Nằm bên bờ Sông Hương, một ngôi trường cổ kính, không gian rộng rãi và thoáng mát, kiến trúc đẹp, có truyền thống vẻ vang nhất nước ta. Từ ngày thành lập đến nay, Quốc học Huế luôn là điểm hội tụ, đào tạo nhiều nhân tài cho đất nước…
Cách đây 117 năm, ngày 17/9 năm Thành Thái thứ 8 (tức ngày 23/10/1896) trường được thành lập theo chỉ dụ của nhà vua yêu nước Thành Thái. Trường Quốc học thời đó là trường chính của toàn xứ Trung kỳ với 4 lớp tiểu học và 4 lớp trung học. Tuy là trường chính của toàn xứ, mà chỉ là hai dãy nhà tranh sơ sài. Nếu trước cổng không có tấm biển chạm sơn son thếp vàng 6 chữ Hán “Pháp tự Quốc học trường môn” thì không ai biết đó là trường học. Nhận xét ấy đâu phải là quá đối với hai căn nhà xiêu vẹo, dựng trên khu sân lầy lội. Nhà tranh, vách đất, mái rạ lợp cẩu thả, mà thời tiết Huế lại mưa nắng bất thường nên ngày mưa, cũng như ngày nắng cả thầy và trò phải đội nón trong lớp. Đến năm 1914, Trường Quốc học được xây dựng bằng gạch ngói, khánh thành vào năm 1918 và tồn tại đến nay.
Trải qua những năm tháng theo lịch sử dân tộc, thực hiện các mục tiêu đào tạo khác nhau, nhưng truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo, tình bạn nghĩa thầy, học để làm người… vẫn được giữ gìn phát huy cao độ. Lịch sử của trường gắn liền với bao thế hệ thầy cô giáo, nhiều người đã nêu những tấm gương sáng về lòng yêu nước, ý chí chống ngoại xâm từ trên bục giảng của học đường, trên chính trường của xã hội, đó là các thầy Lê Văn Miên, Hoàng Thông, Võ Liêm Sơn, Lê Viết Lượng, Đặng Thai Mai, Nguyễn Đóa, Ngô Kha.
117 tuổi, Trường Quốc học Huế với bao kỉ niệm và thay đổi, nhưng có một kỉ niệm thiêng liêng nhất của nhà trường là những năm tháng Bác Hồ học ở mái trường này. Mùa Hè năm 1907, học trò Nguyễn Sinh Cung vào học năm thứ nhất Trường Quốc học Huế. Mặc dù với những điều kiện học tập cũng như đời sống gia đình khó khăn, thiếu thốn, nhưng suốt thời gian học ở Trường Quốc học, cậu Cung luôn là học sinh xuất sắc. Trong cuốn lịch sử của trường ghi: “Học ở Trường Quốc học, Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Sinh Cung) học đều khá các môn. Hán văn thì không ai bì kịp, Pháp văn thì vững vàng hơn bất kì một học sinh Nghệ Tĩnh nào khác. Bạn bè rất khâm phục trí nhớ phi thường của Nguyễn Tất Thành. Mỗi lần thầy giáo viết bài học thuộc lòng lên bảng, các bạn chép vào vở chưa xong Nguyễn Tất Thành đã thuộc lòng rồi. Nhiều bài làm của Nguyễn Tất Thành được các thầy giáo khen trước lớp. Thầy giáo Quel gec đã nói về Nguyễn Tất Thành: “Cung làm bài luận bằng thơ, ấy là một học sinh thông minh và thật đặc biệt”. Một thầy giáo người Pháp khác đã nhận xét về Nguyễn Sinh Cung: “Con người này nếu không thiên hướng cách mạng thì có thể trở thành một nhà văn hay một nhà bác học lớn”. Năm 1908 phong trào Duy Tân chống sưu thuế bùng nổ khắp miền Trung, nhất là ở Huế, nơi có tòa Khâm sứ của thực dân Pháp. Dân chúng 6 huyện ồ ạt kéo nhau lên Huế chật đường, chật chợ, đâu đâu cũng vang lên những khẩu hiệu đòi giảm xâu, giảm thuế. Nguyễn Sinh Cung tích cực tham gia vào phong trào đấu tranh này. Tháng 4/1909, người thanh niên yêu nước Nguyễn Sinh Cung quyết tâm rời ghế nhà trường ra đi tìm đường cứu nước.
Trường Quốc học Huế thành sân ga đưa Người đi học làm cách mạng và đón Người về hoạt động bí mật. Những hạt giống đỏ gieo trên đất Kinh đô Huế thành hàng cây, rừng cây tươi xanh của giai cấp vô sản. Những học trò xuất sắc trở thành niềm tự hào của trường như: Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Trần Phú, các đồng chí Hà Huy Tập, Nguyễn Chí Diểu, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Tố Hữu… Trong bài bút kí: “Những kỉ niệm về Huế”, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: “Tại Trường Quốc học Huế, tuổi niên thiếu của tôi đã đến với bình minh của thời đại. Thời đại của dân tộc ta, nhân dân ta và đứng lên đấu tranh và đấu tranh thắng lợi vì độc lập tự do, vì CNXH.
Trường Quốc học Huế có nhiều học trò trở thành những nhà khoa học, những học giả, văn nghệ sĩ có tiếng ở trong nước và thế giới như Giáo sư, bác sĩ Tôn Thất Tùng; Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn; Giáo sư, bác sĩ Đặng Văn Ngữ; Nhà giáo nhân dân Nguyễn Cảnh Toàn, Ngụy Như Kon Tum, Đặng Xuân Lâm, Nguyễn Lân… Ngày nay, thầy trò Trường Quốc học Huế đang nối tiếp mạch chảy vẻ vang ấy, trở thành một trong ba trường học phổ thông chất lượng cao trong cả nước. Đây là những mẫu hình tiên tiến của bậc trung học phổ thông trong đó chất lượng đào tạo được đặt lên hàng đầu, để từng bước nâng cao chất lượng giáo dục, hòa nhập với cộng đồng khu vực và quốc tế.
Theo nguoicaotuoi.org.vn
Tải mã QRCode
Là món ăn có cái tên khiến nhiều người phải ngẩn ra vì nghe quá lạ, canh chột nưa chinh phục thực khách bởi hương vị đậm chất quê và cái tình của người dân Huế.
SHO - Sáng ngày 21/2 (14 Tháng Giêng năm Bính Thân), Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế đã tổ chức chuyến đi Viếng mộ thi nhân tại các nghĩa trang trên địa bàn thành phố Huế tưởng nhớ các văn nghệ sĩ đã khuất . Đây là năm thứ tám văn nghệ sĩ Cố đô Huế tổ chức đi viếng mộ thi nhân vào dịp Tết Nguyên tiêu.
Không biết có tự bao giờ mà hoa tre là lễ vật không thể thiếu trong lễ "cúng bổn mạng" đầu năm của mỗi gia đình xứ Huế. Nội tôi kể rằng: Thuở xưa khi chưa có "ông tổ" khai sinh ra loại hoa tre thì người ta "cúng bổn mạng" bằng hoa thọ. Hoa thọ mang ý nghĩa trường tồn, cầu mong được sống lâu để sum vầy cùng con cháu.
Là kinh đô xưa cổ còn được lưu giữ gần như toàn vẹn nhất cho đến bây giờ, Tết ở Huế tượng trưng cho sợi dây liên kết giữa quá khứ và hiện tại.
Cặp rắn này chỉ xuất hiện tại chùa vào các ngày sóc vọng (các ngày 1, 15, 30 hàng tháng) và trú lại qua đêm trong hang cây da cổ thụ rồi lặng lẽ bỏ đi. Thấy chuyện lạ, một số người cho rằng đây là đôi rắn “có chân tu” nên mới về chùa để “nghe giảng giải kinh Phật”...
Bấy lâu nay, nhiều người dân, du khách vẫn thường nhắc đến con rùa khổng lồ thi thoảng xuất hiện trên dòng sông Hương, đoạn trước mặt điện Hòn Chén (thuộc thôn Ngọc Hồ, phường Hương Hồ, thị xã Hương Trà, Thừa Thiên – Huế). Người dân địa phương gọi đó là “rùa thần”.
Có thể nói, trong số hàng trăm sản phẩm bằng tre của các nghệ nhân làng Bao La (xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế) tạo nên, chúng tôi ấn tượng nhất là đèn lồng các loại. Từ đèn ú, đèn lục giác, bát giác… Tuy khác nhau về mẫu mã, hình dáng nhưng tất cả đều chan chứa tâm tình, gửi gắm “cái hồn” của làng nghề nơi đây.
Bên cạnh lớp nghệ nhân "vàng", lớp những nghệ sỹ "măng non" - nghệ sỹ trẻ là thế hệ mới sẽ đồng hành cùng nghệ thuật Ca Huế trên con đường phát huy giá trị di sản này ra cộng đồng, tiến tới hội nhập di sản quốc tế. Do đó, việc làm sao để truyền lại vẹn nguyên bản sắc, đúng cái "chất" của Ca Huế cho lớp nghệ sỹ trẻ kế tục cũng đang là vấn đề được các ban, ngành quan tâm.
Chuyên đề trọng điểm của số báo này, dành nhiều trang về Hoàng Phủ Ngọc Tường - nhà văn, nhà văn hóa Huế. Những trang văn của ông, như chiếc đũa thần, thức dậy những vỉa tầng văn hóa Huế. Một điều khác, ông cùng bạn bè thuở ấy, với một hệ mỹ cảm khác biệt, đã tạc vào văn nghệ Huế, Việt Nam những giá trị trường cửu.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Với những giá trị mà cổ vật cung đình Huế vốn có, và với “quê hương” nó được sinh ra, cố đô Huế xứng đáng đón nhận lại những cổ vật quan trọng một thời của cha ông.
Tại Huế, toàn bộ các ấn quý bằng vàng, bạc, ngọc hay còn gọi là Kim Ngọc Bảo Tỷ đến nay không còn một chiếc nào. Có lẽ thật sự đây là điều đáng tiếc nhất khi xuất xứ những chiếc ấn quý đó đều từ Huế mà ra.
Những biến cố của lịch sử đã khiến cho một lượng cổ vật lớn và quý hiếm đã “biến mất” khỏi cố đô Huế. Hãy cùng lật lại những điểm mốc ấy.
Triều đại phong kiến vua Nguyễn cuối cùng tại Huế đã trải qua với bao biến cố lịch sử. Hàng vạn cổ vật quý hiếm đi cùng triều đại này hiện đã mất mát quá nhiều, không còn “ở lại” được trên mảnh đất nó đã từng tồn tại.
Hai đồng tiền cổ quý hiếm là loại tiền dùng để ban thưởng chứ không dùng để trao đổi, mua bán có tên là “Gia Long thông bảo” và “Minh Mạng thông bảo” với kích thước rất lớn vừa được một người dân ở Quảng Bình lần đầu phát hiện.
Với một di sản văn hoá vật thể và tinh thần mang ý nghĩa quốc hồn quốc tuý của dân tộc, Huế là một hiện tượng văn hoá độc đáo của Việt Nam và thế giới.
Huế từ lâu đã là một trung tâm văn hóa, du lịch của cả nước. Festival văn hóa nghệ thuật kết hợp với du lịch đã tạo cú hích cho thế mạnh đặc thù của quần thể di tích cố đô Huế - được công nhận là di sản thế giới vào năm 1993, từ đó tạo diện mạo cho Huế có sự phát triển mới, mạnh mẽ hơn.
Lọng là sản phẩm độc đáo được dùng để tôn vinh sự trang trọng, quý phái trong các nghi lễ của triều đình xưa, cũng như trong các lễ nghi cúng tế mang đậm tín ngưỡng dân gian. Từ đám rước thần linh, đám tang, lễ cưới, hỏi… đều có sự hiện diện của chiếc lọng.
Trong kiến trúc xưa, có lẽ không nơi nào có nhiều bức bình phong như ở Huế. Khắp các cung đình, phủ đệ, đến các đền chùa, am miếu, đình làng, nhà thờ họ và nhà thường dân…đều hiện hữu những bức bình phong.
Võ tướng Nguyễn Tri Phương đã dành cả đời ông trong công cuộc giữ yên bờ cõi và chống ngoại xâm trải qua ba đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Khi Hà thành thất thủ vào tay quân Pháp, ông đã nhịn đói cho đến chết.