NHỤY NGUYÊN
Đọc bài thơ, thương hốc mắt sâu thẳm của người mẹ chờ con lạc lối, bơ vơ ngay trên ngọn sóng quê nhà.
Đảo An Bang thuộc huyện Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa. Ảnh: VOV.
|
Thật sự bồi hồi khi đứng trước Ngôi nhà ngó mặt ra đại dương. Chữ “ngó” ở đầu đề như ngọn hải đăng giữa biển khơi, dẫn dụ người đọc. Nếu là “ngoảnh” (ngôi nhà ngoảnh mặt ra đại dương), đơn thuần chỉ hướng, vị trí, không gian ngôi nhà tọa lạc. Nhưng “ngó” - ánh nhìn xa xăm, buồn, mỏi mòn, hy vọng, thì ngôi nhà đã mang thân phận. Hình dung về một bà mẹ già nua ngồi sâu hút trong trong ngôi nhà, khuôn mặt dú vào bóng tối, chỉ đôi mắt sáng dõi ra đại dương mênh mông sóng tìm kiếm những con thuyền, những người thân bặt tăm suốt nhiều ngày. “Gió đã về thật rồi từ chiều hôm qua”. Gió ở đây là tín hiệu của tin buồn, đến cả còng gió cũng “nhổm mình ngơ ngác”. Đàn còng gió non nhổm mình ngơ ngác, ai có thể viết hay hơn? “Đàn còng gió non”, bơ vơ như bầy chim mới nở đợi mẹ kiếm mồi về, nhấp nhổm trước làn gió lạnh. Mức độ gió được nhân lên ở khổ thơ thứ 2, thành giông. “Bầy hải cầm tan tác.../ trở về rối rít chuyện mùa phiêu bạt”; luồng gió nhẹ nguyên sơ không ngăn nổi bão biển, để đôi mắt trong ngôi nhà mong manh thân phận ấy “dõi ra trùng dương xanh mướt”. Và dưới đây là những dòng thơ nghẹn đắng: Ngôi nhà từng vật vờ gió bạt ngắm sao khuê Đã từng mẹ gục đầu vào di ảnh những người con không về nữa Đã từng tối mắt quầng thâm chờ bão lửa Đọc bài thơ, thương hốc mắt sâu thẳm của người mẹ chờ con lạc lối, bơ vơ ngay trên ngọn sóng quê nhà. Hình ảnh “Tổ tiên níu chặt dưới chân đước, chân tràm” độc đáo. Ở vùng đất thường bị xâm thực, cây đước là người lính, là anh hùng gồng ngực che chắn từng tấc đất. Câu thơ là vệt sáng bật hé song đủ để độc giả nhận diện nỗi niềm lớn. Hai câu cuối: “Đêm nay gió đã về thật rồi reo ở phía cửa Đông/ Khêu ngọn lửa bừng cao sưởi ấm những đồng bào đã mất...”; đôi mắt bên ngọn đèn lắt lay trong ngôi nhà vẫn phải là niềm tin cho những ai giữa sóng gió thời cuộc hướng đến. Ngôi nhà ngó mặt ra đại dương chân thành, nhiều hình ảnh xúc động, toát lên thân phận con người phía biển đông ngày đêm vỗ sóng vào biên ải... 14/12/2010
|
Tải mã QRCode
NGUYỄN ĐỨC TÙNG
Trong thơ trữ tình, lịch sử không tồn tại. Trường ca làm chúng tồn tại.
(Ý kiến của Nguyễn Văn Bổng, Xuân Cang, Nguyễn Kiên, Hà Minh Đức, Hoàng Ngọc Hiến)
Sách chuyên khảo “Sự ra đời của đế chế Nguyễn” của A.Riabinin tiến sĩ sử học Xô Viết nghiên cứu lịch sử xã hội - chính trị của Việt Nam vào đầu thế kỷ XIX.
LÊ MINH PHONG
(Nhân đọc: Rừng khô, suối cạn, biển độc… và văn chương của Nguyễn Thị Tịnh Thy, Nxb. Khoa học xã hội, 2017).
TRẦN VIẾT ĐIỀN
Trong sách “Nhìn lại lịch sử”, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2003, tác giả Phan Duy Kha viết bài “Một bài thơ liên quan đến lăng mộ vua Quang Trung”.
BÙI KIM CHI
“Tháng Tám năm Ất Dậu (1945)… Là công dân Việt Nam nên tôi đã tham gia phong trào chống xâm lăng…”. (Truyện ngắn Mũi Tổ).
TRƯƠNG THỊ TƯỜNG THI
Thuật ngữ triết luận gắn với tính trí tuệ hay tính triết lý trong văn học nói chung và trong thơ ca nói riêng xuất hiện từ rất sớm.
NGUYỄN THẾ QUANG
Nói đến nhà văn Nguyễn Khắc Phê thì không gì bằng đọc cuốn tự tuyện của anh. Số phận không định trước(*) đưa ta đi suốt cuộc hành trình sáng tạo nghệ thuật bền bỉ quyết liệt suốt năm chục năm qua của anh.
NGUYỄN HỮU SƠN
Thiền sư Vạn Hạnh (?-1018) gốc họ Nguyễn, người hương Cổ Pháp (nay thuộc phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh), thuộc thế hệ thứ mười hai dòng Thiền Nam phương Tì Ni Đa Lưu Chi.
NGUYÊN QUÂN
Một cảm nhận thật mơ hồ khi cầm trên tay tập sách, vừa tản văn vừa tiểu luận của nhà văn Triệu Từ Truyền gởi tặng. Sự mơ hồ từ một cái tựa rất mơ hồ bởi lẽ chữ là một thực thể hữu hiện và chiếc cầu tâm linh chính lại là một ảo ảnh rất dị biệt với thực thể hữu hạn của những con chữ.
TUỆ AN
Đọc “Ảo giác mù”, tập truyện ngắn của Tru Sa (Nxb. Hội Nhà văn, 2016)
TRẦN VIẾT ĐIỀN
Ngô Thì Nhậm viết bài thơ Cảm hoài cách đây 223 năm, nhân đi sứ báo tang Tiên hoàng Quang Trung băng hà và cầu phong An Nam quốc vương cho vua Cảnh Thịnh.
NGUYỄN THỊ THANH LƯU
Đã từ rất lâu rồi, tôi hài lòng với việc đọc thơ trong màu xám của một nỗi tuyệt vọng - nỗi tuyệt vọng không bao giờ phân tách nổi trắng đen giữa đám sương mù xám đặc dường như chỉ có dấu hiệu đậm dần lên trong những lớp lang chữ nghĩa, trong cách ngắt nhịp, buông vần.
MAI VĂN HOAN
Lẽ ra tôi không viết bài này. Thiết nghĩ văn chương thiên biến, vạn hóa, mỗi người hiểu một cách là chuyện bình thường. Tốt nhất là nên tôn trọng cách nghĩ, cách cảm thụ của người khác.
TRIỀU NGUYÊN
1. Đặt vấn đề
Nói lái được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp thông thường, và trong văn chương (một lối giao tiếp đặc biệt). Để tiện nắm bắt vấn đề, cũng cần trình bày ở đây hai nội dung, là các hình thức nói lái ở tiếng Việt, và việc sử dụng chúng trong văn chương.
NGUYỄN KHẮC PHÊ
(Đọc tiểu thuyết “Huế ngày ấy” của Lê Khánh Căn, Nxb. Quân đội nhân dân, 2006).
HỒ ĐĂNG THANH NGỌC
(Đọc “Song Tử” của Như Quỳnh de Prelle)
VŨ TRỌNG QUANG
Trần Thiên Thị viết tắt TTT hay đọc là 3 Tê, tôi liên tưởng đến những T thơ ca:
GIÁNG VÂN
Tôi gọi chị là “ Người truyền lửa”.
LGT: Trong khi giở lại tài liệu cũ, tình cờ chuỗi thơ xuân năm Ất Dậu 2005 của Thầy Trần Văn Khê xướng họa với chị Tôn Nữ Hỷ Khương và anh Đỗ Hồng Ngọc rơi vào mắt.