách quý là vậy. Lễ giáo Khổng Mạnh xưa cũng đã đòi hỏi mỗi người Huế thấy tờ giấy nào rớt dưới đất mà có viết chữ Hán “bên trên” là phải cúi xuống lượm lên để cất giữ “kẻo tội Trời”! Người xưa cũng như họ, không muốn thấy chữ nghĩa của Thánh hiền bị chà đạp dưới chân.

  • 1. Trung tâm văn hóa tôi muốn đề cập ở đây là thành phố Huế của tỉnh Thừa Thiên Huế. Đã là một Trung tâm văn hóa thì bao giờ cũng quy tụ nhiều nhân tài lớn, trên nhiều lĩnh vực, từ mọi miền đất nước, thậm chí từ cả ngoài nước, trải qua nhiều thế hệ, nhiều thử thách khó khăn mới vun đắp lên nổi một truyền thống, mà có được truyền thống văn hóa lại càng khó khăn hơn. Trong bài viết này tôi chưa đề cập tới những nhà khoa học, những nhà văn hóa và văn nghệ sĩ xuất sắc đang sống và hoạt động tại Thừa Thiên Huế, mà tôi chỉ muốn nói tới chủ yếu các vị đã qua đời nhưng đã để lại dấu ấn sâu đậm, lâu dài cho mảnh đất này, góp phần quan trọng hình thành nên truyền thống văn hóa Huế.

  • Trên thế giới có nhiều nền văn hóa khác nhau. Trong mỗi nước, ngoài mẫu số chung về nền văn hóa của cả dân tộc, còn có văn hóa vùng miền được phân định căn cứ vào đặc điểm nhân văn riêng của từng nơi. Nơi nào có được tính cách nhân văn đặc thù thì nơi ấy có văn hóa địa phương hay văn hóa bản địa. Một từ mà các nhà văn hóa học năng sử dụng khi đề cập đến lĩnh vực này là “bản sắc”. Nếu dùng từ bản sắc làm tiêu chí để nhận diện văn hóa thì Việt Nam có nền văn hóa riêng của mình, trong đó có văn hóa Huế.

  • Tôi quê Hà Tĩnh, nhưng lại sinh ra ở Huế, khi ông cụ tôi ngồi ghế Phủ Doãn, tức là “sếp” cái cơ quan đóng bên bờ sông Hương ở giữa Bệnh viện Trung ương Huế và Trường Hai Bà Trưng - Đồng Khánh xưa, nay đang được xây dựng to đẹp đàng hoàng gấp nhiều lần ngày trước. (Thời Nguyễn phong kiến lạc hậu, nhưng lại có quy chế chỉ những người đậu đạt cao và thường là người ngoại tỉnh mới được ngồi ghế Phủ Doãn để vừa có uy tín, học thức đối thoại được với quan chức trong Triều, vừa tránh tệ bênh che hay cho người bà con họ hàng chiếm giữ những chức vụ béo bở. Nói dài dòng một chút như thế vì nhiều bạn trẻ thời nay không biết “Phủ Doãn” là chức gì; gọi là “Tỉnh trưởng” cũng không thật đúng vì chức Phủ Doãn “oai” hơn, do Huế là kinh đô, tuy quyền hành thực sự người Pháp nắm hầu hết).

  • *Từ tâm thức kính sợ trời đất đến lễ tế Giao: Từ buổi bình minh của nhân loại, thiên nhiên hoang sơ rộng lớn và đầy bất trắc, với những hiện tượng lạ kỳ mưa gió, lũ lụt, sấm chớp, bão tố... đã gieo vào lòng người nhiều ấn tượng hãi hùng, lo sợ. Bắt nguồn từ đó, dần dần trong lịch sử đã hình thành tập tục thờ trời, thờ đất, thờ thần linh ma quỷ. Đó là nơi trú ẩn tạo cảm giác an toàn cho con người thuở sơ khai. Ở phương Đông, tập tục thờ cúng trời đất, thần linh gắn liền với việc thờ cúng tổ tiên, ông bà, phổ biến từ trong gia đình đến thôn xóm, làng xã. Khi chế độ quân chủ hình thành, một số triều đình đã xây dựng những “điển lệ” quy định việc thờ cúng trời đất, thần linh, với những nghi thức trang trọng, vừa biểu thị quyền uy tối thượng của nhà vua, vừa thể hiện khát vọng mong cầu quốc thái dân an, thiên hạ thái bình, phong hoà vũ thuận của muôn dân.

  • Sông Hương thuộc loại nhỏ của Việt Nam, nhưng với Thừa Thiên Huế có thể nói là “tất cả”. Hệ thống sông Hương cung cấp nước, tạo môi trường để phát triển gần như toàn bộ nền kinh tế - xã hội của Thừa Thiên Huế, đặc biệt sông Hương còn là biểu tượng của Huế, hai bên bờ mang nặng di sản văn hoá nhân loại. Nhưng đồng thời nó cũng đưa lại những trận lụt lớn vào mùa mưa, nhiễm mặn vào mùa hè...

  • Huế được Chính phủ xác định là một trong 5 thành phố cấp quốc gia, nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm của miền Trung, cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp, dịch vụ du lịch. Quá trình phát triển đô thị, Huế đồng thời cũng đứng trước những thử thách mới, còn nhiều bất cập nhưng Huế vẫn giữ được nét kiến trúc riêng. Hình ảnh một thành phố mà kiến trúc và thiên nhiên hoà quyện, phải chăng đó là bản sắc Huế, khó trộn lẫn với bất kỳ một đô thị nào khác trong cả nước.

  • I. Toàn cầu hóa và lý luận văn học: I.1. “Toàn cầu hóa” làm cho “thế giới trở nên phẳng” (Thomas F.Fredman). Lý luận văn học là một lĩnh vực khoa học nhằm cắt nghĩa, lý giải, khái quát văn chương, đặt trong khung cảnh đó, nó cũng được “thế giới hóa”, tính toàn cầu hóa này tạo nên một mặt bằng chung, hình thành một ngôn ngữ chung. Từ đó mới có sự đối thoại, tiếp biến học hỏi lẫn nhau giữa các nền lý luận của các châu lục, quốc gia tạo nên một thể thống nhất trong đa dạng.

  • Đêm Nguyên tiêu 15 tháng giêng Quý Mùi 2003, thực hiện chủ trương của Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế, Chi hội Nhà văn Việt Nam tại TTH đã tổ chức trên sông Hương một đêm thơ rất tuyệt vời. Ban tổ chức cho biết Hội Nhà văn Việt Nam đã được phép quyết định kể từ năm nay lấy ngày 15 tháng giêng âm lịch hằng năm làm Ngày Thơ Việt Nam. Quyết định ấy lay động tâm trí tôi vốn đang ưu tư với Huế Thành phố Festival, thay vì đọc thơ, trong đêm Nguyên tiêu ấy tôi đã phác họa sơ lược về một Festival thơ. Không ngờ ý kiến của tôi được Đêm thơ Nguyên tiêu hưởng ứng và các nhà thơ đã đề nghị tôi nên thực hiện một Hồ sơ cho Festival Thơ.

  • Trí thức trong bất cứ thời đại nào và ở đâu cũng là một nguồn lực quan trọng, là sức mạnh tinh thần nối kết truyền thống của dân tộc với thành tựu trí tuệ của thời đại. Khi nguồn lực trí tuệ của đội ngũ trí thức gắn kết được với sức mạnh cộng đồng thì xã hội sẽ có những chuyển biến tích cực. Ngược lại, nguồn lực trí tuệ không được phát huy thì năng lực phát triển của xã hội sẽ bị suy thoái. Thừa Thiên Huế có một thời là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của Đàng Trong và trở thành kinh đô của cả nước. Vì thế Huế đã từng là nơi hội tụ nhiều thế hệ trí thức tinh hoa của đất nuớc. Lớp trí thức lớn lên tại Thừa Thiên Huế có điều kiện tiếp cận với những thiết chế và sinh hoạt văn hoá, học thuật có tầm cở quốc gia (Quốc Tử Giám, Quốc Sử Quán, Hàn Lâm Viện, Thái Y Viện. Khâm Thiên Giám.. ), năng lực trí tuệ của trí thức ở kinh kỳ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển, cả trên lĩnh vực tư duy sáng tạo và quản lý, thực hành.

  • I. Sự hình thành và phát triển hệ thống đường phố ở Huế: Trước khi Huế được chọn để xây dựng kinh đô của nước Việt Nam thống nhất, đất Phú Xuân - Huế kể từ năm 1738 đã là nơi đóng đô thành văn vật của xứ Đàng Trong dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Rồi Phú Xuân lại trở thành kinh đô Đại Việt của nhà Tây Sơn. Năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh toàn thắng quân Tây Sơn; từ Thăng Long ông trở về Phú Xuân, chọn lại đất ấy, lấy ngày lành, lên ngôi vua, xưng hiệu là Gia Long. Tháng 5 năm 1803, nhà vua sai người ra ngoài bốn mặt thành Phú Xuân, xem xét thực địa, định giới hạn để xây dựng kinh thành mới. Trên cơ sở mặt bằng thành Phú Xuân cũ, lấy thêm phần đất của 8 làng cổ lân cận, mở rộng diện tích để xây dựng nên một kinh thành rộng lớn hơn trước. Cùng với việc xây dựng thành quách, cung điện, nha lại, sở ty... thì đường sá trong kinh thành cũng được thiết lập.

  • Thừa Thiên Huế là thủ phủ Đàng Trong thời các chúa Nguyễn, là kinh đô của cả nước dưới thời Tây Sơn và triều Nguyễn, nay là cố đô, một trong những trung tâm văn hoá và du lịch quan trọng của Việt Nam , trải qua quá trình đô thị hoá, vừa mang dấu ấn của một đô thị cổ phương Đông, vừa có đặc trưng của một đô thị mới. Để góp phần định hướng phát triển và tổ chức quản lý vùng đất nầy, một trong những việc cần làm là nên soát xét lại kết quả của quá trình đô thị hóa để lựa chọn những giải pháp quản lý phù hợp.

  • Trong quá khứ, mảnh đất Phú Xuân - Huế đã được chọn để đóng đô thành của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, rồi đến kinh đô Đại Việt của nhà Tây Sơn Nguyễn Huệ, sau nữa là kinh đô Việt Nam thống nhất dưới thời họ Nguyễn Phúc trị vì và cuối cùng trở thành cố đô từ sau Cách mạng Tháng 8.1945. Huế đã và đang là thành phố Festival - một thành phố lễ hội mang nhiều thành tố văn hóa đặc trưng của Việt Nam theo một quy chế đặc biệt. Để có cái nhìn khách quan về lịch sử, thiết nghĩ, chúng ta hãy điểm lại vài nét quá trình đi lên của thành phố Huế để trở thành đô thị loại I - đô thị đặc biệt hôm nay.

  • Hội nghị cán bộ Việt Minh mở rộng vào cuối tháng 4 đầu tháng 5/1945 diễn ra trên đầm Cầu Hai đề ra chủ trương lớn để phát triển phong trào cách mạng tỉnh Thừa Thiên Huế, chuẩn bị cùng cả nước khởi nghĩa cướp chính quyền khi có thời cơ. Sau hội nghị, phong trào cách mạng phát triển đều khắp trong toàn tỉnh. Đầu tháng 8, được tin quân đội Nhật bị quân đồng minh đánh bại ở nhiều nơi, nhất là ở Mãn Châu Trung Quốc, Thường vụ Việt Minh dự đoán ngày Nhật theo chân phát xít Đức bị đánh bại không còn xa, đã quyết định đẩy mạnh chuẩn bị khởi nghĩa. Giữa tháng 8 được tin Nhật Hoàng sẵn sàng đầu hàng, Thường vụ Việt Minh chỉ đạo các huyện khởi nghĩa. Sau khi tất cả các huyện phụ cận Huế khởi nghĩa thành công, ngày 20/8 Thường vụ Việt Minh triệu tập 6 huyện bàn quyết định chọn ngày 23.8.1945 là ngày khởi nghĩa giành chính quyền. Cũng ngay chiều ngày 20.8.1945 phái đoàn Trung ương có cụ Hồ Tùng Mậu, anh Nguyễn Duy Trinh và anh Tố Hữu đã đến Huế, vì Huế là thủ đô của chính quyền bù nhìn lúc bấy giờ. Khởi nghĩa ở Huế mang sắc thái đặc biệt có tính chất quốc gia. Ta giành lại chính quyền không phải từ tay một tỉnh trưởng mà là từ triều đình nhà Nguyễn - Bảo Đại ông vua cuối cùng, bên cạnh Bảo Đại lại có cả bộ máy chính quyền Trần Trọng Kim do Nhật lập ra. May mắn thay đoàn phái bộ Trung ương vào kịp thời nên vẫn giữ nguyên ngày khởi nghĩa (23.8.1945). Đêm 20.8.1945 cuộc họp của phái đoàn Trung ương và Thường vụ Tỉnh ủy thông qua kế hoạch khởi nghĩa của tỉnh và cử ra Ủy ban khởi nghĩa gồm có: anh Tố hữu là Chủ tịch đại diện cho Trung ương, tôi làm Phó Chủ tịch (PCT) đại diện cho Đảng bộ và Mặt trận Việt Minh địa phương cùng một số ủy viên: Lê Tự Đồng, Lê Khánh Khang, Hoàng Phương Thảo, Nguyễn Sơn...

  • Ba mươi năm trước, cùng với lực lượng cách mạng, những người làm Báo Cờ Giải Phóng của Đảng bộ Thừa Thiên Huế sôi nổi chuẩn bị số báo đặc biệt và có mặt trong đoàn quân tiến về giải phóng quê hương. Tháng 10/1974, chúng tôi được tham gia hội nghị Tỉnh ủy mở rộng bàn về đẩy mạnh nhiệm vụ đánh kế hoạch bình định, mở rộng vùng giải phóng nông thôn đồng bằng, phối hợp có hiệu quả với các chiến trường, góp phần giải phóng miền Nam, Thường vụ Tỉnh ủy giao nhiệm vụ cho Báo Cờ Giải Phóng ra số báo đặc biệt, nội dung phong phú, hình thức hấp dẫn để chuyển tải khí thế cách mạng miền Nam và trong tỉnh, đưa mệnh lệnh, lời kêu gọi của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Thừa Thiên Huế và các chính sách của Mặt trận đối với vùng giải phóng.

  • Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc, lực lượng an ninh huyện Phú Vang đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, với 95 thương binh, 135 liệt sĩ và không có một cán bộ, chiến sĩ nào đầu hàng phản bội, lực lượng an ninh huyện Phú Vang và 4 cán bộ an ninh huyện đã được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.

  • Trong mọi thời đại Hoàng đế và kẻ sĩ có mối quan hệ đặc biệt. Đó là mối quan hệ giữa người cầm quyền và người trí thức có nhân cách và tài năng. Khi Hoàng đế là minh quân thì thu phục được nhiều kẻ sĩ, khi Hoàng đế là hôn quân thì chỉ có bọn xu nịnh bất tài trục lợi bên mình còn kẻ sĩ bị gạt ra ngoài thậm chí có khi bị giết hại. Lịch sử bao triều đại đã chứng minh điều đó. Mối quan hệ giữa Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ và La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp của thế kỷ XVIII là cuộc hội ngộ lớn, mang đến nhiều lợi ích cho quốc gia và có ý nghĩa cho muôn đời. Nguyễn Huệ và Nguyễn Thiếp đều sống trong bối cảnh triều Lê suy tàn, chúa Trịnh lộng hành, chúa Nguyễn mới nổi dậy. Sau gần 300 năm hết nội chiến Lê Mạc đến Trịnh Nguyễn phân tranh đời sống nhân dân vô cùng khốn khổ. Trong bối cảnh đó Nguyễn Huệ cùng anh là Nguyễn Nhạc dựng cờ khởi nghĩa, Nguyễn Thiếp cáo quan về ở ẩn.

  • Năm 2008 là một năm khá kỳ lạ và đặc biệt của loài người. Nửa năm đầu, cả nhân loại thăng hoa với các chỉ số chi tiêu mà ngay cả các chiến lược gia kinh tế cũng phải bàng hoàng. Nửa năm cuối, quả bóng phát triển, ổn định bị lưỡi dao oan nghiệt của khủng hoảng đâm thủng nhanh đến nỗi hàng ngàn đại gia bị phá sản rồi, vẫn chưa lý giải nổi hai chữ “tại sao”. Bất ổn và đổi thay còn chóng mặt hơn cả sự thay đổi của những đám mây. Không phải ngẫu nhiên mà người Nhật lại chọn từ “thay đổi” (kanji) là từ của năm, vì B. Obama đã chiến thắng đối thủ bằng chính từ này (change)...

  • Bạn đọc thân mến! Hiệp hội Đo lường Thời gian quốc tế đã quyết định kéo dài thời gian của năm 2008 thêm 1 giây, và chúng ta đã chờ thêm 1 giây để đón chào năm mới. Sau thời khắc 23 giờ 59 phút 59 giây của ngày 31.12.2008, không phải là giây đầu tiên của năm mới mà phải sau thời khắc 23 giờ 59 phút 60 giây cùng ngày, năm 2009 - năm lẻ cuối cùng của thế kỷ 21, mới chính thức bắt đầu. Nhân loại đã có thêm một giây để nhìn lại năm cũ và bước sang năm mới. Và trong một giây thiêng liêng ấy, chắc chắn nhiều ý tưởng sáng tạo đã xuất hiện, nhiều tác phẩm nghệ thuật vừa hoàn tất, âm tiết cuối của câu thơ cuối một bài thơ vừa được nhà thơ viết xong và buông bút mãn nguyện. Cùng với ly rượu vang sóng sánh chúc mừng năm mới được nâng lên, cái đẹp, cái cao cả tiếp tục xuất hiện để phụng sự nhân loại và chắc chắn, những nụ hôn của tình yêu thương đã kéo dài thêm một giây đầy thiêng liêng để dư vị hạnh phúc còn vương mãi trên môi người.