Từ địa phương miền Trung trong thơ Tố Hữu

14:27 11/01/2011
XUÂN NGUYÊNHơn ở đâu hết, thơ mang rất rõ dấu ấn của người làm ra nó. Dấu ấn đó có thể là do kinh nghiệm sống, do lối suy nghĩ… đưa lại. Đứng về mặt nghệ thuật mà nói, dấu ấn trong thơ có thể được tạo nên bởi lối diễn đạt, bởi mức độ vận dụng các truyền thống nghệ thuật của thơ ca.

Ảnh: anninhthudo.vn

Thơ Tố Hữu biểu hiện rất rõ con người của nhà thơ. Cái đó do nhiều nhân tố tổng hợp lại. Ở đây, tôi chỉ đi vào một khía cạnh nhỏ, thử tìm hiểu: Tố Hữu đã vận dụng các từ địa phương miền Trung vào thơ như thế nào. Từ địa phương, như chúng ta đều biết, là những từ không nằm trong vốn từ vựng của dân tộc. Những từ này chỉ lưu hành trong một phạm vi hạn chế, tác dụng thông báo (đứng về mặt từ vựng học mà xét) cũng không lớn lắm. Nó thường được vận dụng trong ngôn ngữ văn học để tăng thêm tính cụ thể cho nhân vật, sắc thái biểu đạt của tình cảm. Và cũng chỉ trong ngữ cảnh ấy, từ địa phương mới có thể hiểu được đối với mọi người.

Tố Hữu ngay từ đầu đã rất có ý thức trong việc vận dụng từ địa phương vào trong thơ của mình. Có phải vì anh là người con của dải đất miền Trung còn lưu giữ nhiều vốn từ địa phương đậm nét quê hương hay là do một hướng suy nghĩ, muốn thơ gần hơn với mọi người? Chắc là cả hai. Điều đáng chú ý là trong bốn tập thơ của Tố Hữu, số lượng bài có sử dụng từ địa phương thay đổi rất khác nhau. Ở tập thơ đầu tay “Từ ấy” con số đó là mười bốn. Đến “Việt Bắc” hầu như không có; “Gió lộng” chỉ có một. Ở “Ra trận”: ba bài. Còn trong “Máu và hoa” là hai. Chủ yếu đó là những bài viết về miền quê của tác giả hoặc nói về những tình cảm của con người quê hương, nên những từ địa phương trong đó thêm sức biểu hiện cho thơ. Một điều đáng chú ý nữa là: từ địa phương thường được Tố Hữu sử dụng trong các bài thơ nói lên những cảnh ngộ, những tâm trạng cụ thể có ý nghĩa điển hình. Như vậy chúng ta thấy trong thơ Tố Hữu, từ địa phương không phải là một thứ đồ trang sức để làm ra vẻ khác lạ, khó hiểu mà là để phục vụ cho một ý đồ nghệ thuật. Chung quy lại, cũng là để phục vụ cho chủ đề tư tưởng của bài thơ.

Vậy thì, từ địa phương trong thơ Tố Hữu đã có tác dụng gì?

Thường trong một bài thơ, Tố Hữu sử dụng vài ba từ địa phương để vừa tạo nhạc điệu cho câu thơ, vừa tăng thêm sắc thái tình cảm. Hai mặt này ta bắt gặp rất rõ trong cặp từ “mô-vô”. Đây là cặp từ mang tính chất địa phương được Tố Hữu sử dụng nhiều nhất, cũng là cặp từ có giá trị dễ thừa nhận nhất. Tôi xin dẫn một số thí dụ. Trong bài “Tiếng hát sông Hương” Tố Hữu làm lời cô gái than khóc:

Em đi với chiếc thuyền không
Khi
mô vô bến rời dòng dâm ô
Trời ôi em biết khi mô
Thân em hết nhục dày vò năm canh.


Với sự bắt vần của (mô-vô-ô), câu thơ diễn tả được nỗi lòng u buồn của cô gái muốn làm lại cuộc đời. Còn gì là tình cảm, là thơ nữa nếu bằng phép liên tưởng trong ngôn ngữ học, ta thấy cặp “mô-vô” bằng cặp “nào-vào”.

Khi nào vào bến rời dòng dâm ô.

Không những nhạc điệu câu thơ bị phá vỡ (sự liên tục của hai nguyên âm o, ô trong các từ mô - vô - ô, mô-vô bị cắt xẻ) mà ý nghĩa cũng bị đổi khác.

Ở một bài khác - “Hoa tím”, Tố Hữu lại viết:

Bữa mời bạn chơi Huế

Thay đổi cặp từ “mô-vô” bằng bất cứ một cặp từ nào khác cũng sẽ làm giảm giá trị của bài thơ rất đậm đà tình nghĩa này. Cả bài thơ bốn câu: vừa cô đọng nỗi nhớ thương quê hương da diết, vừa mặn nồng lời mời bạn vào quê chơi, tình cảm thật sâu nặng. Cũng như vậy, trong “Nước non ngàn dặm” khi nói về tình cảm hai miền mong chờ ngày thống nhất, nhà thơ lại dùng đến cặp từ này:

Cách ngăn mười tám năm trường
Khi mô mới được nối đường vô ra?


Giá trị của từ địa phương ở đây nghiêng về phía biểu đạt sắc thái tình cảm.

Có khi, từ địa phương lại được dùng để nhấn mạnh, để diễn đạt đúng điều mà nhà thơ muốn nói. Tựa hồ như trong những trường hợp ấy, từ địa phương chiếm ưu thế tuyệt đối so với từ phổ thông toàn dân tộc. Nếu máy móc, đơn thuần thay thế từ địa phương ấy bằng một từ nào khác đó, thì vô tình đã làm thay đổi ý nghĩa của cả câu thơ. Ví như những câu này:

Tôi chất cả vào rương còn lưng lẻo
                                    (Hy vọng)

Không thể nữa lơi chèo hay quay lái
                        (Giờ quyết định)

Choa đói choa rét, bay thù gì choa
                       
(Tiếng hát trên đê)

Vẫn dựa trên phép liên tưởng của ngôn ngữ học ta thử đưa từ “lỏng” hoặc “vơi” vào vị trí của từ “lưng”. “Lưng” đây nếu là trong “lưng vốn” thì nó hoàn toàn có thể bị thay thế bởi từ “vơi” - cùng là chỉ một cái gì lúc đầu đầy đủ, về sau bị bớt đi. Nghĩa của “lưng” ở đây lại khác. “Lỏng” không thể thay được cho “lưng” vì “lỏng” vốn chỉ một cái gì không chặt, không ổn định, xộc xệch, nghĩa ấy từ “lưng” không có. Vậy nên nếu thay thế ta sẽ có:

“Tôi chất cả vào rương còn vơi lẻo”
“Tôi chất cả vào rương còn lỏng lẻo”
- mà nghĩa không còn như câu thơ đầu. “Tôi chất cả vào rương còn lưng lẻo” - ý muốn nói nhiệt tình của người thanh niên buổi đầu đến với cách mạng rất háo hức, hăng say, nhận bao nhiêu cũng chưa đủ, vẫn còn muốn nhận nữa những gì mà cách mạng đưa đến.

Cũng như vậy, ta sẽ không giữ được nguyên vẹn giá trị, ý nghĩa của câu thơ “Không thể nữa lơi chèo hay quay lái” nếu như thay “lơi” bằng “lỏng” hoặc bằng “buông”. Chỉ có thể giữ nguyên từ “lơi” mà thôi.

Đến như câu thứ ba “choa” là một đại từ chỉ ngôi thứ nhất, số nhiều, kiểu như “chúng tôi, bọn tao…”. Về mặt chức năng ngữ pháp thì giữa các từ nầy có sự giống nhau, tương đồng. Nhưng ở đây không thể thay thế “choa” bằng “chúng tôi, chúng tao…” được. Như thế nó sẽ dẫn đến tình trạng: Câu thơ bị mở rộng, phá vỡ nhịp 2/2/4 rất dồn dập, làm giảm bớt tính chất quyết liệt, mạnh mẽ mà câu thơ diễn đạt. Có thể nói, những từ địa phương này đã được sử dụng một cách đắc địa, góp phần nâng hẳn nội dung câu thơ chứ không phải là làm cho câu thơ rậm rạp và rối rắm.

Lại có lúc, từ địa phương được Tố Hữu sử dụng hình như thừa, không cần thiết. Đó là trường hợp, trong cùng một câu thơ, anh vừa dùng một từ địa phương lại vừa dùng một từ phổ thông đồng nghĩa gần như tuyệt đối với từ địa phương ấy.

Đi mô cho ngái cho xa
            (Chuyện em)

“Ngái” cũng có nghĩa là “xa”. Vậy trong trường hợp này, từ địa phương được dùng có giá trị gì? Không thể nói là nhà thơ do bị ràng buộc về luật bằng trắc nên mới làm ra như thế. Theo tôi vì đây là lời một bà mẹ nói với con nên Tố Hữu muốn giữ cho tính địa phương đậm hơn, vừa cũng là để nhấn mạnh cái ý muốn nói:

Đi mô cho ngái cho xa
Ở nhà với mẹ đặng mà nuôi quân.


Tô đậm tính địa phương khi nói tới những cảnh ngộ, những tâm trạng cụ thể trong hoàn cảnh cụ thể của địa phương là một dụng ý nghệ thuật của Tố Hữu. Và nhà thơ đã thành công trong việc này. Không ai quên được dáng hình, công việc và lời kể chuyện của mẹ Suốt qua cái tài và cái tình của nhà thơ:

- Tàu bay hắn bắn sớm trưa
Thì tui cứ việc nắng mưa đưa đò
Ghé tai mẹ, hỏi tò mò:
- Cớ răng ông cũng ưng cho mẹ chèo?


Người ta đã nói tới thành công nghệ thuật của Tố Hữu trong bài thơ “Mẹ Suốt”: rất dân tộc mà không vè khi sử dụng thể thơ lục bát. Tôi có thể nói thêm: nhà thơ cũng đã thành công trong việc sử dụng từ địa phương để khắc họa hình tượng, để bộc lộ cảm xúc. Cứ thử cất đi những từ như rứa, tui, cớ răng… mà xem, bài thơ đã mất hay nhiều rồi.

 Tố Hữu còn mạnh dạn trong việc dùng một số từ địa phương hầu như vô nghĩa, hoặc là những từ có sắc thái tu từ khác biệt với từ chung toàn dân tộc. Những từ đó vẫn hiểu được, vẫn có giá trị thẩm mỹ trong mối liên hệ hữu cơ với toàn bộ câu thơ. Điểm đáng nói là Tố Hữu đã vận dụng chúng rất đúng lúc, đúng chỗ; ở vào các trạng thái tình cảm khác nhau mà lại rất tự nhiên, thoải mái. Ta hãy xem từ “nờ” trong hai câu thơ sau:

Gan chi gan rứa mẹ nờ?
                        (Mẹ Suốt)

Chuyện em rứa đó, anh nờ?
                       
(Chuyện em)

Từ “nờ” ở đây biểu thị tình cảm giữa hai người khác nhau về độ tuổi. Nhưng khi nhà thơ là đứa con trò chuyện với mẹ thì từ “nờ” ấy giúp cho câu thơ bộc lộ một sự cảm phục pha lẫn sự ngạc nhiên. Còn từ “nờ” trong câu thơ thứ hai lại giúp cho nhà thơ hiểu rõ hơn về tầm vóc lớn lao của đứa em - khi nhà thơ là người anh.

Trong ngôn ngữ chung toàn dân, từ “mụ” vốn từ lâu mang một sắc thái tình cảm xem thường, coi khinh. Đứng về mặt nghĩa chứa đựng trong từ mà nói, “mụ” chỉ có nghĩa là đàn bà. Nhưng về phương diện là một từ địa phương miền trung, từ “mụ” lại được dùng để chỉ người vợ với tấm lòng yêu thương, chăm sóc của người chồng. Phạm vi nghĩa của từ “mụ” địa phương chung với toàn dân tộc như đã nói trên, đã thu hẹp lắm rồi. Tố Hữu ý thức rất rõ về điều đó, đã không ngần ngại khi viết:

Coi chừng sóng lớn gió to
Màn xanh đây mụ đắp cho kín mình
                       
(Mẹ Suốt)

Có thể nói dùng từ “mụ” ở đây là một sáng tạo của Tố Hữu. Câu thơ đắm thêm vì tình cảm của đôi vợ chồng già, lại ngời lên bởi tâm hồn tinh tế, giàu yêu thương của nhà thơ. Vô tình, khi đọc câu thơ, người đọc đã quên đi cái nghĩa chung (toàn dân) để chỉ còn giữ lại nghĩa riêng (địa phương) của từ “mụ” này.

Trên đây tôi đã thử phân tích, tìm hiểu những từ địa phương miền trung trong thơ Tố Hữu trên hai mặt: cách nhà thơ sử dụng chúng và giá trị của chúng trong câu thơ, bài thơ, có thể còn có những khía cạnh trong vấn đề này tôi chưa đề cập đến hoặc chưa đi sâu. Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể đồng ý với nhau rằng: Tố Hữu đã sử dụng và sử dụng thành công từ địa phương trong các bài thơ của mình. Nhà thơ đã biết khai thác, tận dụng và tạo thêm khả năng (về mặt từ vựng và tu từ) cho từ địa phương để làm phong phú thêm nội dung cũng như sự biểu hiện trong thơ. Và phải chăng thơ Tố Hữu đã phổ cập sâu rộng trong quần chúng, một phần, cũng là do nhà thơ đã biết sử dụng từ địa phương một cách có mức độ?

1976-1984
X.N.
(10/12-84)





Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP...Nguyễn Huy Thiệp không phải là người duy nhất đổi mới phương thức trần thuật. Trước ông đã có Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng... tích cực mở đường. Nhưng phải đến Nguyễn Huy Thiệp thì sự khai phóng về tư tưởng nghệ thuật mới được thể hiện một cách đậm nét. Tất cả được Nguyễn Huy Thiệp kiến tạo qua một trò chơi đầy tính bất ngờ. Giống như người nghệ sĩ ba lê tài năng, Nguyễn Huy Thiệp trình diễn một thế giới đa sắc trên đầu những đầu mũi ngón chân. Những ngón chân ấy bám trụ vào hiện thực một cách tinh diệu, xoay chuyển một cách nhịp nhàng với những vòng quay, những vũ điệu ngôn từ...

  • PHAN NGỌC THUTrong nền văn học Việt Nam thế kỷ XX, Xuân Diệu (1916-1985) là một trong những nhà thơ nổi tiếng nhất, đồng thời cũng là nhà phê bình văn học kiệt xuất. Từ những bài tranh luận văn học sôi nổi thời Thơ Mới (1932-1945) đến Tiếng thơ (1951), Những bước đường tư tưởng của tôi (1958); từ Phê bình giới thiệu thơ (1960) đến Trò chuyện với các bạn làm thơ trẻ (1961), Dao có mài mới sắc (1963), Lượng thông tin và những kỹ sư tâm hồn ấy (1978), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, tập I (1981), tập II (1982) và Công việc làm thơ (1984)... "chỉ tính riêng các tác phẩm lý luận phê bình, đã có thể gọi Xuân Diệu là một đại gia"(1)

  • BÙI QUANG TUYẾNThơ mới là một hiện tượng nổi bật của văn học Việt Nam nói chung và thơ ca nói riêng trong thế kỷ XX. Nó vừa ra đời đã nhanh chóng khẳng định vị trí xứng đáng trong nền văn học dân tộc với các "hoàng tử thơ": Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử v..v...

  • HÀ KHÁNH CHINgày 20 - 3 - 2003, siêu cường lớn nhất mọi thời đại là đế quốc Hoa Kỳ đã mở đầu cuộc chiến tranh kỳ quái nhất trong lịch sử bằng cách tấn công Iraq sau khi đã bắt quốc gia này phải tự phá huỷ vũ khí tự vệ của chính họ. Đó là bài học chưa hề thấy về chút hy vọng cuối cùng mà lương tri nhân loại có thể đòi hỏi. Để có thể hiểu rõ hơn những gì đang xảy ra hôm nay - có lẽ cũng rất cần ôn lại một trong những vấn đề lớn nhất mà loài người có thể nghĩ tới: cuộc chiến tranh Việt Nam đã kết thúc cách đây gần 30 năm.

  • HOÀNG ĐĂNG KHOA Văn học Việt từ sau 1975, nhất là từ thời kỳ đổi mới, là một quá trình văn học rất phong phú, đa dạng và không ít phức tạp, lại còn đang tiếp diễn. Cuốn sách Văn học Việt Nam sau 1975 - Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy ra đời đáp ứng nhu cầu mang tính thời sự: nhu cầu nhìn nhận, đánh giá một cách khách quan, toàn diện về tiến trình văn học ba mươi năm qua, chuẩn bị cho sự ra đời của những công trình văn học sử và những chuyên khảo về giai đoạn văn học này.

  • NGUYỄN QUANG HÀTrong đời có những bài thơ người ta quên, mà chỉ nhớ một câu nằm lòng. Bởi đó là những câu thơ thực sự, những câu thơ thi sĩ. Từ xưa đến nay, đã có rất nhiều định nghĩa về thơ: Thơ là tiếng hát của trái tim; Thơ là hạt muối kết tinh của tình cảm; Thơ là phút giây rung động của tâm hồn... Nói chung, những định nghĩa ấy cho ta hiểu rằng ở đâu có được sự rung động của trái tim thì ở đó có thơ.

  • ĐỖ LAI THUÝPhê bình văn học Việt Nam, sau sự khởi nguồn của Thiếu Sơn với Phê bình và Cảo luận (1933) chia thành hai ngả. Một xuất phát từ Phê bình để trở thành lối phê bình chủ quan ấn tượng với Hoài Thanh và Thi nhân Việt Nam (1942). Lối kia bắt nguồn từ Cảo luận tạo nên phê bình khách quan khoa học với Vũ Ngọc Phan của Nhà văn hiện đại (1942), Trần Thanh Mai của Hàn Mặc Tử (1941), Trương Tửu của Nguyễn Du và Truyện Kiều (1942), Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ (1945). Sự phân chia này, dĩ nhiên, không phải là hành chính, mà là khoa học, tức sự phân giới dựa trên những yếu tố chủ đạo, nên không phải là không thể vượt biên. Bởi, mọi biên giới đều mơ hồ hơn ta tưởng, nhất là ở khoa học văn chương.

  • LTS: Marcel Reich-Ranicki, sinh năm 1920, người ở Đức được mệnh danh là "Giáo hoàng văn học", là nhà phê bình văn học đương đại quan trọng nhất của CHLB Đức. "Một lời biện hộ cho thơ" là bài thuyết trình đọc vào ngày 30.11.1980 nhân dịp ra mắt Tập 5 của "Tuyển thơ Frankfurt" trong khuôn khổ chuyên mục thơ của nhật báo "Frankfurter Allgemeine Zeitung" (FAZ) mà tác giả là chủ biên phần văn học từ 1973 đến 1988.Sông Hương xin trân trọng giới thiệu bài "Một lời biện hộ cho thơ" của ông sau đây do dịch giả Trương Hồng Quang thực hiện.

  • TRẦN HUYỀN SÂMGeorge Sand (1804-1876) là một gương mặt độc đáo trên văn đàn Pháp thế kỷ XIX. Cùng thời với những cây bút nổi tiếng như: A.Lamartine, V.Hugo, A.Vigny, A.Musset... nữ sĩ vẫn tạo cho mình một tầm vóc riêng không chìm khuất. George Sand bước vào thế giới nghệ thuật bằng một thái độ tự tin và một khát vọng sáng tạo mãnh liệt. Với hơn hai mươi cuốn tiểu thuyết đồ sộ, G.Sand đã trở thành một tên tuổi lừng danh ngay từ đương thời. Dĩ nhiên, bà lừng danh còn bởi nhiều mối tình bất tử, trong đó có nhà thơ Pháp nổi tiếng A.Musset và nhạc sĩ thiên tài Chopin người Ba Lan.

  • PHẠM QUANG TRUNGCó lần, dăm ba người có thiên hướng lý luận chúng tôi gặp nhau, một câu hỏi có thể nói là quan thiết được nêu ra: trong quan niệm văn chương, e ngại nhất là thiên hướng nào? Rất mừng là ý kiến khá thống nhất, tuy phải trải qua tranh biện, không đến nỗi quyết liệt, cũng không phải hoàn toàn xuôi chiều hẳn. Có lẽ thế mới hay!

  • NGUYỄN HỮU HỒNG MINH1- "Thơ trẻ- Những giá trị mới" là một "mưu mô" của nhà phê bình trẻ Nguyễn Thanh Sơn và nhóm "Văn nghệ mới" (bao gồm Nguyễn Hữu Hồng Minh, Văn Cầm Hải, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Vĩnh Tiến, Dạ Thảo Phương... và một số người khác) dự tính tập hợp, tuyển chọn 1 tuyển thơ của 10 (hay nhiều hơn) tác giả trẻ từ 30 tuổi trở xuống, xuất hiện trong vòng 3 năm cuối cùng của thế kỉ để trình làng giới thiệu chân dung thế hệ mình.

  • NGUYỄN HOÀN Trịnh Công Sơn là một hiện tượng độc đáo của âm nhạc và văn hoá Việt Nam được ái mộ không chỉ ở trong nước mà cả ở nước ngoài. Vì thế mà từ khi ông qua đời đến nay đã có trên chục đầu sách viết về ông, một số lượng hiếm thấy đối với các nhạc sĩ khác. Gần đây có cuốn “Trịnh Công Sơn vết chân dã tràng” của Ban Mai do Nhà xuất bản Lao Động, Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây xuất bản, Hà Nội, 2008. Với niềm ngưỡng mộ tài hoa và nhân cách nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, tôi đã hăm hở tìm đọc cuốn sách mới này nhưng tiếc thay, chưa kịp trọn nỗi mừng đã phải thất vọng về những trang viết đánh giá đầy sai lệch và thiếu sót, phiến diện về Trịnh Công Sơn và chiến tranh Việt Nam.

  • HOÀNG QUỐC HẢIThơ Lý - Trần có mạch nguồn từ Đinh - Lê, nếu không muốn nói trước nữa. Rất tiếc, nguồn tư liệu còn lại cho chúng ta khảo cứu quá nghèo nàn.Nghèo nàn, nhưng cũng đủ tạm cho ta soi chiếu lại tư tưởng của tổ tiên ta từ cả ngàn năm trước.

  • NGUYỄN VĂN THUẤN          (Nhóm nghiên cứu - lý luận phê bình trẻ)Thời gian gần đây, tại Việt , các tác phẩm của nhà văn Nhật Bản H.Murakami thường xuyên được dịch và xuất bản. Là một giọng nói hấp dẫn trên văn đàn thế giới, sáng tác của ông thu hút đông đảo công chúng và dành được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, phê bình. Một trong những tiểu thuyết làm nên danh tiếng của ông là Rừng Nauy.

  • PHAN TÂMQuê hương Phan Đăng Lưu, xã Hoa Thành, huyện Yên Thành, cách Kim Liên, Nam Đàn, quê hương Hồ Chí Minh khoảng 60 km.Hai nhân cách lớn của đất Nghệ An. Không hẹn mà gặp, xuất phát từ lương tri dân tộc, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, đến chủ nghĩa Mac - Lê nin, thành hai chiến sĩ cộng sản Việt Nam nổi tiếng.

  • THÁI DOÃN HIỂUNhà thơ Võ Văn Trực thuộc loại tài thì vừa phải nhưng tình thì rất lớn. Chính cái chân tình đó đã giúp anh bù đắp được vào năng lực còn hạn chế và mong manh của mình, vươn lên đạt được những thành tựu mới đóng góp cho kho tàng thi ca hiện đại của dân tộc 4 bài thơ xuất sắc: “Chị, Vĩnh viễn từ nay, Thu về một nửa và Nghĩa địa làng, người ta sẽ còn đọc mãi.

  • HÀ  ÁNH MINHBài thứ nhất, Một cuộc đời "Ngậm ngải tìm trầm" của Vương Trí Nhàn, đăng trên tạp chí Diễn đàn văn nghệ Việt Nam số Xuân Canh Thìn năm 2000, và bài thứ hai "Sư phụ Thanh Tịnh làm báo tết" của Ngô Vĩnh Bình, đăng trên báo Văn Nghệ, số Tết cũng năm Canh Thìn 2000. Bài đầu tiên viết dài, giọng văn trau chuốt điệu nghệ. Bài sau ngắn, mộc mạc.

  • LÊ THỊ HƯỜNGDẫu mượn hình thức của thể kí, dẫu tìm đến vần điệu của thơ, điểm nhất quán trong sáng tác của Hoàng Phủ Ngọc Tường là một cái tôi say đắm thiên nhiên. Đằng sau những tài hoa câu chữ là một cái tôi đa cảm - quá chừng là đa cảm - luôn dành cho cỏ dại những tình cảm lớn lao.  

  • BỬU NAM1. Nếu văn xuôi hư cấu (đặc biệt là tiểu thuyết) chiếm vị trí hàng đầu trong bức tranh thể loại của văn học Mỹ - La tinh nửa sau thế kỷ XX, thì thơ ca của lục địa này ở cùng thời gian cũng phát triển phong phú và rực rỡ không kém, nó tiếp tục đà cách tân và những tìm tòi đổi mới của những nhà thơ lớn ở những năm 30 - 40.

  • NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP1. Khi chạm vào cơn lốc và những điệu rock thơ mang tên Vi Thuỳ Linh, bất chợt tôi nhớ đến câu thơ dịu dàng và sâu thẳm của Paul Eluard: Trái đất màu xanh như một quả cam. Với P. Eluard, tình yêu là một thế giới tinh khiết, rạng rỡ và ngọt ngào: Đến mức tưởng em khỏa thân trước mặt. Còn Vi Thuỳ Linh, nếu ai hỏi thế giới màu gì, tôi đồ rằng nàng Vi sẽ trả lời tắp lự: Màu yêu.