THƯ PHÙNG QUÁN GỬI TÔ NHUẬN VỸ
Sự thay đổi, tiến bộ của Việt Nam sau năm 1975 là to lớn và rõ rệt, đặc biệt trên lãnh vực đặc thù như Văn học, nếu nhìn lại những “vết sẹo” của một thời quá khứ để lại trên cơ thể nền Văn học, mà tiêu biểu là đối với nhà thơ Phùng Quán.
Nhà thơ Phùng Quán - Ảnh: TL
Anh đã được “hồi sinh”: Hội Nhà văn suy tôn anh, Nhà nước tặng Giải thưởng lớn về VHNT cho anh, quê hương lấy tên anh đặt cho một đoạn Quốc lộ chạy qua làng anh, bên cạnh tên thời thơ trẻ của Bác Hồ, một khu đất hoành tráng nơi làng quê anh xây khu lăng mộ vợ chồng anh, bạn bè và người hâm mộ lập Quỹ Phùng Quán để tặng thưởng những tác phẩm xuất sắc “viết theo khí phách Phùng Quán”…
Chỉ chừng đó, chắc anh đã mỉm cười nơi suối vàng và bạn bè, gia đình, người hâm mộ anh cũng đã sung sướng trước sự thay đổi phải nói là quá chừng lớn lao trong đời sống văn học.
Nhưng sau ngày được Quỹ Phùng Quán trao tặng thưởng cho tiểu thuyết VÙNG SÂU (cùng tiểu thuyết XA HÀ NỘI của Nhất Lâm) ngay tại lăng mộ vợ chồng anh dịp Tết nguyên tiêu đầu năm 2012, tôi suy nghĩ nhiều về một bức thư anh gửi cho tôi cách nay 28 năm mà tôi vẫn giữ như một báu vật của riêng mình. Trong nghiên cứu VĂN HỌC VIỆT NAM: ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP, do Trung tâm William Joiner thuộc Đại học Massachusetts - Hoa Kỳ tổ chức và năm 2007 đã cho công bố trên mạng Talawas, tôi có sử dụng một trích đoạn ngắn trong bức thư đó. Lập tức, năm đó và mấy năm sau, nhiều bạn đọc đã yêu cầu tôi công bố toàn bức thư này, như một tư liệu quý về một nhà thơ lớn có cuộc đời Thơ trầm luân, độc đáo.
![]() |
Bức thư anh gửi tôi khởi nguồn từ việc tôi đánh tiếng muốn phục hồi tên Phùng Quán trên Tạp chí Sông Hương, khi tôi biết hóa ra lâu nay anh toàn dùng nhiều bút danh xa lạ, trong đó có bút danh Trần Vỹ Dạ (cho đến năm 1987, khi anh đóng các bản dập thử tác phẩm DŨNG SĨ CHÉP CÒM thành tập để tặng cháu Tô Diệu Lan con thứ hai của tôi, anh vẫn dùng bút danh này và có điều cần các nhà nghiên cứu văn học lý giải nữa là vì sao tác phẩm này anh cho là “bằng lòng nhất của đời bác”). Điều khiến tôi ngạc nhiên là hồi đó anh không mặn mà với chuyện phục hồi tên Phùng Quán trên Sông Hương, có vẻ như tránh né nữa. Những ngày anh ở Huế năm 1984, vì kẹt nhiều việc, tôi ít có dịp chuyện trò, “cụng ly” với anh như nhiều bạn văn thơ khác. Khi có thể trao đổi kỹ thì anh đã đi Hà Nội rồi. Nên tôi viết thư nói lại đề nghị và mong ước đó. Như trong thư anh trả lời tôi thì đây là lần thứ ba anh viết lại, nhưng nó “mệt như viết một cuốn sách” nên anh viết mãi vẫn chưa xong. Đến một ngày tôi ra Hà Nội, đến “Chòi ngắm sóng” của anh, anh đưa luôn cho tôi bức thư còn dở dang, “Thôi, Vỹ đọc chừng đó cũng biết lòng dạ của mình rồi…”.
Sắp tới ngày kỵ Phùng Quán (ngày 01/02/2013), tôi nghĩ mình sẽ có lỗi lớn nếu một bức thư tâm huyết chừng ấy mà cứ “giấu nhẹm” làm của riêng, nên tôi thắp nén nhang thưa với anh cho phép tôi gửi tới mọi người. Chuyện cũ nên lắm nỗi đau lòng, nhưng cũng là dịp để thấy sự đổi thay trong Văn học đã có một quãng dài. Nhưng điều quan trọng nhất là chúng ta thấy rõ hơn, da diết hơn, sững sờ hơn về một trái tim Phùng Quán đỏ rực dòng máu Cách mạng, hai chữ nghệ sĩ với anh không bao giờ tách rời hai chữ chiến sĩ, lúc nào cũng nghĩ đến Đất nước, đến Đảng Cộng sản, cả những dòng thơ tình yêu cũng là nỗi niềm anh nói với Đảng. Trong nghiên cứu của mình, khi đọc những đoạn thư đứt ruột ấy, tôi đã không cầm được nước mắt.
TÔ NHUẬN VỸ
Thư Phùng Quán gửi Tô Nhuận Vỹ
![]() |
Hà Nội đêm cuối thu 84
Tô Nhuận Vỹ thân.
Tôi nhận được thư Vỹ, đã hai lần tôi viết thư trả lời nhưng đọc lại tôi lại xé đi. Vì muốn trả lời một bức thư như vậy thật không đơn giản chút nào. Vì tôi nghĩ đó không chỉ đơn thuần là bức thư của tình bạn, mà còn là bức thư của một nhà văn gửi cho một nhà văn. Mà hoàn cảnh của người viết văn cần trả lời lại rất phức tạp, rất không giống những nhà văn của bất cứ nước nào. Ở đây, tôi hoàn toàn không muốn đề cập đến tài năng (về tài năng tôi lúc nào cũng tự đánh giá mình là hầu như không có gì. Và những gì tôi đã làm được là do cuộc đời và tấm lòng chiến sĩ của tôi).
Nhưng nó đề cập tới những vấn đề đặt ra cho tất cả các nhà văn - nhà văn tài lẫn nhà văn tồi - đó là thái độ của nhà văn - trách nhiệm của nhà văn đối với nhân dân mình, Đất nước mình - “một Đất nước quá chừng thiêng liêng nhưng cũng đang vô cùng cơ hàn” như Vỹ nói. Và có lẽ còn nhiều vấn đề khác nữa gắn liền với số phận các nhà văn của chủ nghĩa xã hội.
Vỹ ơi. Trước tiên, những điều Vỹ đã viết cho tôi về phương diện tình bạn mà nói, tôi hết sức vui mừng và cảm động. Nó càng khẳng định thêm niềm xác tín của tôi: Trừ các cá tính ra, thì nghệ sĩ nói chung là những người thật sự tốt trong cuộc đời này.
Vỹ đừng nghĩ rằng tôi cho những lời Vỹ nói là đại ngôn. Chúng ta đang nói đến những vấn đề thật sự nghiêm trọng, không dùng “đại ngôn” sao được?
Hai bức thư trước (tôi đã xé đi) vì trong đó chỉ nói những chuyện tình cảm, và chỉ trả lời qua loa một vài điều mà Vỹ đề cập đến. Vì nếu trả lời kỹ thì tôi thấy nó dài dòng phức tạp quá. Không phải là một bức thư mà cả một cuốn sách. Nó đòi hỏi tôi phải gắng sức như viết cả một cuốn tiểu thuyết vậy. Tôi không “đại ngôn” đâu Vỹ ạ. Thật tình, nó còn làm tôi mệt hơn cả viết một cuốn sách. Do đó mà tôi đã viết đi viết lại, rồi lại xé đi.
Bức thư tuy ngắn ngủi của Vỹ, nhưng nó hàm chứa biết bao nhiêu thương yêu, lo lắng - một bức thư của tình bạn chân thành, và của một nhà văn chân chính. Tôi sẽ hóa thành kẻ vô tâm, nếu tôi trả lời Vỹ qua loa cho xong chuyện, tôi sẽ không xứng đáng với tấm lòng của Vỹ.
Tôi biết rất rõ Vỹ là người từng trải, sâu sắc - một nhà tiểu thuyết đúng nghĩa của nó. Nhưng giữa tôi và Vỹ lại có một chút ít khoảng cách về những sự kiện và năm tháng, và hơn nữa lại ít được chuyện trò, tiếp xúc (đó chính là điều tôi tiếc hơn cả trong thời gian tôi ở Huế vừa rồi).
Tôi chắc, có một đôi điều Vỹ hiểu tôi qua “nghe người ta nói” - “Người ta” đây là gồm cả báo chí và sách vở nữa. Vì có không ít sách vở nói đến những vấn đề của tôi và của một số anh em khác (đã được đưa vào sách giáo khoa về một giai đoạn văn học Việt Nam).
![]() |
30 năm đã trôi qua. Biết bao nhiêu sự kiện đã rêu phong. Và tôi cũng không còn được chính quyền của Đất nước (mà tôi đã hiến dâng cả tuổi trẻ và cả máu để góp phần nhỏ bé xây dựng và bảo vệ) coi tôi là Nhà Văn. Tôi đã bị tước quyền viết văn (tháng 5 - 1958 Hội Nhà văn Việt Nam quyết định khai trừ tôi vĩnh viễn khỏi Hội Nhà văn), từ khi tôi mới 24 tuổi đầu - đến nay tôi đã 54 tuổi rồi. Tôi chắc Vỹ hiểu còn hơn cả tôi, ở đất nước ta, bị khai trừ vĩnh viễn khỏi Hội Nhà văn, thì một nhà văn sẽ rơi vào một hoàn cảnh bi thảm như thế nào. Vì mặt trận Văn nghệ là một trong những mặt trận được chuyên chính nghiêm ngặt nhất.
Vỹ thử tưởng tượng, một người mà công việc viết văn là niềm vui và lẽ sống được nhất của đời người đó (không phải viết văn nghiệp dư) như một thứ giải trí ngoài giờ lao động, mà để phục vụ một “Đất nước thiêng liêng” như một chiến sĩ ngoài mặt trận) lại bị tước đi quyền viết văn, thì sẽ như thế nào?
Đã từ nhiều năm nay tôi sống mà như chết.
Cơn khát thơ thiêu đốt trái tim tôi. Tôi đã đi rao cùng thiên hạ.
“- Ai đổi thơ lấy máu!”
Không ai đổi...
Đó là chân dung đau buồn của tôi trong suốt 30 năm qua.
Có điều, trước khi trở thành nhà văn, tôi là một chiến sĩ. Và chính phẩm cách chiến sĩ đã nâng đỡ tôi suốt cuộc hành trình bi thảm này.
Tôi muốn được lịch sử Văn học cách mạng Việt Nam xét xử công bằng. Tôi có thể chết trước khi được xét xử nhưng không sao, tôi vẫn kiên nhẫn đợi chờ.
“Vì tôi tin tôi sẽ hồi sinh”.
Và để cho sau này công việc xét xử được dễ dàng, tôi lúc này không muốn thêm gì và bớt gì những điều tôi đã viết.
“Trái tim dập nát của tôi
Vẫn đỏ thắm một khối tình”
Có thể tôi là người cũ kỹ và lỗi thời, “không hợp thời đại”, nhưng tôi vẫn quan niệm văn chương không phải là nghề ng- hiệp sinh sống. Mà đó chính là lý tưởng Cộng sản chủ nghĩa được thể hiện bằng phương tiện ngôn từ, như Bác Hồ đã nói:
“Văn nghệ là một mặt trận
Văn nghệ sĩ chính là chiến sĩ trên mặt trận đó”.
Không một chiến sĩ chân chính nào lại coi là “nghề chiến sĩ”.
Theo tôi, người chiến sĩ cầm súng và cầm bút “với Tổ quốc và Chủ nghĩa Xã hội là bậc trung thần”.
Tôi hoàn toàn tán đồng lời định nghĩa Trung thần của Mặc Tử:
“Văn quân đất Lỗ Dương bảo Mặc Tử: “Có kẻ nói với ta rằng trung thần là người bắt cúi thì cúi, bắt ngẩng thì ngẩng, để thì im, gọi thì thưa, như thế có cho là trung thần được không?”. Mặc tử nói: “Bắt cúi thì cúi, bắt ngẩng thì ngẩng như thế khác gì cái bóng? Để thì im, gọi thì thưa, như thế khác gì tiếng vang? Những kẻ như bóng, như vang thì còn được ích gì?” (Mặc Tử - Trích Cổ học tinh hoa).
Tôi không bao giờ muốn làm một hạt bụi của Đảng, mà phải được làm một chiến sĩ của Đảng: “Văn nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận đó”.
Tôi muốn được đề nghị với Đảng những điều mà trực giác của nghệ sĩ và lương tâm của chiến sĩ thôi thúc tôi phải đề nghị, như 30 năm trước đây tôi đã đề nghị:
“Trung ương Đảng ơi!
Lũ chuột mặt người chưa hết
Đảng cần lập đội quân trừ diệt
Có tôi!
Đi trong hàng ngũ tiền phong”.
(Chống tham ô lãng phí)
Ba mươi năm trước, lời đề nghị đó kết tội là lời báng bổ, chống Đảng, bôi đen chế độ. Và vì lời đề nghị đó cùng nhiều đề nghị khác, tôi đã chịu nhận hình phạt: Vĩnh viễn tước quyền viết văn và đi lao động cải tạo suốt 15 năm trời.
Tôi rất xúc động trước tình âu yếm của bạn bè, đặc biệt là với các anh chị ở Tạp chí Sông Hương, muốn in thơ cho tôi với cái tên Phùng Quán “trở lại với làng văn”. Nhưng tôi rất mong các bạn hiểu cho tôi. Năm nay tôi đã 54 tuổi. Tôi đã đi gần trọn một đời văn. Tôi không muốn thêm gì và bớt gì những gì tôi đã làm, đã viết. Tôi không thuộc vào loại các nhà văn cùng thế hệ và tuổi tác với tôi, bằng mọi cách và mọi giá, đeo đẳng cho bằng được cái tên mình trên báo, trên sách. Hôm trước có phong trào ca Mao thì ca, hôm sau có phong trào chửi Mao thì chửi...
Tôi tự biết mình tài năng tầm thường, nên tôi đã dồn toàn bộ tinh lực của cả đời người vào trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, dâng hiến cho nhân dân, Đất nước, Đảng: năm 1955.
VƯỢT CÔN ĐẢO, TIẾNG HÁT TRÊN ĐỊA NGỤC CÔN ĐẢO, TÔI MUỐN MỜI ĐẾN TỔ QUỐC TÔI, LỜI MẸ DẶN, CHỐNG THAM Ô LÃNG PHÍ.
Tôi tự biết nhiên liệu tài năng đời tôi ít ỏi. Tôi đã dồn tất cả, đốt lên một lần để thành, dù là một ngọn lửa nhỏ. Tôi không muốn cả đời văn lúc nào cũng chỉ âm ỉ khói. Khói có đấy, nhưng có ích cho ai? Và với tấm lòng can đảm của một chiến sĩ, tôi tình nguyện nhận nhiệm vụ xích hầu. Và tôi đã nhận đạn. Tôi đã ngã xuống nhưng lòng tôi thanh thản: Tôi đã đi một đường thẳng, không rẽ ngang rẽ tắt. Nhưng, không có hạnh phúc lớn lao nào bằng được chết vì nghĩa vụ.
Tôi là nhà văn bất tài nhưng chưa lúc nào tôi thấy hổ thẹn và hối hận về nhân cách của mình. Thật ra, tôi đã trả giá quá đắt cho thơ ca. Nhưng ngay cả sự trả giá đó tôi cũng coi là hạnh phúc.
Trong thư, Vỹ có nói tôi đi như “người chạy trốn”, tôi “ngượng ngùng”. Điều này tôi phải nói ngay: Tôi cũng có nhiều tốt xấu như bất kỳ ai khác. Nhưng tôi chưa bao giờ hèn nhát. Tôi chưa bao giờ chạy trốn, và ngượng ngùng.
Cả cuộc đời thơ của tôi bảo đảm cho tôi lời nói đó.
Tôi đặt toàn bộ niềm xác tín của tôi vào sự công bằng và lịch sử:
- Tên Hoàng Văn Hoan đã bị Quốc hội kết án tử hình về tội phản bội Tổ quốc và liệt hắn vào loại Trần Ích Tắc của thời này.
Hắn đã chạy trốn khỏi Đất nước. Còn tôi, tôi vẫn sống ở đây.
Kẻ kết tội tôi là phản bội, ba mươi năm sau chính hắn bị nhân dân kết tội là phản bội và có án tích hẳn hoi.
Tôi coi như thế là đủ.
Ba mươi năm nay tôi bị dìm trong bùn nhơ lăng mạ
Nhưng tôi tin chắc
Trái tim Thơ trong sạch và gương mặt Thơ bi thiết của tôi.
...
Trái tim tôi như một trái cây bị dập nát.
Nếu không được ngồi thì tôi xin đứng
Cùng với cây chổi em dựng ở xó nhà.
Nếu không được thở
Thì tôi xin nín thở
Như với ngày còn đi chăn trâu cắt cỏ
Tôi suýt chết dưới đáy giếng làng
Vì mãi lặn mò con cá bống thần cô Tấm bỏ quên...
Em giận dữ la lên:
- Đứng trong xó nhà cũng không được đứng!
- Thì tôi xin ra đứng trước hiên...
- Đứng trước hiên cũng không được đứng!
- Thì tôi xin ra đứng ngoài ngõ...
- Đứng ngoài ngõ cũng không được đứng!
- Thì tôi xin ra đứng đầu đường...
Tôi nhìn vào khung cửa nhà em
Môi rát bỏng những lời yêu thương.
- Đứng đầu đường cũng không được đứng!
Lời yêu thương cũng không được nói!
Thì tôi xin chết!
Nhưng
Tôi sẽ không nói lời vĩnh biệt
Vì tôi tin tôi sẽ hồi sinh.
Dù hỏa táng
Hay chôn xuống đất
Trái tim dập nát của tôi
Vẫn đỏ thắm một khối tình
(Trích 13 bài thơ tình làm ở Huế mùa hè 84)
*
Trong suốt 30 năm qua, trong sách giáo khoa (dạy cho học sinh của cả nước) trên báo chí, trong sách vở v.v... tôi bị coi là nhà văn phản bội, chống Đảng, chống chế độ, là một tên:
“Nó ghét kẻ thầy hiền bạn tốt
Nó yêu quân gái điếm cao bồi
Ghét những người đáng yêu của thiên hạ
Yêu những người đáng ghét của muôn người.
Quen học thói gà đồng mèo mả
Hóa ra thân chó má chim mồi”.
(Lời mẹ dặn có phải là bài thơ chân thật; trích thơ Hoàng Văn Hoan - đăng báo Nhân Dân ngày 24 - 11 - 1975), ký tên Trúc Chi. Sau này in lại thành tập: Thơ Hoàng Văn Hoan do Nhà xuất bản Việt Bắc in năm 1975).
Còn có lời thóa mạ, lăng nhục nào nghiêm trọng hơn đối với một nhà văn?
Và như lời giới thiệu ở đầu tập thơ của nhà xuất bản: “Đặc biệt là mấy bài viết cho báo Nhân Dân trong thời gian 1957 - 1958 với những bút danh khác nhau, nếu nói văn thơ là vũ khí thì đây chính là những quả pháo đạn đang lao về phía boong ke phi cách mạng trên mặt trận văn nghệ”.
Kết thúc lớp học đấu tranh “Nhân văn Giai phẩm” tại Thái Hà ấp, lúc ấy anh Tố Hữu là Bí thư Học ủy, Hoàng Văn Hoan thay mặt Bộ Chính trị Trung ương Đảng mang đến tặng lớp học một bó hoa lay ơn lớn, biểu dương sự thắng lợi rực rỡ của lớp học.
Xét một nhà văn tốt hay xấu, cách mạng hay phản động, phải xét bằng tác phẩm của chính nhà văn đó.
Tôi đã bị coi là nhà văn chống Đảng, chống Chế độ, bị tước vĩnh viễn quyền viết văn, vì hai tác phẩm: “Lời mẹ dặn và Chống tham ô lãng phí. Đã ba mươi năm rồi, tôi muốn chép lại đây cả hai bài thơ bị khép tội “tử hình” để Vỹ đọc.
Vỹ ơi, Vỹ coi “Vượt Côn Đảo”, “Những anh hùng Sê-pát-tô-pôn” là tác phẩm “cường tráng” của tôi. Nhưng với tôi, hai bài thơ này mới là tác phẩm quan trọng và chủ yếu của đời tôi. Đó là chân dung toàn vẹn của tôi: một nhà văn tận trung với Nước, với Đảng, với Dân.
Ngày đó, khi tác phẩm bị nguyền rủa, bị phản đối, la ó, tôi đã liều lĩnh nói: “Hai mươi năm nữa Đảng sẽ hiểu tôi”. Quả nhiên, hai mươi năm sau, trên báo Nhân Dân đã phát động viết chống lại sự dối trá, “Làm ăn phải thật thà”. Còn tệ quan liêu, lãng phí, và ăn cắp thì thôi không cần phải nói nữa.
Ngày đó, tôi mới 24 tuổi đầu và đã là một nhà văn được chế độ ưu đãi.
Nhưng với trực giác của một nghệ sĩ, và tấm lòng can đảm của một chiến sĩ, tôi đã kêu to lên, báo trước niềm hiểm họa to lớn đang rình phục nhân dân và Đất nước. Trong lịch sử thơ ca cách mạng của Đất nước, tôi là người độc nhất kêu lên trong thơ mình: “Trung ương Đảng ơi!”.
![]() |
Đó là tiếng kêu bi thiết của nghệ sĩ, và một chiến sĩ, đặt toàn bộ cuộc đời và lòng tin vào Đảng vào sự nghiệp lớn lao mà Đảng đang xây dựng. Và trước tấm lòng đó, tôi đã bị liệt vào hạng người: Yêu “gái điếm, cao bồi, gà đồng, mèo mả”. Làm như vậy, tôi biết có nguy hiểm không? Tôi quá biết. Kinh nghiệm chiến sĩ đang dạy tôi rằng: “Những chiến sĩ tình nguyện làm nhiệm vụ xích hầu là những người biết chắc rằng mình sẽ sẵng sàng nhận đạn”.
Nhưng tôi với tư cách là chiến sĩ, tôi luôn luôn tự thấy chính mình là người có lỗi: Tôi chưa làm tròn nghĩa vụ của “bậc trung thần” đối với Tổ quốc, Nhân dân và Đảng.
“Nước Sở có người họ Hòa, được một hòn ngọc ở trong núi, đem dâng vua Lệ - Vương. Vua sai thợ ngọc xem, thợ ngọc nói: “Đá không phải ngọc”. Vua cho người họ Hòa nói dối, sai chặt chân trái. Đến khi vua Vũ Vương nối ngôi, người họ Hòa lại đem ngọc ấy dâng. Vua sai thợ ngọc xem. Thợ ngọc nói: “Đá không phải ngọc”. Vua lại cho họ Hòa là nói dối, sai chặt nốt chân phải. Đến khi vua Văn Vương lên ngôi, người họ Hòa ôm hòn ngọc, khóc ở chân núi Sở Sơn suốt ba ngày ba đêm đến chảy máu mắt ra. Vua thấy thế sai người đến hỏi. Người họ Hòa thưa: “Tôi khóc không phải là thương hai chân tôi bị chặt, chỉ thương về nỗi ngọc mà cho là đá nói thật mà cho là nói dối”. Vua bèn sai người xem lại cho rõ kỹ, thì quả nhiên là ngọc thật, mới đặt tên là “ngọc bích họ Hòa”.
Mỗi nghệ sĩ chân chính đều có một “Ngọc bích họ Hòa” của mình để dâng hiến cho Đất nước, Nhân dân. Nhưng tôi vô cùng hối hận là đã không đủ lòng tận trung như người họ Hòa để dâng “ngọc bích” của mình lên Đảng, cho đến lúc được nhận ra không phải đá mà ngọc thật.
Ba mươi năm trước, nếu tôi đủ lòng tận trung, dù bị chặt chân, khóc đến chảy máu mắt, vẫn cứ thiết tha dâng lời đề nghị: “Cần lập đội quân trừ diệt/ Lũ chuột mặt người”. Cho đến lúc lời đề nghị được chấp nhận, thì tôi tin rằng sẽ góp phần hạn chế nạn ăn cắp của công.....
(SH287/01-13)
Tải mã QRCode
HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNGKể từ tập thơ đầu tay (Phía nắng lên in năm 1985), Huyền thoại Cửa Tùng (*) là tập thơ thứ mười (và là tập sách thứ 17) của Ngô Minh đã ra mắt công chúng. Dù nghề làm báo có chi phối đôi chút thì giờ của anh, có thể nói chắc rằng Ngô Minh đã đi với thơ gần chẵn hai mươi năm, và thực sự đã trở thành người bạn cố tri của thơ, giữa lúc mà những đồng nghiệp khác của anh hoặc do quá nghèo đói, hoặc do đã giàu có lên, đều đã từ giã “nghề” làm thơ.
Võ Quê được nhiều người biết đến khi anh 19 tuổi với phong trào xuống đường của học sinh, sinh viên các đô thị miền Nam (1966). Lúc đó, anh ở trong Ban cán sự Sinh viên, học sinh Huế. Võ Quê hoạt động hết sức nhiệt tình, năng nổ bất chấp nguy hiểm với lòng yêu nước nồng nàn và niềm tin sắt đá vào chính nghĩa.
PHẠM PHÚ PHONGThỉnh thoảng có thấy thơ Đinh Lăng xuất hiện trên các báo và tạp chí. Một chút Hoang tưởng mùa đông, một Chút tình với Huế, một chuyến Về lại miền quê, một lần Đối diện với nỗi buồn, hoặc cảm xúc trước một Chiếc lá rụng về đêm hay một Sớm mai thức dậy... Với một giọng điệu chân thành, giản đơn đôi khi đến mức thật thà, nhưng dễ ghi lại ấn tượng trong lòng người đọc.
ĐẶNG TIẾNNhà xuất bản Trẻ, phối hợp với Công ty Văn hoá Phương Nam trong 2002 đã nhẩn nha ấn hành Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường, trọn bộ bốn cuốn. Sách in đẹp, trên giấy láng, trình bày trang nhã, bìa cứng, đựng trong hộp giấy cứng.
NGUYỄN ĐỨC TÙNG(Tiếp theo Sông Hương số 244 tháng 6-2009)Mến tặng các nhà văn Tô Nhuận Vỹ, Khánh Phương, Trần Thị Trường, cháuDiệu Linh, và những người bạn khác,lớn lên trong những hoàn cảnh khác.
NGUYỄN THỤY KHANhà thơ Quang Dũng đã tạ thế tròn 15 năm. Người lính Tây Tiến tài hoa xưa ấy chẳng những để lại cho cuộc đời bao bài thơ hay với nhịp thơ, thi ảnh rất lạ như "Tây Tiến", "Mắt người Sơn Tây"... và bao nhiêu áng văn xuôi ấn tượng, mà còn là một họa sĩ nghiệp dư với màu xanh biểu hiện trong từng khung vải. Nhưng có lẽ ngoài những đồng đội Tây Tiến của ông, ít ai ở đời lại có thể biết Quang Dũng từng viết bài hát khi cảm xúc trên đỉnh Ba Vì - quả núi như chính tầm vóc của ông trong thi ca Việt Nam hiện đại. Bài hát duy nhất này của Quang Dũng được đặt tên là "Ba Vì mờ cao".
HOÀNG KIM DUNG (Đọc trường ca Lửa mùa hong áo của Lê Thị Mây)Nhà thơ Lê Thị Mây đã có nhiều tập thơ được xuất bản như: Những mùa trăng mong chờ, Dịu dàng, Tặng riêng một người, Giấc mơ thiếu phụ, Du ca cây lựu tình, Khúc hát buổi tối, v.v... Chị còn viết văn xuôi với các tập truyện: Trăng trên cát, Bìa cây gió thắm, Huyết ngọc, Phố còn hoa cưới v.v...Nhưng say mê tâm huyết nhất với chị vẫn là thơ. Gần đây tập trường ca Lửa mùa hong áo của nhà thơ Lê Thị Mây đã được nhà xuất bản Quân đội nhân dân ấn hành. (quý IV. 2003)
PHẠM PHÚ PHONGTrước khi có Hoa nắng hoa mưa (NXB Thanh Niên, 2001), Hà Huy Hoàng đã có tập Một nắng hai sương (NXB Văn Nghệ TP Hồ Chí minh, 1998) và hai tập in chung là Một khúc sông Trà (NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh) và Buồn qua bóng đuổi (NXB Văn hoá Dân tộc, 2000). Đã có thơ đăng và giới thiệu trên các báo Văn nghệ Trẻ, Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, Lao động, Người lao động, các tập san, tạp chí Thời văn, Tiểu thuyết thứ bảy, Cẩm thành hoặc đăng trong các tuyển thơ như Hạ trong thi ca (1994), Lục bát tình (1997), Thời áo trắng (1997), Ơn thầy (1997), Lục bát xuân ca (1999)...
Hoàng Phủ Ngọc Tường. Sinh ngày 9 tháng 9 năm 1937. Quê ở Triệu Long, Triệu Hải, Quảng Trị. Năm 1960, tốt nghiệp khóa I, ban Việt Hán, Trường đại học Sư phạm Sài Gòn. Năm 1964, nhận bằng cử nhân triết Đại học Văn khoa Huế. Năm 1960 - 1966, dạy trường Quốc Học Huế. Từng tham gia phong trào học sinh, sinh viên và giáo chức chống Mỹ - ngụy đòi độc lập thống nhất Tổ quốc. Năm 1966 - 1975, nhà văn thoát li lên chiến khu, hoạt động ở chiến trường Trị Thiên. Sau khi nước nhà thống nhất, từng là Chủ tịch Hội Văn nghệ Quảng Trị, Tổng biên tập Tạp chí Cửa Việt.
ANH DŨNGLTS: Kết hợp tin học với Hán Nôm là việc làm khó, càng khó hơn đối với Phan Anh Dũng - một người bị khuyết tật khiếm thính do tai nạn từ thuở còn bé thơ. Bằng nghị lực và trí tuệ, anh đã theo học, tốt nghiệp cử nhân vật lý lý thuyết trường Đại học Khoa học Huế và thành công trong việc nghiên cứu xây dựng hoàn chỉnh bộ Phần mềm Hán Nôm độc lập, được giải thưởng trong cuộc thi trí tuệ Việt Nam năm 2001.Sông Hương xin giới thiệu anh với tư cách là một công tác viên mới.
SƠN TÙNGLTS: Trong quá trình sưu tầm, tuyển chọn bài cho tập thơ Dạ thưa Xứ Huế - một công trình thơ Huế thế kỷ XX, chúng tôi nhận thấy rằng, hầu hết các nhà thơ lớn đương thời khắp cả nước đều tới Huế và đều có cảm tác thơ. Điều này, khiến chúng tôi liên tưởng đến Bác Hồ. Bác không những là Anh hùng giải phóng dân tộc, là danh nhân văn hoá thế giới mà còn là một nhà thơ lớn. Các nhà thơ lớn thường bộc lộ năng khiếu của mình rất sớm, thậm chí từ khi còn thơ ấu. Vậy, từ thời niên thiếu (Thời niên thiếu của Bác Hồ phần lớn là ở Huế) Bác Hồ có làm thơ không?Những thắc mắc của chúng tôi được nhà văn Sơn Tùng - Một chuyên gia về Bác Hồ - khẳng định là có và ông đã kể lại việc đó bằng “ngôn ngữ sự kiện” với những nhân chứng, vật chứng lịch sử đầy sức thuyết phục.
NGUYỄN KHẮC PHÊAnh Hoài Nguyên, người bạn chiến đấu của nhà văn Thái Vũ (tức Bùi Quang Đoài) từ thời kháng chiến chống Pháp, vui vẻ gọi điện thoại cho tôi: “Thái Vũ vừa in xong TUYỂN TẬP đó!...” Nhà văn Thái Vũ từng được bạn đọc biết đến với những bộ tiểu thuyết lịch sử đồ sộ như “Cờ nghĩa Ba Đình” (2 tập - 1100 trang), bộ ba “Biến động - Giặc Chày Vôi”, “Thất thủ kinh đô Huế 1885”, “Những ngày Cần Vương” (1200 trang), “Thành Thái, người điên đầu thế kỷ” (350 trang), “Trần Hưng Đạo - Thế trận những dòng sông” (300 trang), “Tình sử Mỵ Châu” (300 trang)... Toàn những sách dày cộp, không biết ông làm “tuyển tập” bằng cách nào?
MINH QUANG Trời tròn lưng bánh tét Đất vuông lòng bánh chưng Dân nghèo thương ngày Tết Gói đất trời rưng rưng...
NGUYỄN THỊ THÁITôi không đi trong mưa gió để mưu sinh, để mà kể chuyện. Ngày ngày tôi ngồi bên chiếc máy may, may bao chiếc áo cho người. Tôi chưa hề may, mà cũng không biết cách may một chiếc Yêng như thế nào.
Nhà thơ Hải Bằng tên thật là Vĩnh Tôn, sinh ngày 3 tháng 2 năm 1930, quê ở thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông mất ngày 7 tháng 7 năm 1998.
NGUYỄN VĂN HOACuốn sách: "Nhớ Phùng Quán" của Nhà xuất bản Trẻ, do Ngô Minh sưu tầm, tuyển chọn và biên soạn với nhiều tác giả phát hành vào quý IV năm 2003. Cuốn sách có 526 trang khổ 13x19cm. Bìa cứng, in 1000 cuốn. Rất nhiều ảnh đẹp của Nguyễn Đình Toán - nhà nhiếp ảnh chân dung nổi tiếng của Việt nam. Đơn vị liên doanh là Công ty Văn hoá Phương Nam.
ĐÀ LINHĐể có trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ, trước đó quân đội Nhân dân Việt Nam đã có những trận đánh để đời mở ra những khả năng to lớn về thế và lực cho chúng ta. Trong đó Trận chiến trên đường (thuộc địa) số 4 - biên giới Cao Bắc Lạng 1950 là một trận chiến như vậy.
HOÀNG VĂN HÂNLướt qua 30 bài thơ của Ngô Đức Tiến trong “Giọng Nghệ”, hãy dừng lại ở những bài đề tài tình bạn. Với đặc điểm nhất quán, bạn của anh luôn gắn liền với những hoài niệm, với những địa chỉ cụ thể, về một khoảng thời gian xác định. Người bạn ấy hiện lên khi anh “nghĩ về trường” “Thăm trường cũ”, hoặc là lúc nhớ quá phải “Gửi bạn Trường Dùng” “ Nhớ bạn Thanh Hoá”. Bạn của anh gắn với tên sông, tên núi: sông Bùng, sông Rộ, Lạt, Truông Dong, Đồng Tháp.
FAN ANHTrên thế gian này tồn tại biết bao nhiêu báu vật, hoặc những huyền thoại về báu vật, thì cũng gần như hiện hữu bấy nhiêu nỗi đau và bi kịch của con người vốn dành cả cuộc đời để kiếm tìm, bảo vệ, chiếm đoạt hay đơn giản hơn, đặt niềm tin vào những báu vật ấy. Nhẫn thạch (Syngué sabour - Pierre de patience) của Atiq Rahimi trước tiên là một báu vật trong đời sống văn học đương đại thế giới, với giải thưởng Goncourt năm 2008, sau đó là một câu chuyện về một huyền thoại báu vật của những người theo thánh Allad.
KIM QUYÊNSinh năm 1953 tại Thừa Thiên (Huế), tốt nghiệp Đại học Sư phạm Huế năm 1976, sau đó về dạy học ở Khánh Hoà (Nha Trang) hơn 10 năm. Từ năm 1988 đến nay, nhà thơ xứ Huế này lại lưu lạc ở thành phố Hồ Chí Minh, tiếp tục làm thơ và viết báo. Chị là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hiện nay là biên tập viên Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật của Sở Thông tin Văn hoá thành phố Hồ Chí Minh.