HOÀNG TỐ MAI
"Ta muốn nhìn bông hoa đen nở nụ, trên cánh mỏng là đường diềm trắng gấp khúc uốn lượn, giá mà ta được nhìn thấy".
Tác giả Hoàng Tố Mai. Sinh năm 1972. Nguyên học viên khóa 4 Trường viết văn Nguyễn Du
Thỉnh thoảng chị tôi viết mấy dòng chữ này vào những mẩu giấy bất kỳ nhất là khi trời đổ mưa phùn rỉ rách. Lúc ấy ngoài trời vắng tanh, ở đâu cũng đầy bùn và mùi ẩm ướt. Chỗ nào cũng đầy mùi ẩm ướt. Trời càng lạnh.
Năm nay đợt mưa kéo dài và đến từ tháng mười. Chị tôi nằm bẹp trên giường cả ngày, đôi lúc ngồi than:
- Đến cả hơi thở cũng bị vẩn đục. Miền khí hậu ải mục sinh ra mọi điều khổ sở. Sao không tạnh hả mưa?
Khó có thể nói khi nào trời tạnh. Ngớt được một lúc rồi mưa lại đổ xuống. Chỉ còn cách giải trí là đọc sách. Trong nhà còn mỗi cuốn "Đồi gió hú" của ai để quên. Chị tôi đọc lại nhiều lần và đọc to lên những đoạn mình thích. Bây giờ tôi vẫn nhớ mang máng, đấy là những dòng tả về giấc mơ của Lốchút. Trong giấc ngủ nặng nề anh ta nghe thấy cành linh sam đập vào cửa sổ. Lốchút đập vỡ cửa kính thò tay bẻ nó đi nhưng anh nắm phải bàn tay bé nhỏ lạnh buốt. Một giọng cực kỳ ảo não cất lên nức nở:
"Để cho tôi vào... Để cho tôi vào! "
“Người là ai?”
"Cathơrin Lincơn"... "Tôi đang về nhà. Tôi đã lạc trên đồng hoang".
Và trên cửa sổ lờ mờ một khuôn mặt trẻ thơ. Lốchút kinh hoàng cứa đi cứa lại cổ tay bé nhỏ cho đến khi máu chảy ướt đầm khăn trải giường.
"Đã hai mươi năm rồi đấy" giọng nói sầu thẳm "Hai mươi năm. Tôi là một linh hồn bơ vơ hai mươi năm ròng".
Chị tôi còn đọc vài đoạn tả đồng hoang tàn tạ. Tôi đồ chừng việc đọc sách có gì không ổn, sau mỗi trang da mặt chị thêm tái nhợt rồi trở mình mệt mỏi. Thế là tôi cất luôn nó vào tủ.
Cuộc sống của chị em tôi không chỉ đơn điệu như vậy. Thỉnh thoảng tôi có gọi vài đứa trẻ con sang cho vui, con của ông thợ gần đấy. Con chị lên bảy, đứa em lên ba. Mỗi khi chúng nó sang không khí ấm áp hẳn. Ở đây xa đô thị ồn ào nên vẻ ngây thơ trong trẻo của hai đứa trẻ dường như nguyên vẹn. Những đôi mắt một mí mở to đầy ngạc nhiên trước bất cứ chuyện gì. Chúng nó có vẻ e dè và kính nể chị tôi hơn. Chị có trò chơi dường như phù phép, có thể hái những bông hoa vẽ trên bức tranh cổ làm bọn trẻ sợ đến mức không dám cầm nữa (cũng dễ hiểu vì vườn nhà tôi trồng loại hoa này). Khi hứng lên chị còn kể chuyện cho tôi nghe, giọng kể thật kỳ lạ nghe trăm lần không chán. Anđecxen chắc cũng ngạc nhiên khi có người kể chuyện của mình hay như vậy. Một hôm con chị chẳng biết làm sao thốt lên đầy hào hứng:
- Chồng của cô giáo cháu bị đau tim.
Tôi rất buồn cười nhưng chị nhíu mày vờ ngạc nhiên.
- Sao cơ?
- Chồng của cô giáo cháu bị đau tim - con bé thì thầm nhắc lại.
Chị cười ngặt nghẽo rồi nghiêm túc.
- Đây có thể là đầu đề một bài thơ hay.
Tôi cũng nhận thấy là như vậy.
Những buổi tối như vậy dần dần thưa đi, bọn trẻ lớn lên không còn cả tin như trước. Riêng chuyện cổ chẳng bao giờ chán được, chẳng bao giờ.
Gần đây chị yếu đi, trong giấc ngủ thảng thốt bông hoa đen nào đó. Chỉ còn cách đắp thêm chăn và sửa tư thế nằm cho chị.
Buổi sớm, tôi lặng lẽ ra vườn hái một nhành cẩm chướng trắng muốt rồi cắm vào lọ mực tàu. Lúc sau cánh hoa hằn lên vài vệt đen nhỏ như vết xước. Bây giờ bông hoa mang vẻ đẹp kỳ lạ. Tôi nhẹ nhàng đặt nó vào chiếc cốc sành khô ráo và mang đến đầu giường:
- Em đưa đến cho chị điều mơ ước, có điều hơi đảo ngược. Những bông hoa ấy đây.
Chị nhìn rất lâu bông hoa rồi nhẹ nhàng:
- Đây là quà cưới, cô dâu trinh bạch đầy vẻ u sầu và hồi ức đượm màu u ám. Nói xong chị trở mình ngủ tiếp, tới chiều thì mất. Ngoài trời mưa phùn đổ mù mịt, tiếng rơi nhè nhẹ mênh mông.
Buổi tối, ông thợ mộc bê sang cỗ quan tài mới sơn, bầy trẻ cầm theo thẻ hương đỏ. Những đôi mắt tò mò sợ hãi.
Hôm đưa đám thì mưa dứt. Bầu trời quang quẻ, mây đã lùi xa. Mặt đất bùn se lại đọng trắng xóa bụi cúc tần xanh ngắt. Đi trong ngày khô ráo, chị có mừng không? Một bà già lại gần tôi an ủi.
- Chị mày đau từ trong bụng mẹ, làm sao trường thọ được! Ráng chịu nghe con.
Tất nhiên là vậy, tôi còn làm gì được hơn.
Tháng mười trôi đi nhanh, tôi quyết định chuyển nhà và phát hiện một chuyện bất ngờ. Khi soạn lại va li quần áo cũ tôi tìm được một quyển sổ tay mỏng. Trong ấy kẹp vài tờ bản thảo, có cái đã in rồi, tác giả là chị tôi hồi mười tám. Có khá nhiều thư của độc giả gửi theo cả ảnh làm quen. Cô gái đầu tiên trông trắng trẻo, đôi mắt nhìn thiểu não.
"Em đã buồn đúng mười năm!". Một dòng chữ thẳng tắp.
"Thế ư?" Nét chữ nghiêng ngả của chị tôi trễ nải. Những ảnh khác đều phảng phất dáng vẻ bệnh hoạn, cô đơn. Cũng có người trông nghiêm túc, bình thường như nhà giáo. Những trang bản thảo chép tay chữ xấu không đọc nổi, lật đến trang cuối tôi đọc được mấy dòng này.
"Ta đã nhìn thấy bông hoa đen nở nụ, cánh nổi mờ đường diềm trắng mọc trên đồng mênh mông. Gió lùa nhẹ và bầu trời màu chì cao xa vời vợi. Cuối cùng thì ta đã nhìn thấy".
Thấy cái gì nhỉ? Tôi không chứng kiến giấc mơ cuối cùng của chị. Tôi còn tìm được một băng nhạc cũ có in hình nhóm "Beatles". Đêm đến tôi bật máy, đấy là những bài ca hay tuyệt gợi hồi ức đầy màu sắc. Màu vàng, màu đỏ, có cả màu gì đó nâu xỉn và hoen ố. Tôi không thấy màu nào hồng cả, không hề thấy.
Khi băng nhạc tắt lịm, có tiếng cười khanh khách vang vọng: "Quá khứ đấy, em thấy sao?". "Đáng kể lắm, em chẳng có gì như vậy"...
Bao giờ tôi cũng mơ ước những điều giản dị, đơn sơ như đôi mắt mở to của bọn nhỏ. Hay người lớn có tâm hồn đồng điệu cho dù là kẻ phạm tội hay con sói già tru gào thảm thiết khi bầy đàn bị tiêu diệt không một con sống sót trở về.
11-1989
H.T.M
(TCSH43/06-1990)
Tải mã QRCode
QUỐC THÀNH - Xin người hoàn lại xiêm y cho ta - một thiếu nữ ngâm mình trong làn nước thơm khẩn khoản. - Mộng ba năm, bây giờ mới có, ta chỉ muốn nàng hứa một lời là được - chàng trai trẻ quay lưng về phía mặt hồ vòi vĩnh.
NGUYỄN THẾ TƯỜNG Sáng nay, ông Tổng biên tập gọi tôi tới bảo đi ngay dự lễ khánh thành một chiếc cầu. Tôi loáng quáng xách máy chạy ra xe, không kịp cả dặn vợ cắt cơm trưa.
L.T.S: Trần Duy Phiên, người thôn Thanh Thủy Chánh, huyện Hương Điền, Bình Trị Thiên, là một trong những cây bút truyện ngắn chủ chốt của chóm “Việt” - nhóm sáng tác trẻ trong phong trào đấu tranh chống Mỹ - ngụy xuất phát ở Huế trước đây.
DƯƠNG PHƯỚC THUNgôi nhà lợp phi-brô xi-măng rộng chừng ba chục thước vuông, nằm sát cổng ra vào xí nghiệp dệt, biệt lập ngoài khu sản xuất, núp dưới tán lá cây bàng, được xây từ ngày xí nghiệp xảy ra các vụ mất cắp vật tư.
LÊ CÔNG DOANHChuyến đò dừng lại ở bến cuối cùng khi mặt trời vừa khuất sau rặng tre bên kia sông. Hiếu nhảy lên bờ và bước đi trong cảm giác chòng chành bởi gần trọn một ngày phải ngồi bó chân trong khoang đò chật.
L.T.S: Tác giả Hoàng Nguyệt Xứ tên thật là Hoàng Trọng Định, từng in truyện và thơ trên Sông Hương và nhiều tạp chí văn nghệ khác. Tác phẩm của anh để lại dấu ấn trong dòng chảy văn học của Huế với những truyện ngắn đậm tính triết lý, văn phong ám gợi sâu xa.Truyện dưới đây được Sông Hương dàn trang lúc anh còn sống... trân trọng gửi tới bạn đọc; cũng là nén tâm nhang xin chia buồn cùng người thân của anh.
TRẦN THÙY MAINếu cuộc đời được hình dung như một con đường thỉnh thoảng lại băng qua ngã tư, ngã ba hay rẽ ngoặt thì trong đời tôi có hai khúc quanh lớn nhất.
THÙY ANHồi nhỏ, tôi có cái tật làm nớt. Hở một chút là nước mắt tuôn ra giọt ngắn giọt dài. Anh chị xúm lại chọc: “Lêu lêu, mu khóc móc kh… ruồi bu kiến đậu…”, nhưng mẹ thì không, chỉ an ủi dỗ dành.
TRẦN HỮU LỤCKhi từ biệt làng nổi trên sông, ông Ngự tưởng mình quên được chiếc bóng vật vờ trên sông nước, quên bốn mươi năm gắn bó với những vạn đò. Ông Ngự chỉ mang theo đứa con gái duy nhất và cái máy bơm nước hiệu Yama của Nhật Bản đến vùng đất mới.
NGUYỄN QUANG LẬPQuá nửa đời người anh chị mới gặp nhau. Âu đó cũng là chuyện thường tình. Sau hai mươi mốt phát đại bác vang trời báo tin ngày toàn thắng, có hàng ngàn cặp vợ chồng cách biệt hàng chục năm đã tìm lại nhau.
Câu đối vô danh
PHẠM NGỌC TÚYMột buổi chiều như bao buổi chiều khác, Kim ngồi ở bàn giấy với trang viết đang chi chít chữ. Tiếng chuông điện thoại kêu vang dòn dã vào một thời điểm không thích hợp; thầm mong người nào gọi lộn máy Kim uể oải nhấc ống nghe lên.
BẠCH LÊ QUANG(Người đàn bà gối giấc ngủ trên cánh tay của biển - Thơ LHL)
NGUYỄN XUÂN HOÀNGLão Hinh lồng lộng như một con chó già bị mắc bẫy. “Mày cút khỏi nhà tau. Nhà tau không chứa chấp đứa con gái hư hỏng như mày…”. Miệng chửi, tiện tay lão vứt túi xách của Hằng ra đường. Chiếc túi nhỏ đã sứt quai, màu bạc thếch rơi tọt xuống miệng cống.
MAI SƠNRa khỏi cổng cơ quan quân sự tỉnh, ông Năm gần như muốn la lên - niềm sung sướng vỡ òa trong lòng ông, hiện thành đường nét trên mặt mũi. Dù biết có người lính cảnh vệ đang đứng nghiêm nhìn theo, ông không ngăn được, vẫn bật lên tiếng cười “khà, khà”…
HOÀNG GIÁBên kia sông, làng Mả-Mang, có cụ già trăm tuổi quy tiên, Thầy Khâu-đà-la chèo con thuyền nhỏ vượt dòng sông Dâu sang làm lễ.
HỒ ĐĂNG THANH NGỌC1.Hiu hiu gió thổi qua quán nhậu vỉa hè một xế trưa năm ba người tranh thủ chút thì giờ ngồi tán chuyện chỉ đủ phơ phất mấy tờ giấy lau đũa dùng xong được quẳng xuống nằm lớt thớt dưới đất.
NGUYÊN QUÂNQuyết thận trọng len qua khoảng vườn, đêm tối mịt mùng, không gợn chút ánh trăng sao, anh đi lần bước theo ký ức, cố gắng tránh gây tiếng động. Những cái lá khô giòn, nhành cây mục vương vãi làm anh bực mình chửi thầm “Mẹ nó, biết thế này hồi chiều chịu khó quét dọn chừ đỡ khổ”.
NGUYỄN ĐẶNG MỪNG Để tưởng nhớ nhà thơ Hoàng Cầm
PHAN THỊ THU QUỲVợ chồng Bình và Lựu đang sống ở Kim Long một làng ven sông Hương thơ mộng, nổi tiếng có quán ăn ngon, khách lui tới tấp nập. Cả hai người lòng buồn tê tái khi Bình có lệnh đổi vô Tây Nguyên. Tốt nghiệp đại học Luật xong Bình bị chính quyền cũ bắt vô lính, chạy mãi được làm lính văn phòng tại quê, nay phải đi xa thật lo lắng, buồn nản. Mai Bình phải lên đường cấp tốc. Ôi! Rủi ro, khác gì một hoạn nạn đến.