Tư liệu lần đầu tiên được công bố

10:11 15/01/2013

THƯ PHÙNG QUÁN GỬI TÔ NHUẬN VỸ

Sự thay đổi, tiến bộ của Việt Nam sau năm 1975 là to lớn và rõ rệt, đặc biệt trên lãnh vực đặc thù như Văn học, nếu nhìn lại những “vết sẹo” của một thời quá khứ để lại trên cơ thể nền Văn học, mà tiêu biểu là đối với nhà thơ Phùng Quán.

Nhà thơ Phùng Quán - Ảnh: TL

Anh đã được “hồi sinh”: Hội Nhà văn suy tôn anh, Nhà nước tặng Giải thưởng lớn về VHNT cho anh, quê hương lấy tên anh đặt cho một đoạn Quốc lộ chạy qua làng anh, bên cạnh tên thời thơ trẻ của Bác Hồ, một khu đất hoành tráng nơi làng quê anh xây khu lăng mộ vợ chồng anh, bạn bè và người hâm mộ lập Quỹ Phùng Quán để tặng thưởng những tác phẩm xuất sắc “viết theo khí phách Phùng Quán”…

Chỉ chừng đó, chắc anh đã mỉm cười nơi suối vàng và bạn bè, gia đình, người hâm mộ anh cũng đã sung sướng trước sự thay đổi phải nói là quá chừng lớn lao trong đời sống văn học.

Nhưng sau ngày được Quỹ Phùng Quán trao tặng thưởng cho tiểu thuyết VÙNG SÂU (cùng tiểu thuyết XA HÀ NỘI của Nhất Lâm) ngay tại lăng mộ vợ chồng anh dịp Tết nguyên tiêu đầu năm 2012, tôi suy nghĩ nhiều về một bức thư anh gửi cho tôi cách nay 28 năm mà tôi vẫn giữ như một báu vật của riêng mình. Trong nghiên cứu VĂN HỌC VIỆT NAM: ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP, do Trung tâm William Joiner thuộc Đại học Massachusetts - Hoa Kỳ tổ chức và năm 2007 đã cho công bố trên mạng Talawas, tôi có sử dụng một trích đoạn ngắn trong bức thư đó. Lập tức, năm đó và mấy năm sau, nhiều bạn đọc đã yêu cầu tôi công bố toàn bức thư này, như một tư liệu quý về một nhà thơ lớn có cuộc đời Thơ trầm luân, độc đáo.
 

Bức thư anh gửi tôi khởi nguồn từ việc tôi đánh tiếng muốn phục hồi tên Phùng Quán trên Tạp chí Sông Hương, khi tôi biết hóa ra lâu nay anh toàn dùng nhiều bút danh xa lạ, trong đó có bút danh Trần Vỹ Dạ (cho đến năm 1987, khi anh đóng các bản dập thử tác phẩm DŨNG SĨ CHÉP CÒM thành tập để tặng cháu Tô Diệu Lan con thứ hai của tôi, anh vẫn dùng bút danh này và có điều cần các nhà nghiên cứu văn học lý giải nữa là vì sao tác phẩm này anh cho là “bằng lòng nhất của đời bác”). Điều khiến tôi ngạc nhiên là hồi đó anh không mặn mà với chuyện phục hồi tên Phùng Quán trên Sông Hương, có vẻ như tránh né nữa. Những ngày anh ở Huế năm 1984, vì kẹt nhiều việc, tôi ít có dịp chuyện trò, “cụng ly” với anh như nhiều bạn văn thơ khác. Khi có thể trao đổi kỹ thì anh đã đi Hà Nội rồi. Nên tôi viết thư nói lại đề nghị và mong ước đó. Như trong thư anh trả lời tôi thì đây là lần thứ ba anh viết lại, nhưng nó “mệt như viết một cuốn sách” nên anh viết mãi vẫn chưa xong. Đến một ngày tôi ra Hà Nội, đến “Chòi ngắm sóng” của anh, anh đưa luôn cho tôi bức thư còn dở dang, “Thôi, Vỹ đọc chừng đó cũng biết lòng dạ của mình rồi…”.

Sắp tới ngày kỵ Phùng Quán (ngày 01/02/2013), tôi nghĩ mình sẽ có lỗi lớn nếu một bức thư tâm huyết chừng ấy mà cứ “giấu nhẹm” làm của riêng, nên tôi thắp nén nhang thưa với anh cho phép tôi gửi tới mọi người. Chuyện cũ nên lắm nỗi đau lòng, nhưng cũng là dịp để thấy sự đổi thay trong Văn học đã có một quãng dài. Nhưng điều quan trọng nhất là chúng ta thấy rõ hơn, da diết hơn, sững sờ hơn về một trái tim Phùng Quán đỏ rực dòng máu Cách mạng, hai chữ nghệ sĩ với anh không bao giờ tách rời hai chữ chiến sĩ, lúc nào cũng nghĩ đến Đất nước, đến Đảng Cộng sản, cả những dòng thơ tình yêu cũng là nỗi niềm anh nói với Đảng. Trong nghiên cứu của mình, khi đọc những đoạn thư đứt ruột ấy, tôi đã không cầm được nước mắt.

TÔ NHUẬN VỸ


Thư Phùng Quán gửi Tô Nhuận Vỹ

 


Hà Nội đêm cuối thu 84

Tô Nhuận Vỹ thân.
 

Tôi nhận được thư Vỹ, đã hai lần tôi viết thư trả lời nhưng đọc lại tôi lại xé đi. Vì muốn trả lời một bức thư như vậy thật không đơn giản chút nào. Vì tôi nghĩ đó không chỉ đơn thuần là bức thư của tình bạn, mà còn là bức thư của một nhà văn gửi cho một nhà văn. Mà hoàn cảnh của người viết văn cần trả lời lại rất phức tạp, rất không giống những nhà văn của bất cứ nước nào. Ở đây, tôi hoàn toàn không muốn đề cập đến tài năng (về tài năng tôi lúc nào cũng tự đánh giá mình là hầu như không có gì. Và những gì tôi đã làm được là do cuộc đời và tấm lòng chiến sĩ của tôi).

Nhưng nó đề cập tới những vấn đề đặt ra cho tất cả các nhà văn - nhà văn tài lẫn nhà văn tồi - đó là thái độ của nhà văn - trách nhiệm của nhà văn đối với nhân dân mình, Đất nước mình - “một Đất nước quá chừng thiêng liêng nhưng cũng đang vô cùng cơ hàn” như Vỹ nói. Và có lẽ còn nhiều vấn đề khác nữa gắn liền với số phận các nhà văn của chủ nghĩa xã hội.

Vỹ ơi. Trước tiên, những điều Vỹ đã viết cho tôi về phương diện tình bạn mà nói, tôi hết sức vui mừng và cảm động. Nó càng khẳng định thêm niềm xác tín của tôi: Trừ các cá tính ra, thì nghệ sĩ nói chung là những người thật sự tốt trong cuộc đời này.

Vỹ đừng nghĩ rằng tôi cho những lời Vỹ nói là đại ngôn. Chúng ta đang nói đến những vấn đề thật sự nghiêm trọng, không dùng “đại ngôn” sao được?

Hai bức thư trước (tôi đã xé đi) vì trong đó chỉ nói những chuyện tình cảm, và chỉ trả lời qua loa một vài điều mà Vỹ đề cập đến. Vì nếu trả lời kỹ thì tôi thấy nó dài dòng phức tạp quá. Không phải là một bức thư mà cả một cuốn sách. Nó đòi hỏi tôi phải gắng sức như viết cả một cuốn tiểu thuyết vậy. Tôi không “đại ngôn” đâu Vỹ ạ. Thật tình, nó còn làm tôi mệt hơn cả viết một cuốn sách. Do đó mà tôi đã viết đi viết lại, rồi lại xé đi.

Bức thư tuy ngắn ngủi của Vỹ, nhưng nó hàm chứa biết bao nhiêu thương yêu, lo lắng - một bức thư của tình bạn chân thành, và của một nhà văn chân chính. Tôi sẽ hóa thành kẻ vô tâm, nếu tôi trả lời Vỹ qua loa cho xong chuyện, tôi sẽ không xứng đáng với tấm lòng của Vỹ.

Tôi biết rất rõ Vỹ là người từng trải, sâu sắc - một nhà tiểu thuyết đúng nghĩa của nó. Nhưng giữa tôi và Vỹ lại có một chút ít khoảng cách về những sự kiện và năm tháng, và hơn nữa lại ít được chuyện trò, tiếp xúc (đó chính là điều tôi tiếc hơn cả trong thời gian tôi ở Huế vừa rồi).

Tôi chắc, có một đôi điều Vỹ hiểu tôi qua “nghe người ta nói” - “Người ta” đây là gồm cả báo chí và sách vở nữa. Vì có không ít sách vở nói đến những vấn đề của tôi và của một số anh em khác (đã được đưa vào sách giáo khoa về một giai đoạn văn học Việt Nam).
 

30 năm đã trôi qua. Biết bao nhiêu sự kiện đã rêu phong. Và tôi cũng không còn được chính quyền của Đất nước (mà tôi đã hiến dâng cả tuổi trẻ và cả máu để góp phần nhỏ bé xây dựng và bảo vệ) coi tôi là Nhà Văn. Tôi đã bị tước quyền viết văn (tháng 5 - 1958 Hội Nhà văn Việt Nam quyết định khai trừ tôi vĩnh viễn khỏi Hội Nhà văn), từ khi tôi mới 24 tuổi đầu - đến nay tôi đã 54 tuổi rồi. Tôi chắc Vỹ hiểu còn hơn cả tôi, ở đất nước ta, bị khai trừ vĩnh viễn khỏi Hội Nhà văn, thì một nhà văn sẽ rơi vào một hoàn cảnh bi thảm như thế nào. Vì mặt trận Văn nghệ là một trong những mặt trận được chuyên chính nghiêm ngặt nhất.

Vỹ thử tưởng tượng, một người mà công việc viết văn là niềm vui và lẽ sống được nhất của đời người đó (không phải viết văn nghiệp dư) như một thứ giải trí ngoài giờ lao động, mà để phục vụ một “Đất nước thiêng liêng” như một chiến sĩ ngoài mặt trận) lại bị tước đi quyền viết văn, thì sẽ như thế nào?

Đã từ nhiều năm nay tôi sống mà như chết.

Cơn khát thơ thiêu đốt trái tim tôi. Tôi đã đi rao cùng thiên hạ.
“- Ai đổi thơ lấy máu!”
Không ai đổi...


Đó là chân dung đau buồn của tôi trong suốt 30 năm qua.

Có điều, trước khi trở thành nhà văn, tôi là một chiến sĩ. Và chính phẩm cách chiến sĩ đã nâng đỡ tôi suốt cuộc hành trình bi thảm này.

Tôi muốn được lịch sử Văn học cách mạng Việt Nam xét xử công bằng. Tôi có thể chết trước khi được xét xử nhưng không sao, tôi vẫn kiên nhẫn đợi chờ.

“Vì tôi tin tôi sẽ hồi sinh”.

Và để cho sau này công việc xét xử được dễ dàng, tôi lúc này không muốn thêm gì và bớt gì những điều tôi đã viết.

“Trái tim dập nát của tôi
Vẫn đỏ thắm một khối tình”


Có thể tôi là người cũ kỹ và lỗi thời, “không hợp thời đại”, nhưng tôi vẫn quan niệm văn chương không phải là nghề ng- hiệp sinh sống. Mà đó chính là lý tưởng Cộng sản chủ nghĩa được thể hiện bằng phương tiện ngôn từ, như Bác Hồ đã nói:

“Văn nghệ là một mặt trận

Văn nghệ sĩ chính là chiến sĩ trên mặt trận đó”.

Không một chiến sĩ chân chính nào lại coi là “nghề chiến sĩ”.

Theo tôi, người chiến sĩ cầm súng và cầm bút “với Tổ quốc và Chủ nghĩa Xã hội là bậc trung thần”.

Tôi hoàn toàn tán đồng lời định nghĩa Trung thần của Mặc Tử:

“Văn quân đất Lỗ Dương bảo Mặc Tử: “Có kẻ nói với ta rằng trung thần là người bắt cúi thì cúi, bắt ngẩng thì ngẩng, để thì im, gọi thì thưa, như thế có cho là trung thần được không?”. Mặc tử nói: “Bắt cúi thì cúi, bắt ngẩng thì ngẩng như thế khác gì cái bóng? Để thì im, gọi thì thưa, như thế khác gì tiếng vang? Những kẻ như bóng, như vang thì còn được ích gì?” (Mặc Tử - Trích Cổ học tinh hoa).

Tôi không bao giờ muốn làm một hạt bụi của Đảng, mà phải được làm một chiến sĩ của Đảng: “Văn nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận đó”.

Tôi muốn được đề nghị với Đảng những điều mà trực giác của nghệ sĩ và lương tâm của chiến sĩ thôi thúc tôi phải đề nghị, như 30 năm trước đây tôi đã đề nghị:

Trung ương Đảng ơi!
Lũ chuột mặt người chưa hết
Đảng cần lập đội quân trừ diệt
Có tôi!
Đi trong hàng ngũ tiền phong
”.
            (Chống tham ô lãng phí)

Ba mươi năm trước, lời đề nghị đó kết tội là lời báng bổ, chống Đảng, bôi đen chế độ. Và vì lời đề nghị đó cùng nhiều đề nghị khác, tôi đã chịu nhận hình phạt: Vĩnh viễn tước quyền viết văn và đi lao động cải tạo suốt 15 năm trời.

Tôi rất xúc động trước tình âu yếm của bạn bè, đặc biệt là với các anh chị ở Tạp chí Sông Hương, muốn in thơ cho tôi với cái tên Phùng Quán “trở lại với làng văn”. Nhưng tôi rất mong các bạn hiểu cho tôi. Năm nay tôi đã 54 tuổi. Tôi đã đi gần trọn một đời văn. Tôi không muốn thêm gìbớt gì những gì tôi đã làm, đã viết. Tôi không thuộc vào loại các nhà văn cùng thế hệ và tuổi tác với tôi, bằng mọi cách và mọi giá, đeo đẳng cho bằng được cái tên mình trên báo, trên sách. Hôm trước có phong trào ca Mao thì ca, hôm sau có phong trào chửi Mao thì chửi...

Tôi tự biết mình tài năng tầm thường, nên tôi đã dồn toàn bộ tinh lực của cả đời người vào trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, dâng hiến cho nhân dân, Đất nước, Đảng: năm 1955.

VƯỢT CÔN ĐẢO, TIẾNG HÁT TRÊN ĐỊA NGỤC CÔN ĐẢO, TÔI MUỐN MỜI ĐẾN TỔ QUỐC TÔI, LỜI MẸ DẶN, CHỐNG THAM Ô LÃNG PHÍ.

Tôi tự biết nhiên liệu tài năng đời tôi ít ỏi. Tôi đã dồn tất cả, đốt lên một lần để thành, dù là một ngọn lửa nhỏ. Tôi không muốn cả đời văn lúc nào cũng chỉ âm ỉ khói. Khói có đấy, nhưng có ích cho ai? Và với tấm lòng can đảm của một chiến sĩ, tôi tình nguyện nhận nhiệm vụ xích hầu. Và tôi đã nhận đạn. Tôi đã ngã xuống nhưng lòng tôi thanh thản: Tôi đã đi một đường thẳng, không rẽ ngang rẽ tắt. Nhưng, không có hạnh phúc lớn lao nào bằng được chết vì nghĩa vụ.

Tôi là nhà văn bất tài nhưng chưa lúc nào tôi thấy hổ thẹn và hối hận về nhân cách của mình. Thật ra, tôi đã trả giá quá đắt cho thơ ca. Nhưng ngay cả sự trả giá đó tôi cũng coi là hạnh phúc.

Trong thư, Vỹ có nói tôi đi như “người chạy trốn”, tôi “ngượng ngùng”. Điều này tôi phải nói ngay: Tôi cũng có nhiều tốt xấu như bất kỳ ai khác. Nhưng tôi chưa bao giờ hèn nhát. Tôi chưa bao giờ chạy trốn, và ngượng ngùng.

Cả cuộc đời thơ của tôi bảo đảm cho tôi lời nói đó.

Tôi đặt toàn bộ niềm xác tín của tôi vào sự công bằng và lịch sử:

- Tên Hoàng Văn Hoan đã bị Quốc hội kết án tử hình về tội phản bội Tổ quốc và liệt hắn vào loại Trần Ích Tắc của thời này.

Hắn đã chạy trốn khỏi Đất nước. Còn tôi, tôi vẫn sống ở đây.

Kẻ kết tội tôi là phản bội, ba mươi năm sau chính hắn bị nhân dân kết tội là phản bội và có án tích hẳn hoi.

Tôi coi như thế là đủ.

Ba mươi năm nay tôi bị dìm trong bùn nhơ lăng mạ
Nhưng tôi tin chắc
Trái tim Thơ trong sạch và gương mặt Thơ bi thiết của tôi
.
...
Trái tim tôi như một trái cây bị dập nát.

Nếu không được ngồi thì tôi xin đứng
Cùng với cây chổi em dựng ở xó nhà.
Nếu không được thở
Thì tôi xin nín thở
Như với ngày còn đi chăn trâu cắt cỏ
Tôi suýt chết dưới đáy giếng làng
Vì mãi lặn mò con cá bống thần cô Tấm bỏ quên...

Em giận dữ la lên:
- Đứng trong xó nhà cũng không được đứng!
- Thì tôi xin ra đứng trước hiên...
- Đứng trước hiên cũng không được đứng!
- Thì tôi xin ra đứng ngoài ngõ...
- Đứng ngoài ngõ cũng không được đứng!
- Thì tôi xin ra đứng đầu đường...
Tôi nhìn vào khung cửa nhà em
Môi rát bỏng những lời yêu thương.
- Đứng đầu đường cũng không được đứng!
Lời yêu thương cũng không được nói!
Thì tôi xin chết!
Nhưng
Tôi sẽ không nói lời vĩnh biệt
Vì tôi tin tôi sẽ hồi sinh.
Dù hỏa táng
Hay chôn xuống đất
Trái tim dập nát của tôi
Vẫn đỏ thắm một khối tình

            (Trích 13 bài thơ tình làm ở Huế mùa hè 84)
*
Trong suốt 30 năm qua, trong sách giáo khoa (dạy cho học sinh của cả nước) trên báo chí, trong sách vở v.v... tôi bị coi là nhà văn phản bội, chống Đảng, chống chế độ, là một tên:

Nó ghét kẻ thầy hiền bạn tốt
Nó yêu quân gái điếm cao bồi
Ghét những người đáng yêu của thiên hạ
Yêu những người đáng ghét của muôn người.
Quen học thói gà đồng mèo mả
Hóa ra thân chó má chim mồi
”.

(Lời mẹ dặn có phải là bài thơ chân thật; trích thơ Hoàng Văn Hoan - đăng báo Nhân Dân ngày 24 - 11 - 1975), ký tên Trúc Chi. Sau này in lại thành tập: Thơ Hoàng Văn Hoan do Nhà xuất bản Việt Bắc in năm 1975).

Còn có lời thóa mạ, lăng nhục nào nghiêm trọng hơn đối với một nhà văn?

Và như lời giới thiệu ở đầu tập thơ của nhà xuất bản: “Đặc biệt là mấy bài viết cho báo Nhân Dân trong thời gian 1957 - 1958 với những bút danh khác nhau, nếu nói văn thơ là vũ khí thì đây chính là những quả pháo đạn đang lao về phía boong ke phi cách mạng trên mặt trận văn nghệ”.

Kết thúc lớp học đấu tranh “Nhân văn Giai phẩm” tại Thái Hà ấp, lúc ấy anh Tố Hữu là Bí thư Học ủy, Hoàng Văn Hoan thay mặt Bộ Chính trị Trung ương Đảng mang đến tặng lớp học một bó hoa lay ơn lớn, biểu dương sự thắng lợi rực rỡ của lớp học.

Xét một nhà văn tốt hay xấu, cách mạng hay phản động, phải xét bằng tác phẩm của chính nhà văn đó.

Tôi đã bị coi là nhà văn chống Đảng, chống Chế độ, bị tước vĩnh viễn quyền viết văn, vì hai tác phẩm: “Lời mẹ dặn Chống tham ô lãng phí. Đã ba mươi năm rồi, tôi muốn chép lại đây cả hai bài thơ bị khép tội “tử hình” để Vỹ đọc.

Vỹ ơi, Vỹ coi “Vượt Côn Đảo”, “Những anh hùng Sê-pát-tô-pôn” là tác phẩm “cường tráng” của tôi. Nhưng với tôi, hai bài thơ này mới là tác phẩm quan trọng chủ yếu của đời tôi. Đó là chân dung toàn vẹn của tôi: một nhà văn tận trung với Nước, với Đảng, với Dân.

Ngày đó, khi tác phẩm bị nguyền rủa, bị phản đối, la ó, tôi đã liều lĩnh nói: “Hai mươi năm nữa Đảng sẽ hiểu tôi”. Quả nhiên, hai mươi năm sau, trên báo Nhân Dân đã phát động viết chống lại sự dối trá, “Làm ăn phải thật thà”. Còn tệ quan liêu, lãng phí, và ăn cắp thì thôi không cần phải nói nữa.

Ngày đó, tôi mới 24 tuổi đầu và đã là một nhà văn được chế độ ưu đãi.

Nhưng với trực giác của một nghệ sĩ, và tấm lòng can đảm của một chiến sĩ, tôi đã kêu to lên, báo trước niềm hiểm họa to lớn đang rình phục nhân dân và Đất nước. Trong lịch sử thơ ca cách mạng của Đất nước, tôi là người độc nhất kêu lên trong thơ mình: “Trung ương Đảng ơi!”.
 


Đó là tiếng kêu bi thiết của nghệ sĩ, và một chiến sĩ, đặt toàn bộ cuộc đời và lòng tin vào Đảng vào sự nghiệp lớn lao mà Đảng đang xây dựng. Và trước tấm lòng đó, tôi đã bị liệt vào hạng người: Yêu “gái điếm, cao bồi, gà đồng, mèo mả”. Làm như vậy, tôi biết có nguy hiểm không? Tôi quá biết. Kinh nghiệm chiến sĩ đang dạy tôi rằng: “Những chiến sĩ tình nguyện làm nhiệm vụ xích hầu là những người biết chắc rằng mình sẽ sẵng sàng nhận đạn”.

Nhưng tôi với tư cách là chiến sĩ, tôi luôn luôn tự thấy chính mình là người có lỗi: Tôi chưa làm tròn nghĩa vụ của “bậc trung thần” đối với Tổ quốc, Nhân dân và Đảng.

“Nước Sở có người họ Hòa, được một hòn ngọc ở trong núi, đem dâng vua Lệ - Vương. Vua sai thợ ngọc xem, thợ ngọc nói: “Đá không phải ngọc”. Vua cho người họ Hòa nói dối, sai chặt chân trái. Đến khi vua Vũ Vương nối ngôi, người họ Hòa lại đem ngọc ấy dâng. Vua sai thợ ngọc xem. Thợ ngọc nói: “Đá không phải ngọc”. Vua lại cho họ Hòa là nói dối, sai chặt nốt chân phải. Đến khi vua Văn Vương lên ngôi, người họ Hòa ôm hòn ngọc, khóc ở chân núi Sở Sơn suốt ba ngày ba đêm đến chảy máu mắt ra. Vua thấy thế sai người đến hỏi. Người họ Hòa thưa: “Tôi khóc không phải là thương hai chân tôi bị chặt, chỉ thương về nỗi ngọc mà cho là đá nói thật mà cho là nói dối”. Vua bèn sai người xem lại cho rõ kỹ, thì quả nhiên là ngọc thật, mới đặt tên là “ngọc bích họ Hòa”.

Mỗi nghệ sĩ chân chính đều có một “Ngọc bích họ Hòa” của mình để dâng hiến cho Đất nước, Nhân dân. Nhưng tôi vô cùng hối hận là đã không đủ lòng tận trung như người họ Hòa để dâng “ngọc bích” của mình lên Đảng, cho đến lúc được nhận ra không phải đá mà ngọc thật.

Ba mươi năm trước, nếu tôi đủ lòng tận trung, dù bị chặt chân, khóc đến chảy máu mắt, vẫn cứ thiết tha dâng lời đề nghị: “Cần lập đội quân trừ diệt/ Lũ chuột mặt người”. Cho đến lúc lời đề nghị được chấp nhận, thì tôi tin rằng sẽ góp phần hạn chế nạn ăn cắp của công.....  

(SH287/01-13)   








 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • HOÀNG THỤY ANH

    Mùa hè treo rũ
    Trong cái hộp hai mươi mét vuông
    Ngổn ngang màu
    Ký tự chen chúc như bầy ngỗng mùa đông
    Ngày lên dây hết cỡ
                                Chật
    Dâng đầy lên ngực
    Chuông nhà thờ chặt khúc thời gian

     

  • NGUYỄN TRỌNG TẠO

    Lâu nay, đọc thơ của trẻ em, tôi thường có cảm giác, hình như các em làm thơ dưới ngọn roi giáo huấn mà người lớn thường giơ lên đe nẹt trẻ con. Cho nên khi cầm trong tay tập thơ Cái chuông vú của bé Hoàng Dạ Thi “làm” từ 3 đến 5 tuổi, tôi không khỏi ngạc nhiên.

  • NGHIÊM LƯƠNG THÀNH

    Đọc xong Những đứa con rải rác trên đường, cuốn tiểu thuyết mới của nhà văn Hồ Anh Thái (Nxb. Trẻ 2014), thoạt đầu tôi có cảm giác trống vắng.

  • NGUYỄN ĐỨC TÙNG

    Anh Cao Việt Dũng hỏi: anh có biết Lưu Quang Vũ không? Anh nghĩ gì về thơ Lưu Quang Vũ?

  • CHÂU THU HÀ

    Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng văn hóa của dân tộc Việt Nam. Tinh hoa và cốt cách của Người là nguồn cảm hứng vô tận cho văn nghệ sĩ, nhà báo.

  • DÃ LAN - NGUYỄN ĐỨC DỤ

    Cách đây mấy năm, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội có cho phát hành cuốn TỪ ĐIỂN VĂN HỌC (1983 - 1984). Sách gồm hai tập: tập I và tập II đầy cả ngàn trang, với sự cộng tác của nhiều tác giả.

  • MAI VĂN HOAN

    "Dư âm của biển" - theo tôi là cách gọi hợp nhất cho tập thơ mới này của Hải Bằng. Đặt "Trăng đợi trước thềm" chắc tác giả gửi gắm một điều gì đó mà tôi chưa hiểu được. Song với tôi "Trăng đợi trước thềm" có vẻ mơ mộng quá, tên gọi ấy chưa thể hiện được giai điệu cuộc đời của thơ anh.

  • PHẠM PHÚ PHONG

    Nguyễn Hiến Lê (1912 - 1984), hiệu là Lộc Đình, người làng Phương Khê, phủ Quảng Oai, thị xã Sơn Tây, tỉnh Sơn Tây, nay thuộc thủ đô Hà Nội, là nhà văn, nhà nghiên cứu, biên soạn, khảo cứu, về nhiều lĩnh vực như văn học, triết học, sử học, ngôn ngữ học, đạo đức học, chính trị học, kinh tế học, giáo dục học, gương danh nhân…

  • Chuyện gì xảy ra trong ngày 30/4/1975 tại Sài Gòn? Nhiều người đã viết về sự kiện này. Một lần nữa, kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái - nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn đã lên tiếng, cùng với sự trợ giúp của vợ và hai con - Nguyễn Hữu Thiên Nga và Nguyễn Hữu Thái Hòa.

  • Nhân dịp kỷ niệm 40 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia-Sự thật cho ra mắt bạn đọc một số đầu sách về sự kiện lịch sử này, về lịch sử kháng chiến Nam Bộ và về cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ của toàn dân Việt Nam.

  • LÊ HUỲNH LÂM

    Không khỏi bất ngờ khi cầm trên tay tập “Hôm qua hôm nay & hôm sau” của Vũ Trọng Quang do Nxb Đà Nẵng ấn hành vào tháng 1 năm 2006. Vậy là đã 9 năm.

  • PHẠM XUÂN DŨNG

    Tôi và nhiều bạn bè sinh viên còn nhớ nguyên vẹn cảm giác lần đầu nghe bài thơ “Đêm qua” của nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường trong đêm cư xá Huế lạnh và buồn đến nao lòng tê tái.

  • Ý NHI 

    1.
    Một buổi chiều, khoảng cuối năm 1989, chúng tôi có cuộc gặp gỡ tại nhà Trần Thị Khánh Hội, trong một con hẻm rộng, quận Phú Nhuận.

  • TRẦN HOÀI ANH

    (Kỷ niệm 49 năm ngày mất cố Thi sĩ Nguyễn Bính 1966 - 2015)

  • DƯƠNG PHƯỚC THU  

    Kể từ lúc thị xã Huế được nâng lên cấp thành phố, cho đến khi người Nhật làm cuộc đảo chính hất chân người Pháp khỏi đông Dương vào ngày 9/3/1945 thì Huế vẫn là thành phố cấp 3, nhưng là thành phố của trung tâm chính trị, văn hóa, nơi đóng kinh đô cuối cùng của nhà nước quân chủ Việt Nam.

  • HỒ VĨNH  

    Thi hữu Quốc Hoa Nguyễn Cửu Phương là một thành viên trong hội thơ Hương Bình thi xã do Ưng Bình Thúc Giạ Thị làm hội chủ. Năm 1933 thi đàn đặt tên là Vỹ Hương thi xã, qua năm 1950 các thi hữu bắt đầu đổi tên Vỹ Hương thi xã thành Hương Bình thi xã.

  • Mùa xuân chiếm một ví trí quan trọng trong thơ Nguyễn Trãi. Xuân hiện lên bằng nhiều vẻ dáng khác nhau, được khắc họa bằng nhiều cung bậc khác nhau. Mỗi một bài thơ xuân như là một trang nhật kí và cảm xúc của cuộc đời thi nhân.

  • Đọc sách Lý Thường Kiệt - Lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý (ảnh, NXB Khoa học xã hội, Sách Khai tâm, quý 1/2015) của Hoàng Xuân Hãn là cách để “gặp lại” danh tướng Lý Thường Kiệt.

  • CAO HUY THUẦN

    Từ trong mênh mông, một sợi mưa rơi vào lá sen. Nước vốn không có hình. Nằm trong lá, nước tròn như một viên ngọc, tròn như một hạt lệ, tròn như một thủy chung. Gió thoảng qua, lá sen lay động, nước rơi không để lại một dấu vết, rơi như chưa bao giờ có, rơi như một hững hờ.

  • NGUYÊN QUÂN

    Những lúc bứt thoát được những hệ lụy cuộc sống, tôi chỉ thích được lang thang lên mạng, mong bắt gặp một câu thơ, một dòng văn nào đó gần gũi với tâm trạng để ru dỗ mình bằng những phút giây đồng điệu.