Tình mẹ bao la không gì đo đếm được, những hình ảnh về mẹ luôn hiện hữu đầy ắp trong tâm khảm của mỗi người, hễ có dịp là như ngọn lửa trào lên những rung cảm rưng rức, nghẹn ngào. Đặc biệt, hình ảnh người mẹ mong chờ con cháu về sum họp trong mỗi dịp Tết nơi quê nhà luôn là niềm cảm xúc mãnh liệt trong lòng mỗi người. Đây cũng là nguồn cảm hứng để thi ca gọi tên. Bài thơ Tết của mẹ tôi của nhà thơ Nguyễn Bính hệt như một điệu đàn, một cung bậc vừa thiêng liêng, vừa ngọt ngào trong những thời khắc chuyển giao của đất trời mùa xuân.
Nguyễn Bính (1918 - 1966) tên thật là Nguyễn Trọng Tạo. Ông là một trong những nhà thơ xuất sắc nhất của thi ca hiện đại. Sinh ra tại Vụ Bản, tỉnh Nam Định - một vùng quê Bắc Bộ vốn nổi tiếng với truyền thống văn chương, khoa bảng, với nhiều nền nếp sinh hoạt văn hóa đã đi vào thơ ca của ông làm nên cái chất riêng đúng với danh xưng “nhà thơ của tình quê”. Những bài thơ mang sắc thái dân dã, mộc mạc hồn quê đã làm nên chân dung của một thi sĩ sống mãi với thời gian. Tết của mẹ tôi là một trong những thi phẩm như thế. Có lẽ, cuộc đời của Nguyễn Bính có nhiều thăng trầm, mất mát nên những vần thơ của ông về mẹ luôn mang đến cảm giác nhớ nhung vời vợi. Mẹ của Nguyễn Bính, bà Bùi Thị Miện, bị rắn độc cắn rồi mất (1918) khi Nguyễn Bính mới được 3 tháng tuổi, để lại ông trong cảnh côi cút, mồ côi mẹ đúng như câu thơ ông viết: Còn tôi sống sót là may/ Mẹ hiền mất sớm trời đày làm thơ.
Khi hương xuân chạm vào cánh cửa thời gian thì Tết cũng về dưới hiên nhà. Trong tâm thức của mỗi người, Tết là để hoài niệm, sống lại với hồi ức. Tết là dịp để tổng kết cuộc sống năm cũ, hy vọng tới điều tốt đẹp trong năm mới. Tết cũng là dịp để sum họp và đoàn tụ. Tết là quê hương, là một bức tranh sống động tươi mới như trong “Chợ Tết” của Đoàn Văn Cừ: “Dải mây trắng đỏ dần trên đỉnh núi/ Sương hồng lam, ôm ấp nóc nhà gianh/ Trên con đường viền trắng mép đồi xanh/ Người các ấp tưng bừng ra chợ Tết”, hay những phong tục đầu năm của người Việt: “Mỗi năm hoa đào nở/ Lại thấy ông đồ già/ Bày mực tàu giấy đỏ/ Bên phố đông người qua/ Bao nhiêu người thuê viết/ Tấm tắc ngợi khen tài/ Hoa tay thảo những nét/ Như phượng múa rồng bay” (Ông đồ - Vũ Đình Liên).
Hương sắc ấy cũng được thi nhân Nguyễn Bính tái hiện lại qua các phong tục tập quán truyền thống của dân tộc, trong từng nhịp điệu của thi ca. Tuy nhiên, trong thơ Nguyễn Bính, Tết còn được đặt dưới nhiều góc nhìn, là nỗi nhớ quê, nhớ mẹ, là Tết của những người tha hương, là những nỗi khắc khoải hay những nỗi bơ vơ, lạc lõng khiến ai đang ở trong hoàn cảnh đó cũng bỗng trào dưng nước mắt. Trong số 272 bài thơ viết trước cách mạng của thi sĩ Nguyễn Bính, có rất nhiều bài thơ viết về Tết với các nhan đề như: Tết, Tết của mẹ tôi, Tết biên thùy… không chỉ gợi lên ý niệm về không gian, thời gian mà còn là tình cảm thiết tha của tác giả hướng về cội nguồn, về những người thân yêu.
“Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ/ Cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh”. Không khí ngày Tết được bắt đầu bằng những hình ảnh giản dị của người dân quê nhưng cũng đầy sang trọng và gợi lên bao sắc thái thân thương. Mỗi khoảnh khắc đẹp đẽ đó như một bức tranh in đậm vào tiềm thức tuổi thơ. Bao trùm lên không gian ấy là hình ảnh người mẹ tảo tần sắm sửa lo toan chuẩn bị cho gia đình đón một cái Tết đầm ấm, vui tươi.
“Tết đến mẹ tôi vất vả nhiều,
Mẹ tôi lo liệu đủ trăm chiều
Sân gạch, tường hoa người quét lại
Vẽ cung trừ quỷ trồng cây nêu”
Cả một năm bận rộn công việc vất vả, Tết là dịp nhiều gia đình “tổng dọn vệ sinh”, phong quang sạch sẽ nhà cửa. Mẹ bận rộn xoay xở, lo toan “đủ trăm chiều”, cảnh tượng vất vả của mẹ những ngày giáp Tết chắc hẳn ai trong số chúng ta cũng đã từng chứng kiến. Vào dịp Tết đến, những phong tục truyền thống như quét vôi, dọn nhà, vẽ cung trừ quỷ đầu ngõ, dựng nêu trước sân để mong đón một năm tốt lành. Cùng với đó là chuẩn bị đồ ăn, thức uống vừa để đảm bảo lương thực ba ngày Tết cho cả gia đình, vừa tiếp đãi khách, và cũng để mong ước một năm đủ đầy, tựa như “năm mới gạo đầy lu, muối đầy hũ”, vạn sự suôn sẻ.
“Nuôi hai con lợn tự ngày xưa
Mẹ tôi đã tính “Tết thì vừa”
Trữ gạo nếp thơm, mo gói bó
Dọn nhà, dọn cửa, rửa bàn thờ”
Không chỉ ngày xưa, bây giờ ở nông thôn vẫn có một số nhà “nuôi lợn từ bé” chờ ngày Tết. Mẹ trong thơ của Nguyễn Bính cũng tính toán, đo ngày tính tháng nuôi hai con lợn, trữ gạo nếp thơm, thêm bó mo cau là vừa cho cái Tết ấm cúng sum vầy. Những vật phẩm được chuẩn bị này về cơ bản vẫn là “cây nhà lá vườn”, của nhà tự trồng được. Dường như những bận bịu cuối năm khác hẳn với những bận bịu lo toan ngày thường. Vào thời điểm này, ai cũng muốn sắm sửa cho gia đình một cái Tết đủ đầy. Mẹ đúng với tên gọi “người xây tổ ấm”. Bàn tay lam lũ, bóng dáng tảo tần, mẹ dọn nhà, dọn cửa, rửa bàn thờ... Không dưng mà người ta thường hay bảo, tuy nói là ba ngày Tết, nhưng không khí nhất, chộn rộn nhất và tất bật nhất lại là những ngày giáp Tết. Bằng phương pháp liệt kê, hình ảnh người mẹ hiện lên dưới ngòi bút của thi sĩ đầy chân thực và gần gũi. Dáng vẻ tảo tần, chịu thương chịu khó của mẹ trong câu chữ, ngôn từ mà nhà thơ Nguyễn Bính mô tả được khắc họa đậm nét thông qua hàng loạt công việc được kể liên tiếp tạo nên mạch chảy xuyên suốt toàn bộ bài thơ.
Và để rộn ràng, tất bật hơn nữa, tác giả còn nhấn mạnh: “Nay là hăm tám Tết rồi đây/ (Tháng thiếu cho nên hụt một ngày)”. Công việc một mình mẹ gánh vác đã đủ bận rộn, thời gian lẫn không gian đều có vẻ rất dồn dập, bởi dường như cái sự “hụt một ngày” mà Tết lại càng gần hơn thì phải? Sự gấp gáp tràn từ câu thơ của Nguyễn Bính len lỏi vào cảm xúc của người đọc, khiến chúng ta như cảm nhận được những thấp thoáng đâu đó sự quen thuộc đến ngỡ ngàng, thân thương. Hòa vào không khí vui tươi của đất trời, khi mọi công việc nhà cửa đã “hòm hòm”, mẹ lại lo đi chợ sắm sửa mâm lễ dâng tổ tiên, mua vật dụng cần thiết cho cả gia đình. Cả một năm có thể nhiều khó khăn, thiếu thốn phải chắt bóp, tiết kiệm nhưng Tết đến phải sung túc, trong ấm ngoài êm, đây có lẽ cũng là một cách “trả công” cho những ngày tháng vất vả lao động của năm cũ, và “mở bát” để đón nhận nhiều niềm vui trong năm mới.
Tuổi thơ tôi cũng đã từng rất mong chờ những ngày đi chợ Tết cùng mẹ, lẽo đẽo đôi chân nhỏ tôi khuân về khi thì nải chuối, lúc thì vài đốt giang để ba làm bánh, xâu mộc nhĩ để mẹ làm ram. Việc đi chợ Tết luôn tưng bừng như thế, ở đấy có niềm vui, có nỗi lo, có trách nhiệm, có đầy đủ các cung bậc cảm xúc. Mẹ trong thơ của Nguyễn Bính cũng tất bật sắm sửa lo toan trong phiên chợ ngày cuối năm như thế. Ngoài đồ lễ, mẹ còn mua thêm pháo chuột, tranh gà “Sắm sửa đồ lễ về việc Tết/ Mẹ tôi đi chợ buổi hôm nay/ Không như mọi bận, người mua quà/ Chỉ mua pháo chuột và tranh gà/ Cho các em tôi đứa mỗi chiếc/ Dán lên khắp cột đốt inh nhà” món đồ mà đứa trẻ nào cũng thích. Trong muôn ngàn thú chơi dân dã, nhà thơ lựa chọn hai hình ảnh tiêu biểu nhất để diễn tả không khí Tết. Âm thanh của pháo chuột nổ inh nhà gợi ra sự vui vẻ, sôi động; còn những bức tranh gà thì gợi lên cảnh sinh sôi, no đủ. Khó khăn nhưng vui và đầm ấm chính là như thế.
Các công việc như “mổ lợn, gà”, “đồ xôi” để chuẩn bị cho cỗ bàn đã xong xuôi thì thời khắc quan trọng nhất cũng đã tới - Giao thừa. Đây là thời khắc thiêng liêng nhất, tiễn biệt những buồn vui năm cũ để hướng tới những hy vọng an lành trong năm mới. “Suốt đêm Giao thừa, mẹ tôi thức/ Lẩm nhẩm câu kinh Đức Chúa Bà”. Mẹ vui cùng niềm vui Tết đến, xuân về, vui trong niềm hạnh phúc gia đình đầm ấm, êm vui, các con mạnh khỏe, dẫu có bao nhiêu nhọc nhằn mẹ chẳng nề hà chi. Và mẹ không quên việc chính là dặn dò chu đáo các con:
“Mẹ tôi gọi cả các em tôi
Đến bên mà dặn: “sáng ngày mai
Các con phải dậy sao cho sớm
Đầu năm, năm mới phải lanh trai.
Mặc quần mặc áo, lên trên nhà
Thắp hương, thắp nến lễ ông bà
Chớ có cãi nhau, chớ có quấy
Đánh đổ, đánh vỡ như người ta…”
Người xưa thường quan niệm “Có thờ có thiêng, có kiêng có lành”, đặc biệt là đầu năm mới, với hy vọng một mùa xuân an lành, trọn vẹn. Mẹ dặn dò các con kỹ lưỡng, sáng mồng một, phải “thức dậy sao cho sớm” với trạng thái vui vẻ, nhanh nhẹn, “cho lanh trai”. Các hành động, phát ngôn đầu năm sẽ có ảnh hưởng tới những chuyện xảy ra trong năm, nên “chớ có cãi nhau, chớ có quấy”. Cũng như việc kiêng “đánh đổ, đánh vỡ” các đồ chén, gương, ly… nếu rơi vỡ vào đầu năm sẽ không đem lại điềm cát lành. Quần áo chỉnh tề, thắp hương cho gia tiên, ông bà rồi mới tính tới việc đi chúc Tết. Theo quan niệm của người Việt, vị khách đến thăm nhà đầu tiên trong năm rất quan trọng, họ ảnh hưởng tới việc gia chủ năm đó có an lành, hạnh phúc hay không. Mẹ sợ các con ham chơi, sợ các con quên những điều kiêng kỵ, nên “Sáng mồng một, sớm tinh sương/ Mẹ tôi cấm chúng tôi ra đường”. Những lời dặn dò đó gợi bao kỷ niệm thiêng liêng một thời, là ký ức tươi đẹp lúc còn thơ ấu.
Sáng mồng một không khí xuân rộn ràng khắp mọi nẻo đường. Lúc này những đứa trẻ háo hức hơn bao giờ hết, quần áo đẹp đẽ đi chúc Tết ông bà nội ngoại, cô dì chú bác, những câu chúc đầu năm như: “Xuân sang cháu chúc mừng bà/ Suốt năm mạnh mẽ nước da đỏ hồng/ Mắt bà thêm sáng thêm trong/ Bà đi ngay ngắn đừng còng cái lưng” (Mừng tuổi bà - Trần Trung Phương), những cái xoa đầu đến từ người lớn tuổi, hay những phong bì lì xì đỏ thắm cầu may. Người già và trẻ nhỏ là hai đối tượng được mừng tuổi trong dịp năm mới, cầu cho người già sống lâu sống khỏe, chúc cho trẻ nhỏ mạnh khỏe bình an. “Một ông khách trông trời cười hớn hở/ Bước vào nhà mừng rỡ mở phong bao/ Làm cả nhà tấp nập chạy xôn xao/ Chúc năm mới ồn ào không ngớt tiếng” (Sáng mồng một - Trần Trung Phương). Nguyễn Bính cũng đã tái hiện lại tục lệ mừng tuổi này một cách vô cùng đáng yêu: “Mở hàng mỗi đứa năm xu rưỡi/ Rửa mặt hoa mùi nước đượm hương”. Mẹ mừng tuổi mở hàng cho mỗi đứa là “năm xu rưỡi”, vừa đủ chẵn và lẻ để “hên” cả một năm.
Chân dung mẹ trong thơ Nguyễn Bính là điển hình mẫu mực cho người phụ nữ tần tảo, hiền lành, chăm lo đủ đầy mọi việc trong nhà ngoài ngõ, yêu thương chăm sóc chồng con hết mực, và đặc biệt rất hiếu thảo tôn kính ông bà tổ tiên. Đó là những nét đẹp về thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam. Người mẹ hội tụ đầy đủ công - dung - ngôn - hạnh, đẹp từ vẻ bề ngoài cho tới nội tâm. “Mẹ tôi thắt lại chiếc khăn sồi/ Rón rén lên bàn thờ ông tôi/ Đôi mắt người trông thành kính quá/ Ngước xem hương cháy đến đâu rồi”. Hình ảnh “thắt lại chiếc khăn sồi” cùng động tác “rón rén” đó là sự thành tâm, kính cẩn của người mẹ trước ban thờ gia tiên. Đối với ai mẹ cũng dành sự yêu thương, chăm sóc nên không khí những ngày Tết luôn ngập tràn vui vẻ: “Mẹ tôi uống hết một cốc rượu/ Mặt người đỏ tía vì hơi men/ Người rủ cô tôi đánh tam cúc/ Cười ầm tốt đỏ đè tốt đen”. Toàn bài thơ 13 khổ, thì khổ thơ này có lẽ tác giả dành riêng cho niềm vui của mẹ sau những lo toan tất bật. Qua trang sách người đọc phần nào mường tượng ra được hình ảnh ấm áp, rộn ràng lúc đó. Và đây rõ ràng là một gia đình có nền nếp gia phong. Người chồng, người cha thoáng qua không gian bằng hình ảnh “Thầy tôi lấy một tờ gia tiên/ Bút lông dầm mực, viết lên trên”, đây có thể là một thầy đồ như trong thơ Vũ Đình Liên hoặc một người có chút chức sắc trong làng, hình ảnh này chỉ để làm nền tô điểm cho không gian Nho giáo trong giới hạn gia đình. Mọi công việc trong nhà đều do một tay người vợ, người mẹ quán xuyến. Nhưng tất cả đều tròn trịa, vuông vắn, chu đáo đâu vào đấy, bởi họ là người “giữ lửa gia đình”, “người xây tổ ấm”.
Nếu như nhà thơ Nguyễn Hữu Thịnh khép lại bài thơ “Tết của mẹ” bằng một hình ảnh rất đẹp: “Thấy Tết quê hương mắt mẹ cười”, thì nhà thơ Nguyễn Bính lại khiến cho người đọc ngậm ngùi hơn ở khổ thơ kết:
“Xong ba ngày Tết mẹ tôi lại
Đầu tắt, mặt tối, nuôi chồng con
Rồi một đôi khi người giã gạo
Chuyện trò kể lại tuổi chân son”
Mẹ cũng có “ước mơ riêng mình” nhưng mẹ gói ghém lại bằng những câu chuyện kể “tuổi chân son”, trở về với hiện thực cuộc sống, xong xuôi ba ngày Tết, mẹ tất bật “Đầu tắt, mặt tối, nuôi chồng con”, đúng với cái cảnh “Nuôi đủ năm con với một chồng”. Lời thơ dung dị, nhẹ nhàng nhưng để lại những dư ảnh thấp thoáng một nỗi buồn xa xăm, vời vợi. Phải yêu mẹ, nhớ thương mẹ nhiều lắm mới viết nên được những vần thơ tròn trặn dư âm, dư vị đến như thế!
Mẹ gìn giữ, nâng niu hương vị truyền thống của Tết bằng những hình ảnh quen thuộc, dân dã để con cháu được sum vầy, nếp nhà mãi mãi vẹn nguyên. Mẹ tảo tần lo toan mọi việc miễn sao gia đình hạnh phúc, ấm êm. Người mẹ trong Tết của mẹ tôi là điển hình mẫu mực cho người phụ nữ Việt Nam, những người vợ, người mẹ rất đỗi bình thường nhưng vô cùng vĩ đại. Dựng lại chân dung của mẹ bằng lối kể chuyện tự nhiên, nhẹ nhàng, không hình tượng hóa, vẫn sử dụng lối viết tả thực, nhà thơ Nguyễn Bính đã để lòng mình lặng lẽ tràn trên trang giấy, và cả những dư âm vang vọng trong lòng người đọc về mẹ và mùa xuân.
Đ.T.N
(TCSH432/02-2024)
Tải mã QRCode
THANH THẢO(Đọc “Bán đảo” của Thái Bá Lợi)
TRẦN HUYỀN TRÂNNgày 10 - 10, Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế và Công ty Văn hóa Phương Nam đã tổ chức buổi tọa đàm về tiểu thuyết Biết đâu địa ngục thiên đường của nhà văn Nguyễn Khắc Phê. Buổi tọa đàm đã thu hút sự quan tâm sâu sắc của các nhà văn, nhà nghiên cứu và đông đảo sinh viên các trường đại học.
KIM QUYÊNSau tập thơ Ngày đầu tiên(*), nhà văn Trần Hữu Lục tiếp tục ra mắt bạn đọc tập Góc nhìn văn chương(**) và anh sẽ xuất bản tập truyện ngắn Trần Hữu Lục (tuyển chọn năm 2010). Thật là một mùa bội thu với nhà văn Trần Hữu Lục.
HỒNG DIỆU(Nhân đọc Trái tim sinh nở và Bài thơ không năm tháng *)
MAI VĂN HOANTôi cố hình dung những tháng ngày nhà văn Hồng Nhu trăn trở, băn khoăn lựa chọn việc trở về quê hay ở lại thành phố Vinh - nơi anh từng gắn bó đã hơn hai mươi năm với bao kỷ niệm vui buồn.
KHẢI PHONG“Thơ kỵ nhất viết điều người đã viết! Nhưng biết sao, khi tôi mến sông Cầu…Lòng khẽ nhắc: đừng nói điều đã viết,Sao âm vang cứ mãi gọi: sông Cầu”
(Về cuộc thi truyện ngắn dành cho sinh viên Huế do Sông Hương tổ chức)BAN TỔ CHỨC CUỘC THINhằm tạo không khí sáng tác, phát hiện các cây bút trẻ Huế, trong khuôn khổ Chương trình Phát triển Tài năng Trẻ, Tạp chí Sông Hương tổ chức Cuộc thi truyện ngắn dành cho sinh viên đang theo học các trường đại học và cao đẳng ở Huế.
LÊ HUỆCuộc thi Truyện ngắn cho sinh viên Huế do tạp chí Sông Hương tổ chức đã thu hút được sự tham gia của rất nhiều các bạn trẻ mang trong mình khát vọng văn chương. Những truyện ngắn dự thi đã cho ta thấy được một vóc dáng mới của các cây bút trẻ Huế hiện nay: phản ánh cuộc sống đương đại từ nhiều góc cạnh bằng bút pháp tinh tế, mới mẻ, giàu trí tuệ và đầy chất thơ. Mười lăm truyện ngắn xuất sắc lọt vào chung khảo đã được tập hợp lại thành ấn phẩm mang tên “Yêu xa xa một phút”.
PHAN MINH NGỌC“Bài thơ về biển khơi” (*) là tập sáng tác đầu tay của cây bút nữ Trần Thùy Mai.
NGÔ HƯƠNG GIANGLàm thế nào để diễn giải hợp lý về Tường Thành?
KHẢI PHONGTôi đã có dịp gặp những trang thơ chân chất của Nguyễn Quang Hà trong “Tiếng gà trên đỉnh chốt”(1). Lần này gặp văn Nguyễn Quang Hà trong “Mùa xương rồng nở hoa” (2), cảm tưởng lưu lại trong tôi là văn anh gây được ấn tượng mạnh hơn thơ.
NGUYỄN ĐÔNG NHẬT19 lời chứng của những ONS(1) cuối cùng, lần đầu tiên được lên tiếng qua công trình nghiên cứu hoàn hảo của bà Liêm Khê LUGUERN(2) là những nhân chứng cuối cùng trong số khoảng 27.000 người từ Đông Dương bị lùa đến nước Pháp từ tháng 10/1939 đến tháng 6/1940 để phục vụ cho guồng máy chiến tranh của thực dân Pháp trong Thế chiến thứ II.
LÝ HẠNHAi trong đời chẳng đã một lần làm thơ. Dù làm thơ để giải trí hay sẻ chia thì những trang thơ ấy cũng là tiếng hát của trái tim, là nơi dừng chân của tâm hồn.
LTS: Có một chuyện ít người biết là các nhà văn Tô Hoài, Xuân Diệu, Huy Cận không nhớ ngày sinh của mình. Xuân Diệu, con nhà Nho, thì biết mình sinh giờ Thìn, ngày Thìn, tháng Thìn, năm Thìn, nhưng không biết dương lịch ngày nào. Nhà văn Tô Hoài cũng vậy, nhưng nhớ Bà Cụ cho biết sinh ông đêm rằm Trung Thu. Sau này, sang Nga, bạn người Nga hỏi, mới tra ra ngày Tây là 27-9-1920. Do đó trên các tư liệu, thường thấy ghi ngày sinh: 07-9-1920, và nhà văn cũng không buồn đính chính. Nhân kỷ niệm 90 năm ngày sinh nhà văn Tô Hoài, Sông Hương nhận được bài viết của nhà văn Đặng Tiến cùng thông tin về ngày sinh Tô Hoài nói trên. Xin giới thiệu cùng bạn đọc.
HOÀNG DŨNGKhông phải ngẫu nhiên khi ta nói vũ trụ, thế giới thì vũ, giới là không gian, mà trụ, thế là thời gian. Ngay trong những khái niệm tưởng chỉ là không gian, cũng đã có thời gian quấn quýt ở đấy.
LTS: Trong các ngày 7-9/9/2010 sắp đến, Ủy ban Văn hóa Hội đồng Giám mục Việt Nam và Tòa Tổng Giám mục Giáo phận Huế sẽ tổ chức Hội thảo về thân thế và sự nghiệp của Léopold Cadière (1869-1955), Nhà nghiên cứu về Huế và Việt Nam học, chủ bút của tập san Bulletin des Amis du Vieux Hué (B.A.V.H), một trong số các tờ báo hay nhất ở Đông Dương thuở trước. Hội thảo sẽ có một số nội dung liên quan đến văn hóa Huế như Văn hóa Huế, Mỹ thuật Huế, Cổ vật Huế dưới con mắt của L. Cadière... Nhân dịp này, Tạp chí Sông Hương đăng bài viết của nhà nghiên cứu Hồ Vĩnh, chuyển tải vài nét về hoạt động văn hóa của Léopold Cadière. Xin giới thiệu cùng bạn đọc.S.H
NGUYỄN THỊ HÒA Không cần phải bàn cãi, Từ điển tiếng Huế của Tiến sĩ, Bác sĩ Bùi Minh Đức là một tác phẩm Từ điển. Một quyển từ điển về phương ngữ địa phương Huế mà dày dặn, công phu, với 2050 trang, thể hiện công sức nghiên cứu miệt mài của một vị bác sĩ - nghiệp dư với nghề ngôn ngữ, nhưng đầy nhiệt tình và khá chuyên nghiệp trong nghiên cứu.
Sinh ngày 6-2-41 tại Huế. Hy sinh ngày 11-10-68 tại vùng biên giới tỉnh Tây Ninh, nguyên quán làng Bát Tràng tỉnh Bắc Ninh. Học sinh cũ Trường Quốc Học, tốt nghiệp Đại học Sư phạm Ban Việt văn. Tên thật và bút hiệu công khai, chính thức: Trần Quang Long. Các bút hiệu khác: Thảo Nguyên, Chánh Sử, Trần Hoàng Phong.
TRẦN HỮU LỤCỞ tuổi 20, hành trình sáng tác của Nhóm Việt gắn liền với những biến cố lịch sử ở miền Nam (1965-1975). Những cây bút trẻ của Nhóm Việt đã bày tỏ một thái độ dấn thân ngày càng sâu sắc, vừa trên bình diện ý thức công dân, vừa trên bình diện ý thức nghệ sĩ.
PHONG LÊ(Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Nguyễn Tuân 10-7-1910 – 28-7-1987)