Từ bức tượng Phật trong chiến tranh

16:16 29/04/2010
THANH TÙNGLarry Rottmann sinh ngày 20-12-1942 ở tiểu bang Missourri. Ông thường nói: tôi sinh khác năm nhưng cùng ngày với ngày thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Larry Rottmann hay để ý tìm kiến những điều mà cuộc đời ông gắn bó, liên quan đến Việt Nam.

Một bức ảnh của Larry Rottmann - Ảnh: 25thida.org

Gặp nhau ở Mỹ ông đưa cho nhà văn Nguyễn Quang Sáng tấm danh thiếp in bằng tiếng Việt: Larry Rottmann - giáo sư Anh văn. Những người Việt Nam in danh thiếp bằng chữ nước ngoài chủ yếu là do nhu cầu giao tiếp trong hoạt động kinh doanh, đối ngoại còn Larry Rottmann in danh thiếp bằng chữ Việt nhằm bảy tỏ tình cảm của mình với Việt Nam.

Larry Rottmann sang Việt Nam tháng 3-1967. Tháng 2-1968, trong chiến dịch Mậu Thân (1968) ông tham gia một trận càn dọc quốc lộ, đoạn từ Củ Chi đến đến sân bay Tân Sơn Nhất. Trên đường hành quân ông nhìn thấy một pho tượng Phật, bức tượng Di Lặc tạc bằng gỗ mít. Ông nói: "Giữa sự chết chóc và tàn phá ghê gớm, không còn một ai ở xung quanh trừ những người lính Mỹ. Tôi không muốn nhìn thấy tượng Phật bị hư hỏng hay bị phá hủy, vì tượng Phật là tượng trưng, là sứ giả thiêng liêng của hòa bình. Thế là tôi nhặt lấy pho tượng, giữ suốt trận đánh". Ba ngày sau tượng Di Lặc vẫn ở trên lưng Larry Rottmann. Trong một trận pháo kích của quân giải phóng ông bị một vết thương trên đầu rồi bất tỉnh đến hai tuần lễ. Người ta nghĩ Larry Rottmann đã chết nên gửi tất cả tư trang của ông về cho gia đình, trong đó có cả bức tượng Di Lặc.

Hết thời hạn quân dịch Larry Rottmann trở về Mỹ tiếp tục giảng dạy ở trường đại học Missourri. Khi mở hòm tư trang, được gửi về từ Việt Nam, Larry Rottmann thấy: "Di Lặc cười với tôi. Nhìn tượng Phật, nghĩ lại, chiến tranh ở Việt Nam, tôi nghĩ ngợi nhiều điều". Rồi bức tượng được đặt ở vị trí trang trọng nhất trong nhà Larry Rottmann. Mỗi ngày nhìn tượng Phật ông nghĩ rằng Đức Phật đã phù hộ cuộc đời, cho ông cuộc sống may mắn, tốt lành. Tượng Phật không bao giờ là của riêng ông và ông trân trọng, gìn giữ. Trong một bài báo ông viết: "Đường mòn Hồ Chí Minh là biểu tượng chiến thắng của Việt cộng. Dù người Mỹ có huy động hết sức mạnh của không lực đem bom rải thảm, hủy diệt, thì con đường ấy vẫn tồn tại vì được đức Phật phù hộ".

Năm 1989, sau 21 năm gìn giữ, Larry Rottmann đã trở lại Việt Nam và trao lại bức tượng Phật cho UBND huyện Củ Chi. Khi trao bức tượng cho ông quyền Chủ tịch UBND huyện, Larry Rotttmann nói: "Tôi xin lỗi đã mang tượng Phật đi quá xa và đã giữ quá lâu. Nhưng trong tất cả các vận may mà tượng Phật Di Lặc đã đem lại cho tôi, nhiều hơn và tốt hơn cuối cùng là đã đưa tôi trở lại đất nước tươi đẹp của các bạn, tạo cơ hội cho chúng ta gặp gỡ, không phải cuộc gặp gỡ của chiến tranh mà gặp gỡ trong hòa bình, hữu nghị. Tôi hy vọng và cầu nguyện cho sự may mắn của các bạn đã mang lại cho tôi giờ đây sẽ về lại với nhân dân Hóc Môn, về với niềm hy vọng và ước mơ cho những em bé của các bạn. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: "Qua nỗi đớn đau là niềm vui sẽ đến". Việt Nam đã trải qua muôn vàn khó khăn trong quá khứ. Bây giờ là lúc dành cho Việt Nam niềm vui trong tương lai".

Trong thời gian trở lại chiến trường Trị Thiên, Larry Rottmann có đến thăm bệnh viện Trung ương Huế. Ông quan tâm nhiều đến các trang thiết bị y tế và các hoạt động từ thiện nhân đạo. Và ông quyết định dành một phần thu nhập của mình để làm học bổng hiếu học. Từ đó Larry Rottmann đã có nhiều đợt chuyển tiền về để bệnh viện chủ động xét cấp học bổng. Sau Larry Rottmann có thêm Jenning Foudation tham gia quỹ học bổng này. Đối tượng được cấp học bổng là những sinh viên y khoa nghèo, học giỏi, phục vụ tốt bệnh nhân ở bệnh viện. Có nhiều đợt quỹ học bổng này được mở rộng để cấp cho hàng chục học sinh các trường phổ thông do báo Thừa Thiên Huế phối hợp với bệnh viện Trung ương Huế thực hiện. Sau này do các hoạt động vì Việt Nam Larry Rottmann bị buộc thôi việc cho nên quỹ học bổng kết thúc vào năm 1995.

Larry Rottmann làm việc không mệt mỏi vì mối quan hệ Việt - Mỹ với hy vọng tìm kiếm những giải pháp và cơ hội hàn gắn vết thương chiến tranh trong khả năng của mình. Ngoài giảng dạy, nghiên cứu ông còn là nhà soạn kịch, viết tiểu thuyết, làm thơ, làm phim tài liệu. Năm 1991 - 1992, với tư cách là giám đốc dự án Ozark Đông Nam Á (dự án phát huy, trao đổi giáo dục giữa Việt Nam và Trung mỹ) Larry Rottmann đã khởi xướng và đứng ra tổ chức triển lãm Những tiếng nói từ đường mòn Hồ Chí Minh - triển lãm chung với nghệ sĩ nhiếp ảnh, nhà báo Trọng Thanh, phóng viên TTXVN vào chiến trường cùng thời điểm Larry Rottmann đến miền Nam Việt Nam. Triển lãm được tổ chức tại 15 bang của nước Mỹ trong thời gian một năm, chủ yếu là trong các trường đại học. Theo Larry Rottmann triển lãm là nhận xét của tác giả về Việt Nam qua những bức ảnh. Ảnh trong chiến tranh do một cựu binh Việt Nam thể hiện. Ảnh sau chiến tranh do một cựu binh Mỹ thể hiện. Ông muốn sinh viên người Việt ở Mỹ hiểu chiến tranh Việt Nam khác với thế hệ cha anh của mình. Sau triển lãm 140 bức ảnh của Trọng Thanh được lưu giữ tại bảo tàng hòa bình Washington.

Cảm hứng từ cuộc triển lãm này năm 1993 Larry Rottmann in chung với Trọng Thanh tập sách thơ và ảnh mang tựa đề Những tiếng nói từ đường mòn Hồ Chí Minh, do NXB Sự kiện chân trời, Califoocnia, ấn hành. Đây là bộ sưu tập đầu tiên của Larry Rottmann, gồm những sáng tác trong 27 năm và sau 9 lần trở lại Việt Nam. Những tiếng nói từ đường mòn Hồ Chí mInh không chỉ phản ánh sự khốc liệt của chiến tranh mà còn đưa ra cách nhìn mới, giúp độc giả có những nhânj thức và hành động làm ảnh hưởng tích cực đến quan hệ giữa hai dân tộc, hai đất nước từng đối đầu trong quá khứ. Tuyển tập thơ - ảnh của Larry Rottmann và Trọng Thanh được hình thành từ trái tim, khối óc của hai người nghệ sĩ nhằm vào nỗ lực đẩy lùi bóng đêm dai dẳng của cuộc chiến tồi tệ.

Đúng là Đức Di Lặc đã trở thành vị sứ giả của hòa bình, hữu nghị và hạnh phúc. Larry Rottmann đã phấn đấu để gắn bó với Việt Nam bằng những nghĩa cử đẹp. Đó cũng là những hành động thiết thực và rất có ý nghĩa nhằm chuộc lại một phần đời vô nghĩa của ông trước đây ở chiến trường Việt Nam.

T.T
(138/08-00)



Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • ĐÀO ĐỨC TUẤN Lang thang giữa hè Huế nồng nã. Bỗng nhận tin của Minh Tự: thêm một cuốn sách của Nguyễn Xuân Hoàng vừa được bạn bè góp in. Đầy đặn  360 trang sách với chân dung “người buồn trước tuổi” đằm đặm trên bìa đen trắng.

  • Vào lúc 14 giờ 25 phút ngày 13 tháng 7 năm 2011 (nhằm ngày 13 tháng 6 năm Tân Mão), nhà thơ Văn Hữu Tứ, hội viên Hội Nhà văn TT. Huế đã qua đời sau một thời gian lâm trọng bệnh. Từ đây, trong mái nhà anh gần hồ Tịnh Tâm, trên các con đường của Thành phố Huế cũng như những nơi anh thường lui tới, tác giả của các tập thơ “Bên dòng thời gian”, “Tôi yêu cuộc đời đến chết” vĩnh viễn vắng mặt.

  • LÊ HUỲNH LÂM (Đọc tập thơ “Năm mặt đặt tên”, Nxb Thuận Hóa, tháng 5-2011)

  • KHÁNH PHƯƠNG Nguyễn Đặng Mừng đến với nghề viết một cách tự nhiên, mà cũng thầm lặng như cách người ta theo đuổi một lý tưởng. Ông vốn là học trò lớp ban C (ban văn chương) những khóa gần cuối cùng của trường Trung học Nguyễn Hoàng, trường công lập duy nhất và cũng danh tiếng nhất tỉnh Quảng Trị trước 1975.

  • …Thuộc dòng dõi Do Thái Đông Âu, Frederick Feirstein sinh ngày 2 tháng Giêng năm 1940 tại New York City, thân phụ và thân mẫu ông có tên là Arnold và Nettie Feirstein…

  • L.T.S: Nhà thơ Xuân Hoàng sinh năm 1925 tại Đồng Hới, Bình Trị Thiên. Hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Nguyên là quyền Chủ tịch Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên, thuở nhỏ ông học ở Huế rồi dạy học ở Đồng Hới một thời gian trước khi thoát ly tham gia cách mạng.

  • Anh không thấy thời gian trôi thời gian ở trong máu, không lời ẩn mình trong khóe mắt làn môi trong dáng em đi nghiêng nghiêng như đang viết lên mặt đất thành lời về kiếp người ngắn ngủi.(T.Đ.D)

  • HOÀNG THỤY ANH Phan Ngọc đã từng nói: Thơ vốn dĩ có cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải xúc cảm và phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức ngôn ngữ này.

  • TRẦN THIỆN KHANH (Nhân đọc Phim đôi - tình tự chậm, Nxb. Thanh niên 2010)

  • LGT: Tuệ Nguyên, một nhà thơ trẻ dám dấn thân để lục tìm chất men sáng tạo ở những vùng đất mới với khát vọng cứu rỗi sự nhàm chán trong thi ca. Trong chuyến xuyên Việt, anh đã ghé thăm tạp chí Sông Hương. Phóng viên Lê Minh Phong đã có cuộc trò chuyện với nhà thơ trẻ này.

  • KHÁNH PHƯƠNG Lê Vĩnh Tài tự chẩn căn bệnh của thơ tình Việt Nam là “sến”, nghĩa là đa sầu đa cảm và khuôn sáo, bị bó buộc trong những lối biểu hiện nhất định. Rất nhanh chóng, anh đưa được lối cảm thức đương đại vào thơ tình, cái ngẫu nhiên, vu vơ, ít dằn vặt và không lộ ra chủ ý, dòng cảm xúc ẩn kín sau những sự vật tình cờ và cả những suy lý.

  • HỒ THIÊN LONGBạn đọc TCSH thường thấy xuất hiện trên tạp chí, và một số báo văn nghệ khác một số tên tuổi như về văn xuôi có: Lê Công Doanh, Phùng Tấn Đông, Châu Toàn Hiền, Nguyễn Minh Vũ, Trần Thị Huyền Trang, Phạm Phú Phong, Trần Thùy Mai…

  • FAN ANH 1. Sự đồng hành của “ba thế hệ viết trẻ”

  • HOÀNG THÁI SƠN (Về nhà thơ trẻ Xích Bích)

  • NHỤY NGUYÊN

    Đọc bài thơ, thương hốc mắt sâu thẳm của người mẹ chờ con lạc lối, bơ vơ ngay trên ngọn sóng quê nhà.

  • Kỷ niệm 100 năm ngày bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước & Ngày báo chí cách mạng Việt NamPHẠM PHÚ PHONG - HỒ DŨNGHơn ai hết, trong buổi bình minh của cách mạng nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người ý thức rất đầy đủ về sức mạnh của báo chí và dư luận xã hội trong đấu tranh cách mạng. Nó không chỉ là phương tiện giao lưu tư tưởng, mở đường cho văn hóa phát triển mà còn là vũ khí, là công cụ đấu tranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc trên mặt trận tư tưởng.

  • ĐÔNG HÀHuế không phải là đất ở để thương mà chỉ là đất đi để nhớ. Nhiều thế hệ học sinh sinh viên đã đến, ở lại nơi này và rồi sau đó lại khăn gói ra đi. Nhưng đi không đành, nên thường để lại bằng những nỗi lòng trải dài theo khói sương bãng lãng của đất trời cố đô. Thành thử có một thời, Huế nên thơ trong mỗi áng văn chương của những người trẻ tuổi là vì vậy.

  • Mới đó mà đã gần ba mươi năm trôi qua, kể từ khi những văn nghệ sỹ trẻ xứ Huế cùng hội ngộ với nhau trong Câu lạc bộ Văn học Trẻ Huế những năm tám mươi thế kỷ hai mươi.

  • LTS: Nhà văn, nhà thơ Thanh Tịnh là người con của xứ Huế, ông sinh ra, trưởng thành và định hình như là một nhà văn ở đây.

  • PHẠM THƯỜNG KHANH - TRẦN XUÂN TUYẾT Trong số những di sản mà Hồ Chí Minh dành cho ngành Công an thì bức thư của Người gửi đồng chí Hoàng Mai - Giám đốc Công an Khu 12, ngày 11 tháng 3 năm 1948 - nói về Tư cách người Công an Cách mệnh là một di sản quý báu.