Từ lời kể đến tượng quẻ: một hành trình khác của thơ Nhật Chiêu

10:03 15/03/2016

LA MAI THI GIA

Những ngày cuối năm, Sài Gòn bỗng dưng cũng khác, sáng sớm khi băng qua cầu Thủ Thiêm vốn đã quá quen, tôi khẽ rùng mình khi làn gió lành lạnh từ dưới sông Sài Gòn thổi lên, hơi sương nhè nhẹ tỏa ra bao bọc cả mặt sông mờ ảo, bất chợt thấy lòng ngẩn ngơ rồi lẩm bẩm một mình “Sài Gòn hôm nay khác quá!”

Ảnh: internet

Tôi ghé vào một quán café quen, mân mê trên tay Tôi là một kẻ khác của Nhật Chiêu, đọc lại thật chậm rãi từng trang một, rồi lại tiếp tục ngẩn ngơ, dun dủi thế nào mà hôm nay cả Sài Gòn, cả Chiêu cũng khác. Chiêu trầm tĩnh lạ kỳ bên một Sài Gòn bỗng dưng dịu dàng quá đổi.

Tôi là một kẻ khác là một tập thơ khác của một Nhật Chiêu rất khác, ông chế tác và biến hóa kỳ lạ với thứ ngôn ngữ thơ rất kỳ diệu của ông. Ông đã tác tạo nên hai thể thơ mới trong tập thơ này là thể Thơ giao lời kể và thể Thơ tượng quẻ. Tên tập thơ của ông được lấy ý từ một câu thơ của Rimbaud - một nhà thơ Pháp lừng danh thế giới: “Je est un autre” (Tôi là kẻ khác).

1. Trong Thơ giao lời kể, Nhật Chiêu điềm đạm xưng mình là con sâu cái kiến, là mây là suối, là vũng nước tù, là gái điếm, gái trinh, là kẻ thần kinh đi lạc… và ông từ tốn ngồi kể con sâu ấy đến từ đâu, ngọn cỏ dại mọc thế nào, và cô gái bán dâm kia có thật là gái điếm? Thơ giao lời kể là một trường ca gồm 36 khúc, mỗi khúc có thể được xem là một bài thơ riêng lẻ dù tác giả chẳng tách riêng nó ra và cũng chẳng đặt tựa cho từng bài. Nhưng mỗi khúc là một “kẻ khác”, dù 36 kẻ khác ấy đều cũng là “tôi”. Mỗi khúc được in thành hai trang, trang thứ nhất gồm 4 câu thơ giới thiệu “tôi là…” một kẻ khác nào đó, và trang thứ hai là khoảng từ 5 đến 15 dòng thơ kể về kẻ khác đó, tỉ mỉ hơn, tường tận hơn.

4 câu thơ đầu thường nhỏ nhắn, xinh xắn mà gợi cảm, dễ thương, ý tứ rõ ràng nhẹ nhàng để đợi đến khi tương giao với lời kể mới bộc lộ chiều sâu triết lý của bài thơ đó. Nếu lời giới thiệu là trái tim của bài thơ thì lời kể chính là ngọn lửa bùng cháy lên từ trong tim thắp sáng bài thơ ấy. Lời giới thiệu và lời kể tương giao, tương ánh, chiếu sáng lẫn nhau như cái rực hồng tương giao của sắc hoa và đôi má giai nhân trong “Nhân diện đào hoa tương ánh hồng” (thơ Thôi Hộ). “Tôi” trong 36 khúc thơ là một tôi với 36 cái ngã khác nhau, những cái ngã của tôi nằm đâu đó trong muôn loài, trong vạn loại chúng sinh có hình hài hay không hiện hữu. Tôi là gió mây trong vũ trụ, tôi là sâu kiến trong không gian, tôi là chiến binh, là thánh nhân, là Trương Chi, là Xuân Hương đã đến từ đâu đó trong chiều dài thời gian hiện hữu của con người. Và ở thời khắc này tôi là một đứa trẻ sơ sinh và cũng là một kẻ tự mình tước đi sự sống của mình. Ở đây tôi sinh ra và tôi tự sát.

“Tôi là một đứa bé
Chơi đá cuội làm nhà
Có vườn cho chim sẻ
CHO cả mẹ và hoa”


Và trong khúc thơ này, thi nhân kể lại rằng “một đứa bé đang chơi, và trong trò chơi em là chúa tể”. Em nặn đất làm nhà, làm vườn, nặn cả chim muông và sinh ra người mẹ. Trong sân chơi của mình hẳn nhiên em là chúa tể, sáng tạo cả muôn loài theo ý muốn của em và em chơi đùa với những thứ do mình tạo ra, đầy hân hoan và say đắm. Để có thể bước vào được “sân-chơi-linh-thiêng” này, người lớn “phải thu mình nhỏ lại”, nhỏ như vạn vật em vừa tạo ra và chấp nhận những luật chơi do em bày biện trong vương quốc nhỏ bé chứa đầy hoa, đầy chim muông, đầy mẹ, đầy Nàng Tiên của em. À, thì em là chúa tể, như đấng sáng thế tối cao của vạn vật. Chúa tạo ra vũ trụ, chúa tạo ra muôn loài trong sân chơi mênh mông và vĩ đại của chúa, có khác gì em bé với mớ đất nặn nhiều màu sắc trong khu vườn nhỏ xíu của em?

“Tôi là một anh hề
Tự cười mình mỏi mê
Một hôm bưng mặt khóc
Thiên hạ cười hả hê”


Anh hề ơi, nhiệm vụ quan trọng nhất của anh là chọc cười thiên hạ, cũng như thi nhân tôi phải viết nên những bài thơ lấy đi nước mắt của con người. Anh hề giỏi nghề là anh hề biết tự cười mình trước hết, biết sặc sụa trước những hành vi ngô nghê của chính mình mà mình đã thuộc nằm lòng, biết bất ngờ cười phá lên trước cái té ngã giả bộ vô tình mà mình đã diễn đi diễn lại cả nghìn lần. Anh cười được chính mình mới mong thiên hạ cười anh. Cũng như thơ tôi phải được viết nên từ nước mắt của tôi mới khiến mềm lòng thiên hạ, tôi khóc khi bày biện lòng mình vào thơ mới mong độc giả sụt sùi đồng cảm. Rồi cho đến khi anh hề khóc, bưng mặt trên sân khấu của đời mình, thiên hạ vẫn hả hê cười vì nghĩ rằng anh đang diễn, vì đã xác quyết rằng anh hề thì không biết khóc như độc giả vẫn đinh ninh, thi nhân thì không thể cợt đùa với thế gian này? Và anh hề đã chết, chết vì nỗi buồn của anh đã khiến người cười? hay chết vì tuyệt vọng khi đời này không còn người biết khóc, con người cứ mãi miết cười trong vô cảm thế sao?

Tôi là một con điếm
Đêm mưa ĐỨNG bên cầu
Tôi cùng mưa lấp liếm
Dồn lại những SẦU lâu


Trong Kinh Thánh có ghi lại câu chuyện về một nàng gái điếm bị đám đông đuổi đánh và ném đá, trong lúc trốn chạy nàng đã bắt gặp một người dang đôi tay che chắn mình. Trong lời kể của Nhật Chiêu, cô gái điếm lại là người chở che cho người khách lạ mình đầy thương tích đã tìm đến cô, người khách đã đến “từ hơn 2000 năm trước”. Ai là người có thể thỏa mãn được tất cả đàn ông nếu không phải là kỹ nữ? Ai là người có thể xoa dịu được nỗi đau của cả loài người?

2. Phần thứ hai của tập thơ là Thơ tượng quẻ, là một thể thơ được Nhật Chiêu chế tác dựa trên ý tưởng từ Kinh Dịch, mỗi bài thơ là một biểu tượng ứng với mỗi quẻ trong Kinh Dịch về cả mặt hình thức lẫn chủ đề. Nếu mỗi tượng quẻ trong Kinh Dịch bao gồm 6 hào âm dương thì mỗi bài thơ của ông bao gồm 6 câu thơ liền mạch hay ngắt nhịp tương ứng với các hào âm (- -) hay hào dương (-) trong quẻ đó. Từ 6 hào âm và dương đó, Nhật Chiêu đã sáng tạo nên những bài thơ gồm 6 câu với cách trình bày ngắt nhịp trong câu thơ điền đầy khuôn hình thức của từng quẻ và mỗi bài thơ là sự mô phỏng chủ đề ý nghĩa của quẻ đó. Ông đặt chữ của ông vào trong những khuôn hình quẻ tượng, không dư một chữ, không thừa một nét nhưng ý nghĩa của câu từ cứ ào ạt tuôn ra.

Mưa đến đây mưa đến đây
Và mưa mang theo điệu hát
Mưa còn bay đất còn ngây
Ai như dại ai như say
Ngực nàng mọng môi mưa đầy
Nàng một cõi mưa nghìn tay
            (Mưa và đất - quẻ tỉ (kết giao))

Trong Kinh Dịch, quẻ tỉ được tạo nên bởi sự kết giao của quẻ Khảm và quẻ Khôn, thượng Khảm hạ khôn, nước ở trên đất ở dưới. Và bài thơ của Nhật Chiêu cũng được tạo nên bởi sự kết giao của mưa và đất, khi mưa đến mang theo điệu hát, khi mưa còn bay thì đất vẫn còn say, mưa rơi xuống đất, thấm sâu vào lòng đất cho hoa trái sinh sôi, cho vạn vật nảy nở. Như đàn ông thấm sâu vào đàn bà cho thế giới được sinh ra. Mưa còn rơi, đất còn đợi để tái sinh, đàn ông còn chinh phục mạnh mẽ, đàn bà còn yêu còn say. Nàng một mình một cõi, đợi cả vũ trụ rót vào nàng sự sống và luân chuyển trong lòng nàng để được tái sinh trong những hình hài tươi mới căng tràn.

Đưa bóng mình, đến chân trời
Đưa bóng mình lên đỉnh núi
Đưa bóng mình ra xa khơi
Rồi một ngày quay bước lại
Đưa chiếc bóng về tinh khôi
Cười vang trong cuộc quy hồi
            (Sấm rền trong đất - Quẻ phục (quay về))

Quẻ phục được tạo thành bởi sự kết giao giữa quẻ khôn và quẻ chấn, bài thơ là sự giao kết và lẫn khuất vào nhau giữa tiếng sấm và lòng đất, tạo nên âm thanh rền vang như lời kêu gọi cho một cuộc quy hồi. Tiếng sấm rền trong đất gợi nên âm thanh của sự sống, là âm thanh của sự trở lại và hồi sinh. Ca dao Việt Nam có câu “Lúa chiêm lấp ló đầu bờ, hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”, tiếng sấm báo hiệu trời đang chuyển mùa và mang mưa tới, cho cây lúa rộn ràng sinh trưởng tốt tươi. 5 câu thơ đầu trong bài thơ đang ngắt nhịp âm, như cái trúc trắc phong trần gió bụi của cuộc đời, của những linh đinh trong hành trình một con người “đến chân trời”, “lên đỉnh núi” và “ra xa khơi”, rồi bất chợt quay về. Bỗng câu thơ cuối liền nhau trong một nhịp dương xuyên suốt và mạnh mẽ, như tiếng cười vang của cuộc hồi sinh đang quay trở lại, nhịp thơ trải dài vang xa, xóa hết những trúc trắc gian nan trong hành trình quay về của con người mang bóng mình đi muôn nơi.

Thơ tượng quẻ của Nhật Chiêu không dễ đọc, không dễ hiểu và cũng chẳng dễ lý giải những lời triết lý về đời người hay đời vũ trụ, về nhân loại hay về cả càn khôn. Tôi tập tành đọc thơ ông, tập tành hiểu thật giản đơn những gì đang hiển hiện trong từng câu chữ với sự háo hức mê say của một con người vốn rất mê thơ. Lối sáng tạo thơ này của Nhật Chiêu dù mới được công bố ít lâu nhưng cũng đã nhận không ít lời trầm trồ tán thưởng: “Với thể thơ tượng quẻ này, Nhật Chiêu đã khiến cho người đọc phải sửng sốt về sự sáng tạo đầy mới mẻ và thú vị khi vận dụng hình thức và ý nghĩa của các quẻ trong Kinh Dịch để đưa vào đấy chất thơ đầy triết lý. Đối với ông, sự sáng tạo là nhìn về cái cũ bằng một cái nhìn mới, cái mới không phải là cái chưa từng có mà là cái đã bị thời gian che phủ. Chính vì vậy, ông tìm về Kinh Dịch để từ đó sáng tạo thơ tượng quẻ” (Hoài Mai). Hay “Thể thơ độc đáo này đã nhận được sự tán dương và hưởng ứng sôi nổi từ các nhà phê bình văn học. Chính từ sự phá cách, tìm tòi độc đáo, cùng với sự uyên bác và tài hoa, nhà nghiên cứu Nhật Chiêu đã mang đến thơ một phong vị mới lạ, hấp dẫn nhưng rất bác học.” (Hoài Mai).

Và tôi cũng vậy, đã bị thơ Nhật Chiêu quyến dụ, loay hoay đi tìm một tôi khác trong những tạo tác của ông.

L.M.T.G
(TCSH325/03-2016)







 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN ĐẮC XUÂNCuốn sách non 220 trang không có phụ bản, bản đồ, tranh ảnh nào khác, giới thiệu. “Bức tranh chung về văn hoá Huế”.

  • LÊ THỊ BÍCH HỒNGTôi đến thăm gia đình cố nhạc sĩ Trần Hoàn trong tiết xuân lây phây mưa bụi. Bác Thanh Hồng - vợ nhạc sĩ, người con gái xứ Nghệ tạo thi hứng cho ca khúc Lời người ra đi bất tử cùng năm tháng niềm nở đón khách.

  • HỒNG NHU“Cánh chim trong bão tố” - NXB Hội Nhà văn Việt Nam - tự truyện của Nguyễn Thanh Song Cầm đến tay tôi vào một ngày mưa dầm xứ Huế ngày tháng 10 chưa cười đã tối. Một cây bút mới xuất hiện. Tôi đọc liền một mạch từ đầu cho đến cuối sách, từ lời giới thiệu cho đến phần vĩ thanh 476 trang.

  • ĐẶNG TIẾNNhật nguyệt dấu yêu là một mùa hoa trái trễ tràng, tập thơ đầu tay được tác giả gửi đến người đọc như một ủy thác, sau khi đã trải nghiệm cuộc đời, thực tế và văn học.

  • MAI VĂN HOAN(Nhân đọc “Quãng cách lặng im” của Xuân Hoàng)

  • TRẦN HIỆPTừ một nhà giáo, theo tiếng gọi “chống Mỹ , cứu nước”, Nguyễn Quang Hà lên đường ra trận, liên tục “bám trụ” chiến trường Thừa Thiên - Huế. Năm 1975 anh bị thương phải ra Bắc dưỡng bệnh và dự lớp bồi dưỡng viết văn của Hội Nhà văn Việt Nam ở Quảng Bá. Sau đó anh trở lại Thừa Thiên - Huế chiến đấu và công tác cho đến bây giờ. Cũng vì thế, hầu như đa phần sáng tác của anh dù là thơ, ký hay truyện đều viết về vùng đất này.

  • HOÀNG THỊ THU THỦY1. “Ngày khai trường áo lụa gió thu bay” không chỉ có trong “Mối tình đầu” của nhà thơ Đỗ Trung Quân, mà niềm háo hức, tươi xanh, mong đợi có cả trong bài thơ “Mỗi ngày” của thầy giáo Hoàng Ngọc Quý.

  • TRẦN ĐÌNH SỬHoàng Ngọc Hiến là nhà giáo, nhà phê bình văn học, nhà triết luận văn hoá, nhà dịch thuật. Người ta đã biết nhiều về ông với tư cách nhà phê bình văn học mà ít biết về ông như nhà triết luận văn hoá. Về mặt này ông thể hiện một niềm trăn trở khôn nguôi đối với các vấn đề văn hoá Việt Nam hiện đại.

  • LTS: Tiểu thuyết Biết đâu địa ngục thiên đường đã lập “hattrick” nhận liền ba giải thưởng trong năm 2010 (Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, Giải thưởng Nguyễn Du, Tặng thưởng công trình Văn học nghệ thuật xuất sắc của Hội LHVHNT TT Huế). Để giải đáp phần nào thắc mắc từ phía bạn đọc về tính chất “tự truyện” cũng như chuyện bếp núc của cuốn tiểu thuyết “gia đình” này, Sông Hương xin giới thiệu bài viết của chính tác giả cầm tinh con Mèo - nhà văn Nguyễn Khắc Phê.

  • PHẠM TẤN HẦUCó tập thơ chỉ là tập hợp những bài thơ. Nhưng Thi ca mùa ngái ngủ của Lê Huỳnh Lâm, dù là tập thơ đầu tay nhưng đã thể hiện một cái nhìn nhất quán về thế giới thi ca mình khám phá. Đó là thế giới được mở to trước những “cơn đau”, trước “nỗi kinh hoàng vây quanh trái đất”, “trong đền thờ quỷ ma” và trong ca “ngôi nhà không thần thánh”…

  • TRẦN VĂN SÁNG - NGUYỄN THỊ TỐ LOANKỷ niệm 100 năm Bác Hồ đi tìm đường cứu nước (1911 - 2011)

  • ĐỖ LAI THÚY      Thơ có tuổi và chiêm bao có tích                                  Hàn Mặc Tử

  • NGUYỄN HỒNG TRÂNNữ sĩ Tương Phố tên thật là Đỗ Thị Đàm sinh ngày 14/7/1900, nguyên quán ở xã Bối Khê, tổng Cẩm Khê, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên và mất ngày 8/11/1973 tại Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

  • TRƯỜNG KÝ(“Nụ cười Áp-xara”: Truyện ký của Hà Khánh Linh, Nxb Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, 1983)

  • PHẠM PHÚ PHONGChính cái bìa tập truyện ngắn là Sứ giả Việt Hùng do hoạ sĩ Đinh Khắc Thịnh trình bày đã gợi ý tưởng cho tôi viết bài này, sau khi đọc đi đọc lại vài lần tập truyện ngắn gồm có chín truyện của Việt Hùng - chín truyện ngắn anh viết trong vòng hơn mười hai năm, kể từ khi tập truyện ngắn đầu tay Cô gái hoàng hôn (1997, cũng gồm có chín truyện ngắn), ra đời cho đến nay.

  • Ý THIỆNVào ngày 27, 28 tháng 7 năm 2001, tại chùa Từ Đàm - Huế đã diễn ra Lễ kỷ niệm 50 năm ngày Gia đình Phật Hoá Phổ - tổ chức tiền thân của Gia Đình Phật tử Việt Nam, với hơn 3000 đoàn sinh về tham dự. Sự kiện này đã thu hút sự chú ý của nhiều tầng lớp nhân dân thành phố Huế cũng như phật tử khắp nơi trên đất nước.

  • NGUYỄN ĐỨC TÙNGNguyễn Đức Tùng: Chào nhà thơ và cô giáo dạy văn Đinh Thị Như Thúy. Được biết chị đang sống và làm việc ở một huyện thuộc tỉnh Đắc Lắc. Chị có tìm thấy cho mình một quê hương ở đó không?

  • ĐINH XUÂN LÂM - VÕ VĂN SẠCHTrong khi khai thác tư liệu về phong trào đấu tranh yêu nước chống xâm lược Pháp hồi cuối thế kỷ XIX của nhân dân ta tại Cục lưu trữ Trung ương, chúng tôi có tìm được hai bài thơ nôm của vua Hàm Nghi ban cho các quân thứ Bắc kỳ.

  • HỒ THẾ HÀKỷ niệm 8 năm ngày mất nhà thơ Tố Hữu (9-12-2002 - 9-12-2010)

  • NGUYỄN NHÃ TIÊNTừ buổi trình làng tập thơ “Bông hồng ngủ quên”, tiếp theo là tập “Nhặt mùi hương trầm đâu đây”, cho đến bây giờ thi phẩm thứ ba của Võ Kim Ngân “Viết lúc sang mùa” vừa mới được Nxb Văn học cấp phép ấn hành tháng 7-2010.